Quảng bá du lịch di sản bền vững

Các khu di sản thế giới tại miền Trung được quảng bá bền vững sẽ tạo điều kiện cho ngành du lịch khu vực phát triển.

Gắn kết các di sản thế giới

Được triển khai từ tháng 5.2012, dự án quảng bá các di sản thế giới tại miền Trung nhằm mục tiêu tạo ra sự gắn kết và tăng cường phối hợp giữa các khu di sản thế giới phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và tổ hợp di sản Cố đô Huế. Thông qua Văn phòng UNESCO Hà Nội và Ủy ban quốc gia (UBQG) UNESCO Hàn Quốc, Hãng hàng không Asiana đã tài trợ kinh phí cho việc thực hiện quảng bá các khu di sản tại miền Trung và dự án lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng công cộng sử dụng năng lượng mặt trời. “Đây là một câu chuyện thành công về sự hợp tác công – tư hướng tới tăng cường đóng góp của di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Các hoạt động và thành công của dự án này có tiềm năng lớn sẽ được áp dụng tại các khu được bảo vệ khác trên cả nước nhằm quảng bá du lịch bền vững”, bà Katherine Muller, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nhìn nhận.

Quảng bá du lịch di sản bền vững
Khánh thành hệ thống đèn năng lượng mặt trời tại Hội An – Ảnh: Hoàng Sơn

Theo ông Trần Minh Cả, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, việc tăng cường quảng bá giá trị của các khu di sản là một cách làm hết sức sáng tạo. Điển hình là ấn phẩm di sản thế giới Mỹ Sơn và cung cấp thông tin kết nối giữa 4 khu di sản, gồm: phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn, quần thể di tích Cố đô Huế và di sản Phong Nha – Kẻ Bàng trong một hành trình di sản chung. “Điều này tạo nên ấn tượng về cụm điểm đến di sản miền Trung hấp dẫn, giàu giá trị văn hóa, lịch sử. Qua đó, thu hút sự ủng hộ của công chúng với các khu di sản thế giới”, ông Cả nói.

 

Hội An – 1 trong 10 điểm đến tốt nhất của châu Á

Ông Trần Minh Cả, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, năm 2012, tỉnh này đã đón hơn 2,8 triệu lượt khách, thu nhập du lịch đạt 3.235 tỉ đồng, tăng gần 30% so với năm 2011. Năm 2012 cũng là năm Tạp chí Wanderlust của Anh với hơn 100.000 người ở 112 quốc gia bình chọn Hội An là thành phố được yêu thích nhất trên thế giới; Tạp chí du lịch Code Nast Traveler của Mỹ bình chọn phố cổ Hội An vào danh sách 10 thành phố du lịch tốt nhất châu Á. Nhiều năm liền, Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn Hội An là 1 trong 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất châu Á.

 

Một năm qua, dự án đã góp phần cải thiện việc cung cấp thông tin về di sản, quảng bá và thúc đẩy sự kết nối giữa 4 di sản tại miền Trung. Trong đó, sự ra đời ấn phẩm được thiết kế theo hình viên gạch Chămpa với những trang sách được cắt lượn phỏng theo địa hình khu Mỹ Sơn, quảng bá cho khu di tích này được đánh giá cao. Ước tính, nếu 5% du khách đến khu Thánh địa mua cuốn sách này, mỗi năm đơn vị quản lý sẽ có lợi nhuận trên 50.000 USD; tạo nguồn thu để tái đầu tư. Bên cạnh đó, một ấn phẩm chung chuyển tải những giá trị văn hóa, tự nhiên nổi bật kết nối giữa 4 khu di sản miền Trung đã được phát hành.

Cam kết quảng bá bền vững

Theo ông Đào Quang Thu, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư, dự án quảng bá du lịch bền vững tại các khu di sản thế giới miền trung Việt Nam là dự án thể hiện tính nghiêm túc và niềm tin của Tập đoàn Kumho Asiana (Hàn Quốc) đối với thị trường. Đến nay, Tập đoàn Kumho Asiana đã đầu tư hơn 500 triệu USD vào Việt Nam, Asiana Airlines là hãng hàng không quốc tế vận hành nhiều chuyến bay nhất từ nước ngoài đến Việt Nam.

Tổng giám đốc Hãng hàng không Asiana Yoon Yong Do cho rằng, dự án này là một điển hình tích cực trên toàn thế giới cho mối hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế. “Tôi cho rằng, ý nghĩa dự án to lớn đó là hoạt động thân thiện với môi trường. Chúng tôi cam kết sẽ đồng hành với những người bạn giữ gìn trái đất xanh…”, ông Yoon Yong Do nói. Ông Lim Huyn Mok, Phó tổng thư ký UBQG UNESCO Hàn Quốc nói: “UBQG UNESCO Hàn Quốc chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa để hỗ trợ cải thiện cấu trúc hạ tầng cho các khu di sản văn hóa UNESCO, đưa lợi ích đến cho chính người dân tại khu vực có di sản”. UNESCO cam kết hỗ trợ việc quảng bá các giá trị di sản và phát triển bền vững tại Việt Nam và kết quả của dự án là một ví dụ, là bước đi đầu tiên nhằm cam kết vững chắc cho mối quan hệ đối tác trong việc quảng bá.

Phía tỉnh Quảng Nam yêu cầu các cơ quan quản lý di sản tiếp tục thực hiện việc duy trì kết quả của dự án, đồng thời tỉnh sẽ có các giải pháp và nguồn lực để triển khai các công việc tiếp theo. Ông Đinh Hài, Giám đốc Sở VH-TT-DL Quảng Nam cho biết thêm, thời gian tới, nếu vận động được sự tài trợ cùng các nguồn lực khác, sở này sẽ nhân rộng thành quả của dự án, như: ấn phẩm tư vấn du khách, trung tâm thông tin du khách… ra các điểm tham quan khác để phát triển du lịch.

 

Sử dụng năng lượng xanh tại các khu di sản

Trong khuôn khổ của chương trình hỗ trợ các di sản văn hóa thế giới tại khu vực miền Trung, tại TP.Hội An, Hãng hàng không Asiana vừa tổ chức lễ khánh thành dự án lắp đặt hệ thống đèn năng lượng mặt trời tại khu vực phố cổ. Việc lắp đặt hệ thống này được xem là tiên phong trong việc sử dụng năng lượng xanh tại các khu di sản thế giới.

 

Hoàng Sơn

11.000 tỷ đồng phát triển du lịch đường sông ở TP HCM

Xây dựng, cải tạo hàng loạt cầu tàu, nhà chờ bến đỗ, tổ chức các sự kiện văn hóa… với tổng số vốn 11.000 tỷ đồng, TP HCM đặt mục tiêu đến năm 2020, du lịch đường sông sẽ là sản phẩm chủ lực của thành phố.

Với lợi thế khoảng 1.000 km sông, kênh, rạch có chức năng đường thủy nội địa và hàng hải, TP HCM có một vị trí chiến lược trong phát triển du lịch đường thủy. Từ trung tâm thành phố có thể kết nối với tất cả 4 hướng Đông – Tây – Nam – Bắc và liên kết trực tiếp với tất cả các vùng kinh tế trọng điểm của khu vực.

Theo đánh giá của Sở Giao thông Vận tải TP HCM, trong những năm qua, lượng khách gia tăng mỗi năm trong hoạt động du lịch đường thủy, nhất là tuyến có cự ly trung như Bến Bạch Đằng – Củ Chi… Tuy nhiên, sự phát triển của ngành du lịch này vẫn chưa tương xứng với lợi thế và tiềm năng hiện có bởi hệ thống cầu tàu, nhà chờ, bến đậu trên các tuyến thiếu, kém chất lượng chưa đạt tiêu chuẩn du lịch.

TP HCM có lợi thế rất lớn để phát triển du lịch đường sông với khoảng 1.000 km sông, kênh, rạch… Ảnh: H.C.

Vì vậy, để du lịch đường sông trở thành ngành mũi nhọn, các sở ngành liên quan đã soạn thảo “Chiến lược phát triển du lịch đường sông TP HCM giai đoạn 2013-2015 và định hướng đến năm 2020” với tổng vốn đầu tư khoảng 1.000 tỷ đồng ngân sách cùng với nguồn xã hội hóa khoảng 10.000 tỷ đồng.

Theo dự thảo, thành phố dự kiến sẽ đẩy tốc độ tăng trưởng bình quân về khách du lịch đường sông mỗi năm khoảng 20%; doanh thu tăng mỗi năm 30%… Đến năm 2020 du lịch đường sông trở thành sản phẩm du lịch chủ lực.

Kế hoạch từ nay đến năm 2015, thành phố sẽ cải tạo và xây 50 bến đón tàu, cầu tàu và kết nối đường bộ tới các điểm tham quan; phát triển 65 điểm tham quan du lịch tại các quận huyện có tuyến du lịch sông; xây dựng 3 điểm du lịch cộng đồng tại các huyện Củ Chi, Cần Giờ, quận 9.

Dự kiến trong tháng 5 này, TP HCM sẽ giới thiệu 7 tour du lịch đường sông, là các tour xuất phát từ bến Bạch Đằng (quận 1) đến các điểm tham quan ở Bình Quới, Củ Chi, nhà vườn Long Phước ở quận 9… TP HCM cũng sẽ tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch gắn với sông nước hàng năm tại khu vực bến Bạch Đằng – bến Nhà Rồng – cầu Mống và phát triển loại hình du lịch thể thao dưới nước, nghỉ dưỡng, chữa bệnh tại Cần Giờ, Củ Chi và quận 9.

Hiện UBND thành phố đã giao cho Tổng công ty du lịch Sài Gòn nghiên cứu mở tuyến du lịch tham quan cảnh trí sông nước từ trung tâm thành phố đến các chùa cổ ở quận 5, quận 6, đồng thời mở các tuyến du lịch từ trung tâm đi kênh Bến Nghé, Tàu Hủ ra kênh Tẻ về các tỉnh miền Tây.

Hữu Nguyên

Ẩm thực Việt có giúp xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam?

Một quốc gia có ngành du lịch phát triển thì đều có một thương hiệu nổi tiếng để định vị trên bản đồ du lịch thế giới. Việt Nam có nhiều tiềm năng song chưa có một thương hiệu nào cụ thể cho ngành du lịch. Với văn hóa ẩm thực nổi tiếng thế giới liệu ẩm thực có thể giúp xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam?

 

Ẩm thực Việt tinh tế về trang trí, cầu kỳ trong chế biến…

Còn nhớ vài năm trước đây, trong một cuộc hội thảo maketing diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Philp Kotler người được coi là một trong những nhà sáng lập trường phái maketing hiện đại của thế giới đã từng có gợi ý khuyên “Việt Nam nên trở thành bếp ăn của thế giới”. Và trong cuộc hội thảo mới đây do Bộ VHTTDL tổ chức để lấy ý kiến các doanh nghiệp du lịch phục vụ công tác quản lý nhà nước, đã có không ít các doanh nghiệp đề cập đến việc cần xây dựng một thương hiệu du lịch cụ thể cho Việt Nam. Ông Quốc Kỳ – Tổng giám đốc Công ty Du lịch VietTravel có ý kiến tại cuộc hội thảo nên có chương trình cụ thể nghiên cứu về khả năng cung cấp, phát triển của ẩm thực Việt để từ đó xây dựng thương hiệu cho ngành du lịch theo lời khuyên của các chuyên gia . Quả thật nếu nhìn sang các nước có ngành du lịch phát triển thì thấy họ đều có một thương hiệu du lịch vững mạnh.

 

Ẩm thực Việt Nam liệu có giúp chúng ta xây dựng thương hiệu cho ngành du lịch Việt?

 

 

Chẳng nói đâu xa, chỉ cần nhìn ngay các nước trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc sẽ thấy rõ điều đó. Nói đến Nhật Bản người ta nghĩ ngay đến một đất nước với văn hóa khác biệt mà không có quốc gia nào trên thế giới có nét tương đồng. Văn hóa mang đậm chất của các Samurai, của tinh thần quả cảm, lòng tự tôn dân tộc. Nói đến Nhật Bản người ta nghĩ đến ngay ẩm thực Nhật đã khiến cả thế giới phải say lòng, đơn giản nhưng vô cùng tinh tế và là đỉnh cao của nghệ thuật. Là một trong những quốc gia có lịch sử và văn hóa lâu đời nhất trên thế giới, Trung Quốc tập trung vào việc quảng bá thương hiệu du lịch qua các bộ phim kiếm hiệp, phim lịch sử. Thông qua các bộ phim được xuất khẩu đi toàn thế giới, người ta biết đến phong cảnh, non nước đẹp mê hồn của Trung Quốc, qua những bộ phim lịch sử người ta tò mò với những bí ẩn, những con người và những câu truyện xây dựng nên những trang sử hùng hồn không chỉ của đất nước Trung Hoa mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ khu vực Châu Á. Cũng có nét ẩm thực rất nổi tiếng nhưng Trung Quốc không tập trung xây dựng thương hiệu ẩm thực mà lại chọn con đường quảng bá lịch sử, văn hóa và đặc biệt là những di sản đã được cả thế giới công nhận của quốc gia mình. Đây là một lựa chọn rất đúng đắn bởi Trung Quốc có diện tích rộng lớn vào loại nhất nhì thế giới với nhiều thắng cảnh, di tích đẹp và thêm hơn 40 di sản đã được Unesco công nhận, 1 kỳ quan thế giới. Còn Hàn Quốc, dù cũng có ẩm thực Hàn rất riêng biệt, có văn hóa truyền thống độc đáo với Hanbok, với các điệu múa dân gian với những khúc ca Ariang nổi tiếng nhưng Hàn Quốc lại xây dựng thương hiệu du lịch Hàn thông qua làn sóng Hallyu. Mặc dù, làn sóng Hallyu được giới thiệu quá phim ảnh, qua Kpop, cũng là cách gián tiếp giới thiệu nét đặc trưng của văn hóa Hàn như ẩm thực, trang phục, phong tục truyền thống… và cuộc sống hàng ngày của người dân xứ sở Kim Chi song cách lựa chọn để xây dựng hoàn toàn không trùng lập với bất kỳ quốc gia nào.

 

Phở bò, bún ốc..2 trong số nhiều món đặc sản của Hà Nội

 

 

Trở lại Việt Nam, với lịch sử hơn 4000 năm, cũng có những đặc trưng văn hóa mà ít quốc nào có được. Chúng ta cũng có nhiều di tích văn hóa, thắng cảnh đẹp với 1 kỳ quan thiên nhiên thế giới và 17 Di sản được Unesco công nhận. Thế nhưng nếu muốn xây dựng thương hiệu du lịch theo cách của Trung Quốc nghĩa là quảng bá cảnh đẹp, lịch sử qua việc xuất khẩu phim thì chúng ta không thể bởi Việt Nam chưa có ngành công nghiệp điện ảnh. Tạo một làn sóng hallyu như của Hàn Quốc lại càng là điều xa vời. Còn Nhật Bản – vốn là một quốc gia chiến tranh liên miên và đứng lên trở thành một trong những cường quốc phát triển nhất thế giới từ trong đau thương. Bởi vậy tinh thần tự cường, tinh thần chiến đấu như những chiến binh Samurai của Nhật về cơ bản được cả thế giới biết đến. Còn chúng ta vẫn là một nước đang phát triển và cần quá nhiều sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế vì vậy việc để thế giới biết đên một ý chí kiên cương, một nét văn hóa như samurai là điều không dễ. Nếu xét như vậy sẽ thấy lời khuyên của Philp Kotler không phải là một lời nói thiếu cơ sở, mang tính ngẫu nhiên.

 

Bánh ít, bánh tráng…nét riêng của ẩm thực Huế

 

 

Ẩm thực Việt Nam rất nổi tiếng trên thế giới và được các chuyên gia ẩm thực đánh giá cao. Món ăn của Việt Nam ít dầu, mỡ hơn của Trung Quốc, ít cay hơn của Thái Lan hay Hàn Quốc, ít thịt hơn các món ăn Châu Âu và luôn được chế biến cầu kỳ, cẩn thận đảm bảo dễ tiêu hóa sau khi ăn. Trong chế biến cũng như trang trí kết hợp gia vị cho các món ăn ứng dụng nguyên lý điều hòa Âm – Dương. Bên cạnh đó món ăn Việt Nam còn có tác dụng chữa bệnh…Nguyên liệu và thực phẩm chế biến các món ăn rất phong phú, đa dạng và đều là sản vật của thiên nhiên. Nền thương mại xuất khẩu thủy, hải sản của Việt Nam có uy tín trên thị trường quốc tế  Rau, củ, quả, hạt có quanh năm và có những đặc sản đặc trưng theo vùng miền. Gạo, cà phê của Việt Nam không những đã có thương hiệu mà chúng ta còn là quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu. Bên cạnh đó, những gia vị để tạo ra các món ăn ngon cũng rất đa dạng, từ các loại rau (thơm, húng, tía tô, hành…), các loại củ (gừng, riềng), các loại quả (thảo quả, me, xoài, cà chua,…) đến các loại nước chấm (tương, nước mắm,…) đã tạo ra tính độc đáo của món ăn Việt Nam. Mỗi miền, mỗi vùng quê có những món ăn đặc sản do quy trình chế biến và kết hợp gia vị để tạo ra món ăn độc đáo, hấp dẫn…

 

Chả giò, bánh canh cua…đặc sản ẩm thực miền Nam

 

 

Ẩm thực Việt ngày càng nổi tiếng trên thế giới, điều này được khẳng định bởi số lượng khách tham gia các fesival ẩm thực Việt Nam tổ chức tại nhiều quốc gia ngày càng lớn. Và tần suất tổ chức fesival ẩm thực của Việt Nam trên thị trường thế giới cũng đang gia tăng. Hơn 60% số lượng khách quốc tế khi được hỏi về món ăn Việt đều tỏ ra hài lòng và hứng thú. Nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam đã đánh giá “Việt Nam là thiên đường ẩm thực” với những món ăn đặc sắc, hương vị thơm ngon không thể quên ở mỗi điểm đến. Cái độc đáo là ba miền ở Việt Nam là ba thiên đường của ẩm thực với những món ăn rất riêng, hương vị đặc sắc mang đậm chất vùng miền.

Đến Hà Nội không du khách nào có thể quên hương vị của phở, bún riêu cua, bún ốc, bún thang, xôi gà, chả cá Lã Vọng, bánh tôm hồ Tây, bánh cốm, các món nem cuốn. Ẩm thực miền Trung hấp dẫn du khách bởi các món bánh, món chè xứ Huế, mỳ Quảng, cao lầu…còn vùng đất Nam Bộ lại đặc trưng bởi các món lẩu, nướng từ thủy, hải sản với các loại cây trái sẵn có.

 

Khu vực của âm thực Việt Nam tại một fesival ẩm thực quốc tế và du khách quốc tế đang thử món ăn của Việt Nam.

 

 

Người dân Việt Nam từ lâu đã không còn xa lạ với hình ảnh những người nước ngoài ngồi vỉa hè cầm đũa chỉ để thưởng thức một bát phở sáng hay bát bún ốc nóng khói nơi góc phố quen thuộc. Ngày càng nhiều đầu bếp nổi tiếng thế giới tìm đến Việt Nam vì mê hương vị món ăn Việt Nam, trong số đó có ông Didier Corlou người Pháp, bếp trưởng khách sạn Metropole Hà Nội rất thích dùng nước mắm để chế biến các món ăn. Ông cũng rất “mê” món phở của Việt Nam và đánh giá phở là một trong những món ăn ngon nhất thế giới, còn Hà Nội là một trong những thủ đô có nhiều món ăn ngon nhất thế giới. Ông Didier Corlou đã viết một cuốn sách giới thiệu các món ăn ngon nhất Việt Nam bằng tiếng Pháp để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Một số nhà nghiên cứu ẩm thực Việt Nam và nước ngoài đã nhận xét: “ các món ăn Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách bởi nguyên liệu chủ yếu là các loại rau, củ,quả, hạt, thủy, hải sản, không quá nhiều thịt như món Âu, ít dầu mỡ hơn các món Trung Quốc, ít cay hơn đồ ăn Thái Lan. Quan trọng hơn cả là các món đều nhiều rau xanh, trong trang trí và kết hợp gia vị đều hài hòa và có nước chấm riêng rất đặc trưng. Mỗi miền, mỗi vùng quê đều món ăn đặc sản, độc đáo, hấp dẫn. Rất nhiều nguyên liệu, gia vị món ăn của Việt Nam là cây thuốc có tác dụng chữa bệnh”.

Như vậy có thể thấy ẩm thực Việt hoàn toàn có thể giúp xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam, vấn đề chỉ là chúng ta có lựa chọn để xây dựng hình ảnh theo cách thức này và nếu có thì sẽ xây dựng một chiến lược hành động cụ thể như thế nào mà thôi.

Nguyễn Hương

 

Ứng xử văn hóa trong du lịch

6,8 triệu lượt khách quốc tế và 160.000 tỷ đồng cho du lịch trong năm 2012 là con số đáng ghi nhận trong bối cảnh kinh tế khó khăn chung. Tuy nhiên những gì du khách chưa hài lòng phần lớn lại nằm ở yếu tố con người – đó chính là ứng xử văn hóa .

 

Chèo kéo, xô đẩy, tranh giành khách là những hình ảnh thường thấy tại nhiều điểm du lịch Việt Nam. Du khách thường xuyên bị bủa vây bởi một đội quân đủ mọi thể loại từ ăn xin, móc túi, bán hàng rong cho tới đánh giầy, bán lưu niệm. Bất kể giờ giấc, có nhu cầu hay không, khách vẫn bị “ đè” ra để phục vụ.

Sự tăng trưởng khá ổn định của du lịch Việt Nam trong suốt 3 năm qua có thể coi là điểm sáng đáng ghi nhận trong bối cảnh khó khăn chung của nền kinh tế. Tuy nhiên theo đánh giá của nhiều chuyên gia, thì du lịch Việt Nam phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Trong một báo cáo đánh giá cạnh tranh về du lịch của Diễn đàn kinh tế thế giới thực hiện thì Việt Nam có thế mạnh về văn hóa, thiên nhiên, ẩm thực tuy nhiên lại bị đánh giá thấp về môi trường và cơ sở hạ tầng, dịch vụ.

 

Theo những số liệu khảo sát gần đây, trong suốt 5 năm qua, luôn có khoảng 80-85% số du khách nước ngoài được hỏi không muốn quay lại Việt Nam. Một phần do họ cảm thấy nhàm chán với những sản phẩm du lịch trùng lặp, tuy nhiên phần lớn là do những vấn nạn như: ăn xin, bán hàng rong, chèo kéo khách, chèn ép, tự ý nâng giá, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, môi trường và an toàn trong các điểm du lịch. Và cũng chưa bao giờ du khách được nghe nhiều đến cụm từ văn hóa du lịch.

 

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 11-2012 ước đạt gần 656.000 lượt khách, tăng 24,4 % so với tháng 10-2012 và tăng 7,2 % so với cùng kỳ năm 2011. Tổng lượt khách quốc tế đến Việt Nam trong 11 tháng vượt 6 triệu lượt, ước đạt gần 6.036.000 lượt khách, tăng 14,4 % so với cùng kỳ năm 2011, đạt 93% mục tiêu đón khách quốc tế của năm 2012. Rất nhiều du khách lẫn các nhà tổ chức lữ hành quốc tế đến Việt Nam đều phải thán phục trước những cảnh đẹp, nhưng cũng chỉ có 15% trong số đó quay lại lần thứ 2.

Công ty Viettravel cho biết, trung bình mỗi tháng họ có từ 5-7 khách Nhật Bản bị móc túi hoặc bị cướp giật đồ. Giao thông, môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm luôn là nỗi ám ảnh của khách quốc tế khi đến với Việt Nam. Chưa bao giờ người ta nhắc nhiều đến cụm từ văn hóa du lịch đến vậy. Vẻ đẹp thiên nhiên, di sản, sự phong phú của ẩm thực có thể hấp dẫn du khách tới Việt Nam khám phá. Nhưng liệu vẻ đẹp ấy có thực sự bất tận khi chỉ có 15% số du khách nước ngoài muốn quay lại Việt Nam lần hai.

Bên cạnh đó thì nạn chặt chém cũng là một hiện trạng đáng báo động của du lịch Việt Nam, thậm chí có những vụ khiến ai nghe thấy cũng phải giật mình, như vụ gánh hàng rong chém khách 1 triệu đồng cho 4 miếng dứa cộng với công chụp ảnh ở Hồ Gươm.

 

Mới đây, tờ TTR Weekly của Thái Lan đã đăng tải một bài viết có tiêu đề “Những bàn tay tàng hình ở phố cổ Hà Nội”, phản ánh tình trạng du khách quốc tế bị “đội quân” hàng rong móc túi tại đây.

Theo bài báo, do rào cản ngôn ngữ và sự tin tưởng từ khách du lịch, nhiều du khách nước ngoài đã bị những người bán hàng rong “khôn ngoan” lừa những khoản tiền lớn bằng rất nhiều cách thức khác nhau. Trong khi đó, những tên trộm lợi dụng sự đông đúc của các đường phố để hoành hành. Những hiện tượng này làm tổn hại đến danh tiếng của du lịch Hà Nội trong con mắt quốc tế, khiến chính quyền thành phố Hà Nội phải đưa ra những giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn. Bài báo cũng nêu ra các mánh lới phổ biến của những người bán hàng rong ở phố cổ để du khách nước ngoài cảnh giác khi đến Hà Nội.

Theo ông Ian-Lyne, Trưởng nhóm tư vẫn chương trình năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội EU: “Cần phải có một dự án giáo dục cộng đồng, giáo dục cho những người bán hàng rong và người làm dịch vụ nhỏ để biết du lịch là gì, khách du lịch cần gì và quan trọng là giáo dục cho họ ý thức tự hào về đất nước và thành phố họ đang sống. Điều này phải làm tại tất cả các địa phương của Việt Nam”.
Đành rằng những người bán hàng rong hay làm dịch vụ du lịch nhỏ chủ yếu đến từ các vùng quê và có cuộc sống vô cùng khó khăn. Tất cả cũng chỉ vì mưu sinh. Tuy nhiên nếu cứ để tỉnh trạng như trên tiếp diễn thì hình ảnh du lịch Việt Nam sẽ đi đến đâu khi khách du lịch tiếp tục là nạn nhân của sự chèo kéo và chặt chém, thậm chí là móc túi.

Thời gian tới, Hiệp hội Du lịch Việt Nam chuẩn bị các biện pháp chấn chỉnh tình trạng lộn xộn, triển khai ký kết giữa các doanh nghiệp cam kết không vi phạm để đảm bảo chất lượng dịch vụ du lịch, có các hình thức phổ biến thông tin quảng bá, khuyến khích các cơ sở có chất lượng dịch vụ tốt. Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành lập đoàn kiểm tra liên ngành để nắm bắt diễn biến thực tiễn các hoạt động dịch vụ du lịch tại một số trung tâm du lịch thường xảy ra các vụ việc như tại Hạ Long, Hội An, Nha Trang, Vũng Tàu, đề xuất biện pháp xử lý dứt điểm các vụ việc.

Nhiều địa phương đã ban hành quyết định bình ổn giá, khung giá, giao Sở Tài chính cùng các cơ quan liên quan tổ chức nhiều đợt kiểm tra trước, trong và sau đợt cao điểm, yêu cầu các cơ sở lưu trú trên địa bàn không được tăng giá quá 50% so với mức giá ngày thường, có cam kết bình ổn giá và nâng cao chất lượng dịch vụ. Một số địa phương đã thành lập đường dây nóng để các tổ chức, công dân và khách du lịch phản ánh kịp thời những sai phạm về giá, chất lượng dịch vụ để các cơ quan quản lý có biện pháp xử lý kịp thời.

CN

10 món ăn Việt vừa nhìn… đã khóc thét

Ẩm thực Việt Nam nổi tiếng thế giới với những món ăn “kỳ cục”. Quả thực, có nhiều món ăn Việt Nam mà ngay cả người Việt cũng phải sợ.

1. Thắng cố Tây Bắc

Thắng cố Tây Bắc là một món ăn có nguyên liệu chính là thịt và nội tạng ngựa hoặc bò được đổ vào chảo lớn để xào lăn, sau đó đổ nước và ninh sôi sùng sục hàng tiếng đồng hồ. Đặc biệt là không cần phải sơ chế. Hình thức “hổ lốn” và và mùi hương đặc trưng của món ăn này có thể khiến người không quen “chạy mất dép”.

2. Thịt chuột

Thịt chuột là thức ăn được ưa chuộng tại nhiều địa phương ở Việt Nam. Nếu được chế biến kỹ lưỡng, trông chúng cũng khá ngon miệng. Dù vậy, những con chuột hấp nguyên con như thế này chắc chắn sẽ khiến khối người chết khiếp.

3. Đuông “lội sông” Nam Bộ

Bỏ một con sâu còn ngo ngoe vào miệng nhai rau ráu và nuốt chửng tưởng như là chuyện của thời… tiền sử. Nhưng đó là điều mà thực khách phải thực hiện nếu muốn thưởng thức món “đuông lội sông” của Nam Bộ.

4. Nặm pịa

Nặm pịa là một món ăn đặc trưng của người dân tộc Thái ở Tây Bắc Việt Nam. Trong món ăn này “pịa” là phân non nằm giữa đoạn dạ dày và ruột già của trâu, bò, dê, được lấy ra rồi nêm gia vị, cho thêm nội tạng các loài vật ăn cỏ bao gồm dạ dày, tiết, lòng, tim gan, phèo phổi thập cẩm phế lù đem ninh nhừ. Nó thường có màu sắc rất đặc trưng của… phân.

5. Nem thịt lợn sống

Nem thịt lợn sống là đặc sản của một ngôi làng ở tỉnh Thái Bình. Đây là một món mà không phải người Việt Nam nào cũng có dũng khí để nếm thử.

6. Óc khỉ sống


Óc khỉ sống là món ăn có nguồn gốc Trung Quốc, ngày nay được coi là một thứ cao lương mỹ vị dành cho các đại gia Việt Nam. Nó đã bị lên án vì sự tàn nhẫn khi sử dụng khỉ còn sống làm nguyên liệu chính cùng cách thức ăn ghê rợn: phạt ngang đỉnh đầu khỉ để lấy thìa xúc óc.

7. Món rươi

Không ít người Việt Nam thề không đụng đến món rươi – một đặc sản đồng bằng Bắc Bộ – vì trông chúng cứ như một đống… giun lúc nhúc.

8. Cá nóc

Hương vị của thịt cá nóc khiến thực khách như được lên thiên đường. Nhưng loài cá cực độc này cũng có thể tiễn người ăn xuống địa ngục nếu không được chế biến cẩn thận. Nếu còn quý trọng mạng sống của mình, tốt nhất là không nên ăn nó!

9. Rượu máu rắn

Rượu máu và tim rắn sống là đặc sản của làng Lệ Mật, Hà Nội. Đây thực sự là loại đồ uống ghê rợn với màu đỏ máu và cả một quả tim rắn còn đập bên trong. Chỉ các quý ông mới được uống và đủ can đảm để uống thứ rượu này.

10. Thằn lằn nhiều món

Thằn lằn nướng nguyên con là một món ăn quen thuộc ở miền quê Nam Bộ (nơi chúng được gọi là rắn mối). Nhưng phải đến hàng triệu người ở miền Bắc không nghĩ rằng có thể ăn được con vật này, vì trông chúng rất… kinh.

(Theo Kiến thức)

Du lịch có trách nhiệm

 Du lịch có trách nhiệm là một cách tiếp cận quản lý du lịch, nhằm tối đa hóa lợi ích kinh tế, xã hội, môi trường và giảm thiểu chi phí tới các điểm đến. Bản chất của loại hình du lịch này chứa đựng những đặc trưng của phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên nó mang tính phổ quát, định hướng cao hơn, thậm chí điều chỉnh tất cả các loại hình du lịch khác nhằm hướng đến mục tiêu phát triển hài hòa ngành du lịch, đem lại bình đẳng cho tất cả chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch; đồng thời góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ tạo dựng một môi trường lành mạnh.

Trải qua quá trình phát triển, các quốc gia đều bắt đầu hướng đến sự phát triển bền vững, trong đó có phát triển du lịch bền vững. Du lịch có trách nhiệm và du lịch bền vững có sự tương đồng về khái niệm và mục tiêu. Khái niệm du lịch bền vững ra đời từ năm 1992, tuy nhiên đối tượng và phương pháp thực hiện như thế nào vẫn là vấn đề luôn được đặt ra. Trước nhu cầu thực tế đó, khái niệm du lịch có trách nhiệm được đưa ra năm 2002 thể hiện cách thức tiến hành để thực sự hướng tới phát triển du lịch bền vững.

Du lịch có trách nhiệm là gì?

Du lịch có trách nhiệm giúp tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tính toàn vẹn môi trường, tạo sự công bằng xã hội, tăng cường lao động, phát huy các giá trị và tôn trọng văn hóa địa phương, tạo ra những sản phẩm du lịch có chất lượng, hàm lượng văn hóa và giá trị đạo đức cùng giá trị trải nghiệm cao hơn.

Du lịch có trách nhiệm tại các điểm đến được hiểu là việc hạn chế tối đa các tác động tiêu cực về kinh tế, môi trường và xã hội; tạo ra lợi ích kinh tế lớn hơn và nâng cao phúc lợi cho người dân địa phương, cải thiện điều kiện làm việc và tham gia vào hoạt động du lịch; khuyến khích người dân địa phương tham gia vào các quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ; đóng góp tích cực vào việc bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa nhằm duy trì một thế giới đa dạng; cung cấp những trải nghiệm thú vị cho du khách thông qua mối liên kết giữa khách du lịch và người dân địa phương, tạo hiểu biết về các vấn đề văn hóa, xã hội và môi trường tại địa phương; tạo cơ hội cho những người khuyết tật và có hoàn cảnh khó khăn; tôn trọng văn hóa địa phương, khuyến khích sự tôn trọng lẫn nhau giữa khách du lịch và người dân địa phương; tạo dựng niềm tin, lòng tự hào dân tộc cho cộng đồng.

Các loại hình và khái niệm liên quan đến du lịch có trách nhiệm

Du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững là đáp ứng các nhu cầu hiện tại trong khi vẫn bảo vệ và tăng cường cơ hội cho tương lai. Ba yếu tố cân bằng trong phát triển du lịch bền vững gồm: kinh tế, xã hội và môi trường.

Du lịch sinh thái

“Du lịch sinh thái là loại hình dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương” (Theo Luật Du lịch)

Du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng là hình thức du lịch tới các điểm đến tự nhiên, nơi có các nền văn hóa bản địa nhằm mang lại lợi ích cho người dân địa phương bằng cách giúp họ duy trì quyền tự ra quyết định về việc tổ chức du  lịch tại địa bàn sinh sống của họ.

Du lịch nông nghiệp

Là một loại hình của du lịch sinh thái và du lịch nông thôn, khuyến khích du khách trải nghiệm và tìm hiểu cuộc sống nông nghiệp của nông dân, ngư dân trong thời gian một ngày, qua đêm, hoặc dài ngày với các hoạt động như: trồng cà phê, nho, lúa hoặc bắt cá, tôm, cua…

Nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm

Trách nhiệm về kinh tế

– Khi phát triển các dự án du lịch, cần phải đánh giá tác động kinh tế, xác định rõ loại hình ưu tiên phát triển để mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương và giảm thiểu các tác động tiêu cực tới đời sống của họ.
– Tăng cường liên kết nhằm khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ hơn của các cộng đồng dân cư vào hoạt động du lịch.
– Chất lượng sản phẩm du lịch của điểm đến cần phải nêu bật được nét hấp dẫn đặc thù và chú trọng tới giá trị gia tăng.
– Xúc tiến quảng bá du lịch phải đảm bảo tôn trọng tính nguyên vẹn về văn hóa, kinh tế, tự nhiên và xã hội; khuyến khích phát triển các loại hình du lịch phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
– Tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, đưa ra giá cả hợp lý và xây dựng mối quan hệ kinh doanh chia sẻ trách nhiệm cả trong rủi ro và thành công; tuyển dụng và đào tạo nhân viên làm việc có tay nghề.
– Dành hỗ trợ đáng kể cho các doanh nghiệp vừa, nhỏ và rất nhỏ hoạt động trong các lĩnh vực liên quan tới du lịch bền vững.

Trách nhiệm về xã hội

– Tích cực thu hút cộng đồng dân cư địa phương tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và ra quyết định, nâng cao năng lực để họ hiện thực hóa các sáng kiến đề ra.
– Đánh giá tác động xã hội thông qua quá trình vận động dự án ngay từ khâu lập kế hoạch, thiết kế dự án nhằm giảm thiểu các tác động xã hội và tối đa hóa yếu tố tích cực.
– Đưa du lịch thành nhu cầu trải nghiệm chung của toàn xã hội nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi người, đặc biệt là những nhóm người và cá nhân dễ bị tổn thương và thiệt thòi.
– Ngăn chặn lạm dụng tình dục trong du lịch, đặc biệt đối với trẻ em.
– Giảm thiểu thiệt hại trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực; phát triển du lịch gắn chặt với mục tiêu vì người nghèo và hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo.
– Tôn trọng phong tục, tập quán của cư dân bản địa; bảo tồn và phát huy tính đa dạng về văn hóa và xã hội.
– Đảm bảo du lịch đóng góp đáng kể vào cải thiện y tế và giáo dục.

Trách nhiệm về môi trường

– Cần đánh giá tác động môi trường trong quá trình hoạch định và thiết kế dự án du lịch.
– Sử dụng tài nguyên hợp lý và bền vững, giảm chất thải và tiêu thụ quá mức tài nguyên và năng lượng.
– Quản lý đa dạng tự nhiên, sinh thái theo hướng bền vững; phục hồi những khu vực tài nguyên tự nhiên bị xâm hại và xác định rõ các loại hình du lịch gắn với môi trường để có hướng bảo vệ, bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái dễ bị phá hủy và các khu phòng hộ.
– Tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức cho mọi chủ thể về phát triển bền vững.
– Nâng cao năng lực về du lịch cho mọi chủ thể và tuân thủ những mô hình phát triển du lịch lành mạnh, hiệu quả nhất.

Các chủ thể chính trong thực hiện du lịch có trách nhiệm

Đối với cơ quan quản lý du lịch tại địa phương: xây dựng chính sách, chiến lược, quan điểm phát triển rõ ràng; phổ biến, tập huấn, phát tài liệu hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp và cộng đồng địa phương thực hiện theo các nguyên tắc có trách nhiệm; tổ chức các hội thảo, lớp đào tạo để nâng cao nhận thức và trao đổi kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hành; tuyên truyền, khuyến khích, tôn vinh các điển hình thực hiện du lịch có trách nhiệm…

Đối với doanh nghiệp lữ hành: tập trung xây dựng chính sách, chiến lược doanh nghiệp phù hợp với nguyên tắc có trách nhiệm; thu hút và đào tạo nguồn nhân lực; có chế độ khen thưởng đối với cán bộ nhân viên thực hiện các sáng kiến có trách nhiệm; thực hiện các nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm; xây dựng các sản phẩm du lịch có trách nhiệm; hướng dẫn du khách thực hiện du lịch có trách nhiệm; khuyến khích các hoạt động du lịch tình nguyện và các hoạt động mang tính trách nhiệm cao; xây dựng quỹ bảo vệ môi trường, quỹ phát triển cộng đồng…

Đối với khách sạn và cơ sở lưu trú du lịch: xây dựng chính sách, chiến lược doanh nghiệp; thu hút và đào tạo nhân lực; chế độ thưởng phạt hợp lý; hướng dẫn khách du lịch thực hiện du lịch có trách nhiệm; thực hiện các nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm, đặc biệt trong sử dụng nguồn năng lượng, nguồn nước…

Đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ khác: có chính sách quản lý, bảo vệ môi trường và hoạt động phát triển bền vững của các nhà hàng; tiết kiệm năng lượng và nước; sử dụng thực phẩm an toàn; xử lý và hạn chế chất thải; giảm thiểu ô nhiễm và sử dụng hóa chất thân thiện với môi trường; sử dụng nguyên vật liệu thân thiện với môi trường và bán sản phẩm xanh…

Đối với cộng đồng địa phương: cần có thái độ ứng xử thân thiện, tôn trọng và hỗ trợ khách du lịch trong quá trình tham quan, tìm hiểu tại địa phương; hiểu biết về nguồn tài nguyên cộng đồng đang sở hữu để bảo vệ và giới thiệu đến du khách; tham gia các hoạt động du lịch một cách có tổ chức, tránh tình trạng tự phát, gây lộn xộn, thiếu văn minh đô thị…

Đối với khách du lịch: tìm hiểu và tuân thủ các tập tục địa phương; lựa chọn các doanh nghiệp có quan điểm, tôn chỉ và hoạt động hướng đến sự bền vững và có trách nhiệm; có ý thức tiết kiệm năng lượng; sẵn sàng tham gia các hoạt động môi trường, ủng hộ phát triển kinh tế – xã hội địa phương; có ý thức bảo vệ môi trường, văn hóa bản địa…

Du lịch Việt Nam hiện đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt về việc quản lý, tổ chức hoạt động du lịch. Trước bối cảnh mới và xu hướng phát triển du lịch toàn cầu, ngành du lịch Việt Nam nhận thức rõ phát triển bền vững chính là xu thế tất yếu của thời đại. Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đã đề ra các giải pháp hướng đến việc thực hiện du lịch có trách nhiệm để đạt đến sự phát triển bền vững. Để hiện thực hóa mục tiêu này đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp liên quan. Phát triển du lịch có trách nhiệm sẽ tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển toàn diện của ngành du lịch Việt Nam trong tương lai.

Thúy Hằng – Phạm Phương

Sổ tay hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam

Trong bối cảnh du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển và nhận được nhiều sự quan tâm, cuốn “Sổ tay hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” ra đời sẽ giúp các nhà quản lý và điều hành du lịch sinh thái trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; giúp các đơn vị quản lý điểm du lịch hiểu biết đầy đủ hơn về các tiêu chí, qui trình và thủ tục hành chính để công nhận danh hiệu điểm du lịch sinh thái. Đây còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại các điểm du lịch, các nhà nghiên cứu, giáo viên, sinh viên ngành du lịch…

Tài liệu này được hoàn thành với sự hỗ trợ tài chính của Cơ quan hợp tác phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID) và chỉ đạo về chuyên môn của Tổng cục Du lịch (VNAT), Viện Nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam (ITDR) và Công ty Cổ phần Viện du lịch bền vững Việt Nam (ART VIET NAM). Nội dung cơ bản (tóm tắt) được đề cấp trong cuốn Sổ tay này:

Tổng quan về du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (DLST) là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững (Theo Điều 4, Chương I của Luật Du lịch).

Du lịch sinh thái cần đáp ứng ít nhất 2 trong 4 nguyên tắc sau:

1. Diễn ra trong các khu vực thiên nhiên được bảo vệ hay ít bị tác động, với những hệ sinh thái đặc sắc, tính đa dạng sinh học cao và tồn tại ít nhất một loài sinh vật quý hiếm, nguy cấp, có trong danh mục Sách Đỏ Việt Nam hoặc thế giới.

2. Gắn với mục đích bảo tồn, vì vậy thường được tổ chức cho các nhóm nhỏ; sử dụng cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật, phương tiện, tiện nghi quy mô nhỏ và thân thiện với môi trường; không làm thay đổi tính toàn vẹn và quá trình diễn tiến tự nhiên của hệ sinh thái hay không làm suy giảm đa dạng sinh học; khuyến khích các cơ chế tạo nguồn thu từ DLST và sử dụng chúng để đầu tư cho công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

3. Có tính giáo dục cao, không chỉ đối với du khách mà cả với ngành du lịch và cộng đồng địa phương.

4. Góp phần phát triển kinh tế địa phương, thu hút sự tham gia tích cực và đem lại lợi ích tối đa cho cộng đồng dân cư bản địa nơi diễn ra các hoạt động DLST.

Đa dạng sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó. Như vậy, đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:

1. Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm.

2. Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, các quần thể sống cách ly nhau về địa lý và các cá thể cùng chung sống trong một quần thể.

3. Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã, nơi các loài sinh sống và các hệ sinh thái nơi các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại, và sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.

Khu bảo tồn thiên nhiên là một vùng đất hay vùng biển chỉ dành cho mục đích bảo vệ và duy trì sự đa dạng sinh học, các tài nguyên tự nhiên và văn hóa kèm theo, và được quản lý bởi các công cụ pháp lý hay tương đương khác. Có 6 nhóm khu bảo tồn thiên nhiên gồm:

1. Khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu dự trữ nghiêm ngặt và khu thiên nhiên hoang dã

2. Khu bảo tồn và bảo vệ hệ sinh thái

3. Khu bảo tồn các đặc điểm thiên nhiên

4. Khu bảo tồn bằng biện pháp quản lý tích cực

5. Khu bảo tồn cảnh quan và giải trí

6. Khu sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường.

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.

Khu du lịch sinh thái là một đơn vị lãnh thổ có quy mô nhất định, có hoặc tổ chức khai thác tài nguyên du lịch sinh thái, có định hướng, quy hoạch phát triển, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp để phát triển du lịch sinh thái, thỏa mãn được nhu cầu chuyên biệt của khách du lịch sinh thái.

Điểm du lịch sinh thái  là nơi có tài nguyên du lịch tự nhiên đặc sắc, có tính đa dạng sinh học cao, thường nằm trong các khu bảo tồn thiên nhiên, có khả năng khai thác phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu học tập và nâng cao nhận thức về môi trường thiên nhiên của khách du lịch.

Sức chứa = Diện tích khu vực/Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân. Sức chứa sẽ khác nhau tùy theo mối quan hệ của nó với du lịch, bao gồm:

– Sức chứa tâm lý: là mức độ hài lòng của du khách với những trải nghiệm của mình và tạo ý muốn quay lại.

– Sức chứa sinh học: là khả năng không ảnh hưởng đến các hệ sinh thái, đến sự tồn tại và phát triển bình thường, bền vững của các loài động, thực vật và con người tại điểm du lịch sinh thái.

– Sức chứa xã hội: là mức độ đồng ý của cộng đồng với hoạt động du lịch và chấp nhận du khách.

– Sức chứa hạ tầng: là điều kiện của cơ sở hạ tầng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch sinh thái.

Tác động của du lịch sinh thái

– Đối với kinh tế: thị trường không ngừng được mở rộng, doanh thu tăng; chất lượng thị trường cao; tăng trưởng ổn định, bền vững; tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cộng đồng; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, qua đó giảm thiểu những thiệt hại về tài nguyên môi trường, giảm gánh nặng khắc phục hậu quả cho xã hội; góp phần phát triển các ngành nghề khác.

– Đối với văn hóa: bảo tồn sự nguyên vẹn các giá trị văn hóa, góp phần gìn giữ, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến.

– Đối với môi trường: bảo vệ, giữ gìn sự trong sạch của môi trường tại các điểm du lịch; nâng cao nhận thức của các thành phần xã hội trong việc bảo vệ môi trường chung.

Vai trò của các bên liên quan trong hoạt động du lịch sinh thái

– Đối với cơ quan quản lý:

+ Chính phủ: điều phối chung; ban hành các chính sách ở tầm vĩ mô; xây dựng chiến lược, quy hoạch; hỗ trợ địa phương, cộng đồng; hỗ trợ doanh nghiệp; xây dựng quỹ quốc gia về du lịch sinh thái.

+ Chính quyền địa phương: có chính sách và định hướng phát triển rõ ràng; lập và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển; có cơ chế hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trên địa bàn; cam kết và xác lập cơ chế rõ ràng đối với việc tham gia của cộng đồng, hỗ trợ phát triển cộng đồng; kiểm tra, giám sát sự phát triển.

+ Các ban quản lý khu du lịch: quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường điểm du lịch; lập quy hoạch phát triển điểm/khu du lịch trên nguyên tắc công khai, minh bạch và có sự tham gia của cộng đồng; quản lý thực hiện nghiêm túc quy hoạch; xây dựng quy chế, quy định rõ ràng về trách nhiệm của các đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái.

– Đối với doanh nghiệp: có phương án kinh doanh phù hợp; có năng lực thật sự về vốn và nguồn nhân lực; có cam kết trách nhiệm rõ ràng về đóng góp bảo tồn và hỗ trợ phát triển cộng đồng.

– Đối với cộng đồng địa phương: cam kết tuân thủ pháp luật, các chủ trương của chính quyền trung ương và địa phương; chủ động tham gia vào quá trình phát triển du lịch sinh thái từ khâu quy hoạch cho đến khâu quản lý vận hành khu du lịch; có trách nhiệm trong việc bảo tồn gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống địa phương; có thái độ thân thiện, giúp đỡ khách du lịch.

– Đối với du khách: tôn trọng tập quán truyền thống văn hóa địa phương; có ý thức trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường của điểm đến; tham gia các hoạt động hỗ trợ đóng góp cho bảo tồn và phát triển cộng đồng tại điểm/khu du lịch.

Hệ thống tiêu chí thẩm định, công nhận điểm du lịch sinh thái tại Việt Nam

Nhóm tiêu chí tài nguyên

– Có đa dạng sinh học cao

– Cảnh quan môi trường hấp dẫn

– Các điều kiện khí hậu thích hợp

– Các di tích có giá trị đặc sắc

– Văn hóa bản địa đặc sắc

– Vị trí thuận lợi, tiếp cận thuận tiện.

Nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật

– Giao thông thuận tiện

– Hệ thống cấp điện, nước bền vững, an toàn

– Hệ thống thu gom, xử lý rác, nước thải phù hợp với quy mô điểm du lịch.

– Các công trình dịch vụ du lịch thân thiện, hài hòa

Nhóm tiêu chí về môi trường

– Giáo dục môi trường

– Bảo vệ môi trường

Nhóm tiêu chí tổ chức quản lý bền vững

– Có chính sách hỗ trợ phát triển, bảo tồn du lịch sinh thái

– Có quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch

– Có bộ máy quản lý năng lực theo đúng chuyên môn

– Nguồn vốn phát triển công khai, minh bạch, đúng mục đích

Nhóm tiêu chí sản phẩm dịch vụ

– Dịch vụ tham quan

– Dịch vụ cắm trại

– Dịch vụ nghỉ dưỡng

– Dịch vụ hội nghị, hội thảo

– Phục vụ khách tìm hiểu, nghiên cứu

Quy trình thẩm định công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 1: xây dựng hồ sơ, đề án đề nghị công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 2: cấp quản lý có thẩm quyền tổ chức thẩm định công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 3: cấp quản lý có thẩm quyền tiến hành thẩm định đánh giá hồ sơ, đề án công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 4: cấp quản lý có thẩm quyền quyết định điểm du lịch sinh thái

– Bước 5: cấp quản lý có thẩm quyền quyết định công nhận Ban quản lý điểm du lịch sinh thái.

Hướng dẫn xây dựng đề án công nhận điểm du lịch sinh thái

– Phần 1: giới thiệu (bao gồm: đặt vấn đề, căn cứ pháp lý, căn cứ khoa học)

– Phần 2: mục tiêu, phạm vi phân vùng chức năng điểm du lịch sinh thái

– Phần 3: cơ cấu tổ chức điểm du lịch sinh thái

– Phần 4: đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại điểm du lịch

– Phần 5: đánh giá mức độ đạt được theo các nhóm tiêu chí của điểm du lịch sinh thái

– Phần 6: đánh giá hiệu quả của điểm du lịch sinh thái

– Phần 7: kết luận và kiến nghị

– Phần 8: phụ lục (các phụ lục kỹ thuật có liên quan)

Phạm Phương (TITC)