Sức hút từ di sản văn hoá Biển Việt Nam

 

Lễ hội Cầu Ngư (làng Hưng Lương, xã Nhơn Lý, Quy Nhơn, Bình Định) Ảnh: T.L

VH- Trên diện tích trưng bày 200m2, triển lãm “Di sản văn hoá Biển Việt Nam” khai mạc ngày 18.5 tới tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hứa hẹn sẽ là sự kiện hấp dẫn với đầy ắp những thông tin, hình ảnh, hiện vật đa dạng và phong phú.

Đây cũng là sự kiện mà ở đó, mỗi hiện vật, tài liệu đều chứa đựng những thông điệp về tình yêu Tổ quốc, góp phần khơi dậy lòng tự hào dân tộc và nâng cao ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo VN.

Theo thông tin từ Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, triển lãm chuyên đề Di sản văn hoá Biển VN do Bảo tàng Lịch sử Quốc gia phối hợp với Ủy ban Biên giới Quốc gia, Bảo tàng Bà Rịa- Vũng Tàu, Bảo tàng Cà Mau, Bảo tàng Hải Phòng, Bảo tàng Hưng Yên, Bảo tàng Quảng Ninh, Bảo tàng Quảng Ngãi, Trung tâm Quản lý bảo tồn di sản văn hóa Hội An và Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa tổ chức nhân dịp kỷ niệm 122 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm Ngày Quốc tế Bảo tàng 18.5.

Triển lãm không chỉ là mong muốn của những người làm công tác bảo tàng mà còn của đông đảo học giả và khách tham quan trong và ngoài nước. Những tài liệu, hình ảnh, hiện vật được trưng bày khoa học nhằm giới thiệu khái quát vai trò, vị trí của Biển Đông và các thành phố, thương cảng VN trong lịch sử hình thành và hoạt động của tuyến đường giao thương hàng hải quốc tế; mối giao lưu, ảnh hưởng văn hóa giữa VN với các nền văn minh, văn hóa dọc theo con đường thương mại trên biển; đồng thời giới thiệu, quảng bá rộng rãi tới đông đảo công chúng về lịch sử khám phá, khai thác kinh tế biển và thực thi chủ quyền của VN trên Biển Đông.

Sẽ có ba nội dung trưng bày trong không gian triển lãm, bao gồm: Di sản văn hóa Biển VN từ Tiền sử tới thế kỷ X; Di sản văn hóa Biển VN từ thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII và Di sản văn hóa Biển VN từ thế kỷ XIX đến hiện đại. Khách tham quan có cơ hội chiêm ngưỡng rất nhiều những hiện vật độc đáo tại đây. Nếu như ở không gian Di sản văn hoá Biển VN từ Tiền sử đến thế kỷ X, sức hút là những hiện vật khảo cổ học các di chỉ Hạ Long, Quỳnh Văn, Xóm Ốc (đảo Lý Sơn), phản ánh sự giao lưu, giao thoa văn hoá giữa các nhóm cư dân lục địa và hải đảo hay các tài liệu quý như Bản đồ Con đường gia vị thời cổ đại, bản đồ Ptolemy; tài liệu, hình ảnh khai quật di chỉ Óc Eo năm 1944; hiện vật khảo cổ học di tích Hoà Diêm… thì ở phần trưng bày Di sản văn hoá Biển VN từ thế kỷ XI- XVIII lại giới thiệu nhiều hiện vật, tài liệu quý như hiện vật khảo cổ học Vân Đồn; tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (Hội An); tàu đắm cổ Hòn Dầm (Kiên Giang); bản đồ Đông Nam Á, bản in sao tranh vẽ thương cảng Kẻ Chợ; hiện vật khảo cổ học Domea, Tiên Lãng, Phố Hiến, Hội An hay hiện vật tàu cổ Hòn Cau, Bình Thuận, Cà Mau; đồ gốm sứ mậu dịch Arita Nhật Bản thế kỷ 17-18; sưu tập súng thần công thời Minh, Trung Quốc vớt ở vùng biển Vũng Tàu…

Ở nội dung Di sản văn hoá Biển VN từ thế kỷ XIX đến hiện đại trưng bày những tài liệu khoa học quan trọng như bản in sao Đại Nam nhất thống toàn đồ triều Minh Mệnh, bản in sao An Nam đại quốc hoạ đồ của Đức giám mục Jean- Louis Taberd, bản in sao Châu bản triều Nguyễn niên hiệu Minh Mạng 19 (1838) về việc đo đạc, cắm mốc và vẽ bản đồ Hoàng Sa; bản số hóa Châu bản triều Nguyễn niên hiệu Bảo Đại 13 (1939) về Hoàng Sa; bản in trang nội dung trong Đại Nam thực lục về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa và ngoại thương hàng hải thời Nguyễn… Bên cạnh đó là những hình ảnh, tài liệu về chủ quyền biển đảo VN từ 1945- 1975; đặc biệt là những tài liệu, hình ảnh, hiện vật liên quan đến công tác biên giới, lãnh thổ của nước CHXHCN VN…

Không chỉ là những tài liệu, hình ảnh có sức cuốn hút mạnh mẽ, trưng bày chuyên đề Di sản văn hóa Biển Việt Nam còn là chứng minh sinh động về những đóng góp quan trọng vào lịch sử hình thành và hoạt động của hệ thống giao thương hàng hải quốc tế của VN. Đồng thời, cũng là những thông điệp vững chắc về chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Thời gian trưng bày từ 18.5 đến 30.11.2012.

Phương Hà

Hội thi tuyên truyền “Biên giới và biển đảo VN”: Thu hút hàng ngàn lượt người xem
Kết thúc sau 3 ngày diễn ra sôi nổi, Hội thi tuyên truyền “Biên giới và biển đảo VN” khu vực phía Bắc đã bế mạc tối 8.5 tại TP Móng Cái (Quảng Ninh). Hội thi có sự tham gia của trên 350 nghệ sĩ, diễn viên với nhiều tiết mục, chương trình biểu diễn sôi động, thu hút hàng ngàn lượt người xem. Các đội tuyên truyền lưu động đã chia thành 5 nhóm biểu diễn phục vụ nhân dân tại các địa phương: Hoành Bồ, Vân Đồn, Cẩm Phả, Hạ Long, Tiên Yên. Các tiết mục tham dự chủ yếu ca ngợi truyền thống quê hương đất nước, xây dựng nông thôn mới… Kết thúc hội thi, BTC đã trao 16 HCV, 32 HCB và 16 Giấy khen cho các đơn vị, tiết mục xuất sắc và xe trang trí diễu hành cổ động. A.T

Vận động ủng hộ quỹ “Vì Trường Sa thân yêu”

Nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho quân dân đang sinh sống ở huyện đảo Trường Sa, Liên đoàn Lao động TP.HCM đã triển khai cuộc vận động ủng hộ quỹ “Vì Trường Sa thân yêu”, kêu gọi các tầng lớp nhân dân ủng hộ, tiếp thêm nguồn sức mạnh để quân và dân Trường Sa chung tay bảo vệ chủ quyền đất nước.

Ngoài ra, cuộc vận động còn nhằm giáo dục và nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm cũng như nhận thức của người dân về tầm quan trọng, vai trò và vị trí của biển đảo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. H.Q

Quản lý, tổ chức lễ hội cổ truyền ở các tỉnh phía Nam: Cần đảm bảo không gian cho hoạt động lễ hội

Lễ hội Bà Chúa Xứ núi Sam 2011

VH- Ngày 14.5, Viện Văn hóa Nghệ thuật VN (Bộ VHTTDL) tổ chức hội thảo khoa học “Hoạt động quản lý, tổ chức lễ hội cổ truyền ở các tỉnh phía Nam – Nghiên cứu trường hợp Lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam”.

 Lễ hội cổ truyền là loại hình sinh hoạt cộng đồng đang ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, xã hội VN. Ngoài việc lễ hội là nơi thu hút một số lượng lớn người tham gia thì đó còn là nơi lưu giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Song bên cạnh đó lễ hội cũng là nơi nảy sinh nhiều vấn đề, hiện tượng tiêu cực, gây khó khăn trong việc quản lý và phát triển.

Có thể nói lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam là một trong những lễ hội điển hình ở khu vực miền Tây Nam Bộ nói riêng và phía Nam nói chung. Khách quan mà nói, công tác quản lý, tổ chức lễ hội Bà Chúa Xứ đã làm rất tốt. Tuy nhiên tình trạng chen lấn xô đẩy giữa khách hành hương; nạn ăn xin; xe ôm, bán vé số chèo kéo khách thập phương; hệ thống hàng quán dịch vụ vẫn còn lộn xộn… Bên cạnh đó vấn đề vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn chưa đảm bảo. Đặc biệt, việc đốt đồ vàng mã, thắp hương trong khu vực nội tự vẫn diễn ra phổ biến. Một số đồ thờ tự bày trong di tích chưa phù hợp.

Đề cập về vấn đề này, ông Hồ Viết Hiệp, Phó chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết, những tồn tại nêu trên hiện đang được chính quyền địa phương xử lý triệt để, mặt khác tăng cường công tác quản lý đảm bảo an ninh trật tự, văn minh. Qua đó rút kinh nghiệm để lễ hội ngày càng có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào việc gìn giữ, phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, thúc đẩy phát triển du lịch và dịch vụ địa phương.

Ngoài những tồn tại mang tính chất “khách quan” cũng cần phải thẳng thắn thấy rằng công tác quản lý, tổ chức lễ hội, quản lý tiền công đức… đang nảy sinh nhiều bất cập, hạn chế và tồn tại. Đó là nhận thức sai lệch về mục đích tổ chức lễ hội, coi di tích và lễ hội là nguồn lợi riêng, tập trung khai thác giá trị kinh tế, thương mại hóa các loại hình dịch vụ… đã làm giảm đi giá trị truyền thống của lễ hội.

PGS.TS Trương Quốc Bình (Viện Văn hóa Nghệ thuật VN) cho rằng, hiện nay việc tổ chức lễ hội đang xuất hiện xu hướng nâng cấp lễ hội lên tầm cao hơn thành cấp khu vực và cấp quốc gia “thành cái gọi là Festival”. Việc áp đặt suy nghĩ chủ quan, đưa các yếu tố hiện đại không phù hợp vào nội dung của lễ hội dân gian, sự can thiệp quá sâu và cụ thể của các cấp chính quyền vào lễ hội dẫn đến hiện tượng đơn điệu hóa, trần tục hóa và thương mại hóa lễ hội…

Hiện cả nước có gần 8.000 lễ hội, 90% là lễ hội dân gian. Sự phong phú của lễ hội Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc, vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn khách nước ngoài. Do đó công tác kiểm tra, đánh giá thực trạng về lễ hội nhằm phát huy mặt tốt, khắc phục hạn chế và tồn tại trong công tác quản lý, tổ chức lễ hội. Qua đó làm cho lễ hội, di sản văn hóa phi vật thể được bảo tồn ngày càng tốt hơn, đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân.

Theo ông Phạm Xuân Phúc, Phó chánh Thanh tra Bộ VHTTDL, hiện nay cần phải tăng cường hơn nữa công tác quản lý việc tổ chức, quản lý lễ hội. Riêng đối với lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam cần phải sớm rà soát lại quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết cho phù hợp với quy mô. Bởi nếu như không sớm quy hoạch, điều chỉnh lại sẽ dẫn đến tình trạng quá tải không phục vụ tốt khách thập phương về với lễ hội.

Ông Trần Minh Chính, Phó cục trưởng phụ trách Cục Văn hóa cơ sở (Bộ VHTTDL) cho hay, hiện nay chúng ta có đầy đủ hành lang pháp lý trong việc quản lý, tổ chức và xử lý những vấn đề lệch lạc trong lễ hội. Vì vậy việc quy hoạch lại không gian lễ hội mới chỉ giải quyết được một số vấn đề, trong khi để đảm bảo không gian lễ hội, đặc biệt là các lễ hội lớn liên quan đến vấn đề quỹ đất. Thực tế hiện nay di tích Bà Chúa Xứ Núi Sam đang bị đô thị hóa, phố xá vây quanh… Không riêng gì di tích này mà các di tích khác có không gian rộng lớn như Chùa Hương, Yên Tử cũng trở nên chật chội.

Bàn giải pháp quản lý lễ hội cổ truyền và đương đại

Hôm nay 16.5 tại Hà Nội, Bộ VHTTDL và Hội đồng Di sản văn hoá Quốc gia phối hợp tổ chức hội thảo khoa học “Lễ hội cổ truyền và đương đại- Nhận thức, giá trị và giải pháp quản lý”. Đây là cuộc hội thảo có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh hiện nay, khi các vấn đề về lễ hội đang được xã hội đặc biệt quan tâm.

Bên cạnh những nhận định tổng quan, hội thảo sẽ tiến hành thảo luận tại 3 tiểu ban: Lý thuyết, nhận thức và cách tiếp cận về lễ hội; giá trị lịch sử, văn hoá, xã hội của lễ hội và giải pháp quản lý lễ hội.

Không chỉ phân tích về những giá trị của lễ hội cổ truyền trong đời sống cộng đồng, diễn đàn này còn bàn thảo xung quanh những vấn đề “nóng” của lễ hội hiện nay như: làm rõ thế nào là mê tín dị đoan; quản lý, phân cấp quản lý lễ hội; mô hình ban quản lý lễ hội tại các địa phương… Hội thảo có sự tham gia của nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, nghiên cứu… P.A

Nguyễn Hiếu

Một số điều lưu ý khi vào thăm bản dân tộc

Dưới đây là một số điều lưu ý tớ thấy rất cần biết khi dân tình mình đổ sô đi phượt vùng cao .Người dân bản rất thân thiện và cởi mở .Nhưng nếu ko rõ những phong tục tập quán của họ bạn rất dễ
làm mất đi những cảm tình của dân bản dành cho bạn mà bạn đang muốn gây dựng và củng cố. Một số những lưu ý này sẽ giúp bạn trước khi bạn thực hiện hành trình du lịch đến với những miền đất bí ẩn đầy hấp dẫn:

Trên đường vào bản:

Khi vào bản, làng, vào nhà dân, nếu trên đường có cắm “lá cây xanh” hoặc cắm “cọc dấu” thì không nên vào. Vì dân làng (hoặc chủ nhà) đang kiêng người lạ đến)- Khi đã đến với dân làng (hoặc trong nhà dân) cần lưu ý những điểm sau:

Ứng xử đối với thiên nhiên:
+ Không vào khu rừng kiêng, rừng cấm;
+ Không làm mất vệ sinh nơi có nguồn nước sinh hoạt;
+ Không chặt phá cây đã được dánh dấu;
+ Không lấy măng, mộc nhĩ, tổ ong khi đã có người khác đánh dấu sở hữu;
+ Không bẻ mầm non dang mọc

Ứng đối với cộng đồng:
+ Khi vào nhà không được đi thẳng một mạch từ ( cầu thang lên nhà) đầu nhà vào bếp trong ( thường có 2 bếp, 1 bếp ngoài dành cho khách)
+ Không ngồi vào cửa móng ( cửa sổ gian tiếp khách)
+ Không ngồi ngay vào đệm ngồi khi chủ nhà chưa mời ( thường dành cho bề trên và khách quý)
+ Không ngồi dạng chân (mất lịch sự)

Khi ngồi cạnh bếp lửa:
+ Không được dùng chân đẩy củi vào bếp
+ Không được đút ngược ngọn tre, luồng, cây củi và bếp (quan niệm đẻ ngược)
+ Không nướng cơm, đồ ( xôi) vì quan niệm mất mùa

Khi đi ngủ:
+ Không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà ( chỉ người chết mới được nằmn như vậy)
+ Không nên mắc màn trắng vì lộ liễu
+ Không ngủ dậy quá muộn ( và chướng)
+ Không được ngủ dưới bàn thờ

Khi tiếp xúc với dân:
+ Cần tránh gọi các từ khiếm nhã như Mèo, Mán (Nên gọi là đồng bào Mông, Dao)
+ Không nên nói quá to với cử chỉ gay gắt
+ Không tranh cãi với người già, phụ nữ và trẻ em
+ Không xoa đầu trẻ em đồng bào Mông( vì sợ mất vía)
– Khi ngồi ăn cơm cần chú ý:
+ Không ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm (nếu chủ nhà không mời)
+ Không ngồi trước và quay lưng vào bàn thờ
+ Không gắp đầu gà chân gà, gan gà trước khi chủ nhà mời ( thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng kiến lòng thành của chủ nhà)
+ Khi ăn không nên vừa ăn vừa nói quá to

Khi vui chơi:
+ Không nên thổ lộ tình cảm thái quá với phụ nữ đã có chồng, con gái đã có người yêu, phụ nữ goá chồng
+ Khi uống rượu cần phải mời mọi người xung quanh, không nên cầm uống ngay.

Ngoài ra, còn một số điều kiêng kỵ khác trong các nghi lễ như chọn đất làm nương rẫy, chọn ngày dựng nhà, chọn ngày cưới hỏi vợ chồng, kiêng cữ khi phụ nữ mới sinh, trong nhà có người mất hay các lễ thức cúng bái khác trong sinh hoạt cộng đồng…Còn nhiều điều lưu ý nữa rất mong được mọi người chia sẻ để chuyển đi của chúng ta được vui vẻ trọn vẹn và ý nghĩa

phuot -chupy

Một số điểm cần lưu ý nhằm tăng cường kỹ năng công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Nước ta có 53 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc dù số dân có ít đến đâu, dù trình độ phát triển kinh tế, xã hội thế nào thì từng dân tộc cũng đều có bản sắc văn hóa riêng; bản sắc đó góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng trong tính thống nhất của nền văn hóa Việt Nam.

Tìm hiểu, tôn trọng những phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số là trách nhiệm của cán bộ trong hệ thống chính trị nói chung, của cán bộ làm công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Bài viết này xin trao đổi một số nội dung xung quanh vấn đề trên; hy vọng sẽ là những thông tin bổ ích cho nhiều cán bộ, nhất là những cán bộ trẻ mới làm, hoặc chuẩn bị làm công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ nhất, về tên gọi và một số thuật ngữ thường dùng trong công tác dân tộc: Trong thực tế còn gặp một số người khi viết, khi nói xác định tên dân tộc lại dùng tên do các dân tộc tự gọi, tên theo nhóm địa phương, hoặc tên gọi khác. Ví dụ: dân tộc Hoa gọi là dân tộc Xạ Phang, dân tộc Hán… dân tộc Chứt gọi là dân tộc Rục, dân tộc Mã Liềng, dân tộc Sách; dân tộc Dao gọi là dân tộc Mán; dân tộc Khơ Mú gọi là dân tộc Xá, dân tộc Chăm gọi là dân tộc Chàm… cách gọi trên dùng để nghiên cứu dân tộc. Trong công tác dân tộc gọi theo danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam do nhà nước ban hành là đúng hơn cả. Theo số liệu thông kê, nước ta có 54 dân tộc trừ dân tộc Kinh chiếm đa số, dân số của 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm tỷ lệ 13,8% của cả nước. Khi nói, khi viết là để chỉ chung cho các dân tộc (trừ dân tộc Kinh) là đúng và đã được ghi trong điều 5 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

 

Thứ hai, một số việc cụ thể cần lưu ý: Khi vào làng, vào bản, vào nhà dân nếu trên đường vào ở cổng bản hay cổng nhà thấy có cắm lá xanh hoặc cọc dấu thì không nên vào vì dân bản hoặc chủ nhà đang kiêng người lạ. Khi đã đến với dân bản thì không được tự ý vào khu rừng kiêng, rừng cấm, không làm mất vệ sinh nguồn nước sinh hoạt, không chặt cây khi thấy cây có dành dấu (X), không lấy măng, mộc nhĩ, lấy mật ong… khi đã có người đánh dấu, không bẻ mầm non đang mọc.

Khi vào nhà dân, nếu thấy dân ở nhà sàn mà nhà lại có hai cầu thang thì cần quan sát xem đi cầu thang nào; nếu đi cùng chủ nhà hoặc có cán bộ cơ sở đi cùng thì nên để cho chủ nhà hoặc cán bộ cơ sở lên trước (thông thường nhìn từ ngoài vào, cầu thang phía bên tay trái dành cho đàn ông và khách, cầu thang bên tay phải dành cho phụ nữ). Khi đã vào trong nhà nếu thấy trong nhà có hai bếp thì không nên đi thẳng một mạch từ đầu nhà vào bếp trong (bố trí 2 bếp, bếp ngoài đồng bào dành cho khách). Khi ngồi cạnh bếp lửa không dùng chân đẩy củi, không đút ngược cây củi vào bếp (ngược ở đây được hiểu là đút chiều ngọn của cây củi vào trước) vì đồng bào quan niệm làm như thế trong nhà sẽ có người đẻ ngược. Không nướng cơm đồ (xôi) vì nếu cơm đã đồ mà đem nướng đồng bào cho rằng năm đó sẽ xảy ra mất mùa. Khi ngồi cần chú ý không ngồi vào “cửa móng” (cửa sổ gian tiếp khách), nếu chủ nhà chưa mời không nên ngồi ngay vào đệm (thường dành cho bề trên và khách quý).

Khi ăn cơm nếu chủ nhà không mời thì không được ngồi ngang hàng với người già nhất trong mâm đồng thời tôn trọng sự sắp đặt vị trí ngồi của chủ nhà; không được gắp đầu gà, chân gà, gan gà (những thứ này thường để chung một đĩa với dụng ý để khách chứng giám lòng thành của chủ). Khi uống rượu nếu thấy trong mâm có 2 ly rượu (cốc, chén) để giữa chủ nhà và khách hoặc giữa chủ nhà và người già nhất thì không được uống 2 ly rượu này (đồng bào quan niệm đây là 2 ly rượu dâng lên tổ tiên). Khi có người mời, hoặc mời mọi người xung quanh mới uống, không nên cầm ly uống ngay. Đặc biệt để tỏ lòng mến khách những người trong mâm rượu dùng rất nhiều “lý” để chúc rượu nhau (chúc chung cả mâm, chúc riêng từng người, ly rượu làm quen, chúc sức khỏe…) trong trường hợp ấy không nên từ chối (uống được bao nhiêu do khả năng của mình) và nên chủ động chúc rượu lại chủ nhà và những người trong mâm rượu. Ngoài ra khi mời rượu không nên dùng từ “uống hết” mà chỉ nên dùng từ “uống cạn” (đồng bào quan niệm nếu dùng từ “uống hết” nghĩa là chủ và khách không còn tình cảm gì, không còn gì để uống), trong khi ăn uống không nên vừa ăn vừa nói quá to.

Khi đi ngủ không nằm ngủ dọc theo đòn nóc nhà (chỉ người chết mới nằm như vậy), không ngủ dậy quá muộn, không đắp ngược chăn. Khi tiếp xúc với cán bộ là người dân tộc thiểu số ở cơ sở, tiếp xúc với dân bản không nói quá to với cử chỉ gay gắt, đặc biệt không dùng ngón tay trỏ của mình chỉ vào mặt người đang đối thoại với mình. Không tranh cãi với người già, phụ nữ và trẻ em, không xoa đầu trẻ nhỏ, không nên biểu lộ tình cảm thái quá đối với phụ nữ đã có chồng, con gái đã có người yêu, phụ nữ goá chồng. Khi nói chuyện với bà con dân bản cần tránh dùng từ kiêng, từ có tính miệt thị dân tộc như: gọi người đàn ông có tuổi là “bố bản”, dùng từ “xá” (có nghĩa là rách rưới) chỉ dân tộc Khơ Mú, “Thổ mừ” chỉ dân tộc Thổ… hoặc có khi nói những từ chung chung như “ông Mông”, “ông Thái”, “ông Dao”…

Ngoài ra một số dân tộc thiểu số có những điều “kiêng”, “cấm” trong các nghi lễ như chọn đất làm nương rẫy, chọn ngày dựng nhà, chọn ngày cưới hỏi vợ, chồng; kiêng cữ khi phụ nữ mới sinh. Những nghi lễ khi trong nhà có người chết; những nghi lễ trong việc cúng bản, cúng mường; gặp những trường hợp này tốt nhất là chúng ta lắng nghe, quan sát không nên vội vàng phê phán chê bai như: mất vệ sinh, lạc hậu, tốn kém; mê tín dị đoan…

Cán bộ công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số là những thế hệ kế tiếp nhau được bổ sung trong quá trình phát triển của đất nước. Những nội dung nêu trên mặc dù chỉ ở mức độ chung nhất nhưng sẽ là cần thiết cho cán bộ mới làm công tác dân tộc tham khảo góp phần tăng cường kỹ năng công tác ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Đỗ Trọng Cố

TẢN MẠN VỀ TỤC THỜ CÚNG TỔ TIÊN Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI


 

ThS. Nguyễn Ngọc Thơ
(Đại học Quốc gia Tp.HCM)
“Con người có tổ có tông
Như cây có cội, như sông có nguồn”

Câu ca dao ngày nào vẫn được bọn trẻ ê a đánh vần trong những buổi học đầu đời. Biết bao thế hệ trôi qua và biết bao thế hệ lại đến, tất cả đều được dạy cách làm người, cách sống một cuộc sống trọn đạo với đạo đức gia đình, với truyền thống thờ tổ tiên. Thời cuộc dẫu có thăng trầm dâu bể, bia đá dẫu có mòn, vật có thể đổi, sao có thể dời, truyền thống ấy vẫn tồn tại.

Bất chợt có ai đó chợt hỏi rằng, người Việt Nam ta thờ tổ tiên ông bà tự khi nào, câu trả lời tất nhiên sẽ là “lâu rồi, lâu lắm rồi nên không nhớ nỗi”. Thuở lập quốc, con cháu dòng dõi Lạc Long Quân – Âu Cơ đã gầy dựng nên truyền thống ấy, bao lớp sóng dâng rồi hạ, bao binh biến đi qua rồi hòa bình trở lại, truyền thống ấy vẫn ngày một đơm hoa kết trái, được Nguyễn Đình Chiểu khẳng định chắc nịch trong thơ Lục Vân Tiên:

“Thà đui mà giữ đạo nhà
Còn hơn sáng mắt ông cha không thờ”

Không phải chỉ có người Việt Nam mới có tục thờ cúng tổ tiên. Thưở bình minh văn minh, tục thờ này hầu như có mặt ở từng góc cạnh của thế giới. Qua trường kì lịch sử nhân loại, tục thờ trải qua những biến đổi nhất định, ở cả nội dung và hình thức, cho đến nay vẫn tồn tại ở nơi này nơi khác, ở dạng này hay dạng khác.

Nhìn trên bản đồ văn hóa thế giới, chúng ta có thể phân tục thờ cúng tổ tiên ra hai phong cách đông – tây với những điểm khác biệt tương đối. Phong cách phương Đông có trọng tâm ở vùng Đông Nam Á nông nghiệp lúa nước, phía bắc lên đến Trung Hoa và phần còn lại của Đông Bắc Á, phía đông qua vùng biển Tây Thái Bình Dương (Polynesia, Micronesia, Melanesia…), còn phía tây xuyên qua Nam Ấn đến tận Ai Cập cổ đại và vùng châu Phi nhiệt đới (hạ Sahara). Thứ hai là nhóm văn hóa phương Tây Kitô giáo có trọng tâm nằm ở châu Âu. Giữa hay nhóm này có một nhóm trung gian kết nối cả hai phong cách nằm ở khu vực Trung – Nam Mỹ và các quốc gia phương Đông chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa phương Tây.

Ở nhóm thứ nhất, tục thờ cúng tổ tiên là sợi dây thiêng kết nối ba chuỗi thời gian quá khứ – hiện tại – tương lai của từng gia đình, trong đó giá trị đạo đức từ quá khứ sẽ là tiêu chí cho cuộc sống hiện đại và là nguồn sống của tương lai.

Nói về tục thờ này ở Việt Nam, một trang web nước ngoài viết “thờ cúng tổ tiên ông bà là tín ngưỡng gốc xuyên suốt quá trình lịch sử Việt Nam, nó là sợi dây liên kết rắn rỏi để góp phần cột chặt tính thống nhất toàn dân tộc và cũng là cội nguồn của các phong tục, tín ngưỡng khác”. Nhà dân tộc học người Nga G.G. Stratanovich cũng có cách nhìn nhận tương tự. Người Việt Nam dù theo Phật giáo, Đạo giáo hay Kitô giáo, nhất thể đều thờ cúng tỗ tiên. Đó là một phần máu thịt vẫn ngày đêm rong ruổi trong huyết quản để nuôi sống cả cơ thể đạo đức gia đình.

Người Việt Nam và các nước phương Đông coi trọng ngày mất và ngày giỗ của tổ tiên, thể hiện của tinh thần coi trọng quá khứ và di sản từ quá khứ. Có hai ý nghĩa lớn hình thành nên đạo thờ này ở phương Đông, một là quan niệm chữ hiếu đối với thế hệ đi trước, qua các nghi lễ thể hiện mong muốn ông bà tổ tiên có một cuộc sống tốt đẹp ở thế giới bên kia, bên cạnh họ cũng mong muốn được vong linh tổ tiên che chở, “chỉ đạo” trước những khúc mắc của cuộc sống phàm trần, và hai là ý nghĩa giáo dục dành cho người còn sống.
Đạo thờ ông bà gắn liền với chữ hiếu. Hơn ai hết từ thưở bé thơ chúng ta đã được kể chuyện một người đàn ông toan chở mẹ già bỏ vào rừng sâu cho rảnh việc lại bị chính con trai mình học cách để sau này cũng đẩy chính anh ta vào rừng. Vậy đó, đạo hiếu Việt Nam vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là bài học lớn đến nỗi cả đời chúng ta vẫn không thể học hết. Ở tầm cao hơn, đạo hiếu trong gia đình chỉ là tiểu hiếu, còn đạo hiếu với non sông, giống nòi mới là đại hiếu. Mỗi người con đất Việt đều phải học sóng đôi hai chữ tiểu hiếu, đại hiếu thiêng liêng này.

Giống như người Việt Nam, vào ngày cúng tổ tiên, người Trung Hoa cũng bày mâm cỗ, hoa trái và đốt vàng mã và một số vật dụng bằng giấy với hy vọng người đã khuất sẽ được hưởng thụ hoặc sẽ nhận được ở kiếp sống bên kia. Người Dayak (đảo Borneo), người Toraja (đảo Sulawesi) ngày nay vẫn giữ tục thờ tổ tiên và cúng tế truyền thống. Người Nhật, người Triều Tiên vẫn coi phong tục này là một di sản quý báu cho tương lai dù đã có nhiều thay đổi. Người Ai Cập cổ đại với niềm tin tái sinh – bất tử của linh hồn luôn coi việc thờ tự người đã khuất là một phần trách nhiệm trong đời sống tâm linh của mỗi gia đình. Với hầu hết các dân tộc phương Đông, thế giới hôm qua là một phần quan trọng không thể thiếu cho xã hội hôm nay và ngày mai.

Đạo thờ ông bà còn là một sợi dây linh thiêng gắn kết gia đình, dòng tộc, qua đó mỗi thành viên đều được giáo dục đạo đức truyền thống gia đình. Ý nghĩa ấy phần nào thể hiện tính cộng đồng vốn có trong văn hóa nông nghiệp phương Đông.

Vào bất kì một gia đình người Việt nào, cái đập vào mắt đầu tiên chính là bàn thờ tổ tiên đặt ở vị trí trang trọng nhất. Ngày lễ tết, ngày tế tự hay các dịp hiếu hỷ khác, con cháu quây quần trước là kính cẩn vong linh ông bà tổ tiên, sau là sưởi ấm quan hệ gia đình, dòng họ. Vong linh ông bà tổ tiên nơi chín suối kia có biết được tấm lòng hiếu thảo của con cháu hay không là điều nằm ngoài tầm hiểu biết của chúng ta, song giá trị đọng lại trong nhận thức của từng thành viên là vô cùng quý giá.

Cũng như vậy, người Trung Hoa, người Nhật Bản và người Triều Tiên dù bận rộn đến mấy cũng thu xếp thời gian về với gia đình trong ngày kỷ niệm tổ tiên. Một số dân tộc Đông Nam Á coi ngày tế tự ông bà là ngày hội gia đình, có khi mở rộng ra cả làng bản. Cư dân vùng Trung Phi tự tay nấu lấy những món ăn ngon nhất mà sinh thời ông bà tổ tiên thích ăn bày quanh mộ phần người đã khuất. Sau cúng tế, mọi người quây quần cùng ăn với nhau trong một không gian thực sự ấm cúng. Người Polynesia tụ tập nhảy múa, đánh trống khua chiêng trong ngày giỗ tổ tiên với hy vọng linh hồn người chết sẽ quay về cùng hòa vào không khí chung như những thành viên thực sự. Một số nơi vùng Nam Ấn nay vẫn giữ tục thờ trong gia đình.

Ở nhóm thứ hai, tục thờ cúng tổ tiên ở thế giới phương Tây tương đối nhẹ nhàng, chủ yếu là lưu lại kỷ niệm của người đã khuất, thể hiện lời tạ ơn đối với những người đi trước. Đối với họ, muốn đến tương lai phải hướng về phía trước.

Không thể nói người phương Tây không có tục thờ tổ tiên. Tục thờ là một dạng tín ngưỡng dân gian, hiện diện bên trong từng gia đình dưới những hình thức khác nhau mà không có một quyển kinh sách nào quy định, do vậy không có một ranh giới rõ ràng giữa tục thờ này với các tín ngưỡng khác. Lịch sử đã chứng minh châu Âu cổ đại đã từng có tục thờ tổ tiên tại gia trước khi có những biến đổi lớn do tác động của quan niệm tư tưởng xã hội. Người La Mã xưa là một ví dụ, họ có tục lập bàn thờ tổ tiên trong nhà dù chưa phải là một hiện tượng cộng đồng. Từ thời trung cổ đến nay, các dân tộc châu Âu và sau này cả vùng Bắc Mỹ vẫn duy trì tục Ngày các linh hồn vào ngày 2/11 hàng năm ngay sau Ngày các thánh (1/11). Người Đức, người Áo thường đến nghĩa trang thắp nến cầu nguyện. Người Tây Ban Nha, người Mỹ cũng có các hoạt động tương tự. Trong các dịp lễ hội mang tính tôn giáo khác như Lễ phục sinh, Lễ Giáng sinh v.v. người ta vẫn dành những khoản thời gian nhất định để cầu nguyện, để tưởng nhớ người đã khuất. Người Ireland thì có hẳn ngày Samhain (tiền thân của lễ Halloween ngày 31/10) riêng của họ theo lịch Celtic. Đối với người phương Tây, việc thờ cúng tổ tiên vẫn thể hiện quan niệm chữ hiếu, vẫn chuyển tải thông điệp giáo dục đạo đức gia đình, song các giá trị ấy không phải là tất cả hành trang để mang vào tương lai. Đối với họ, ngày hôm nay khác ngày hôm qua, và ngày mai cũng phải khác ngày hôm nay. Chuỗi đời luôn là sự phát triển bất tận, trong đó vai trò cá nhân ở từng thời điểm rất được coi trọng. Đã từ lâu rồi, người phương Tây không còn giữ hình thực cúng giỗ, và nếu có cũng chỉ mang tính hình thức tự phát.

Nằm giữa hai phong cách ấy là thế giới của sự pha trộn giữa tín ngưỡng bản địa và truyền thống Kitô giáo. Người Mexico bản địa (gốc Aztec), người Honduras, Guatemala (gốc Maya) ngày nay kết hợp cả hai truyền thống ấy trong nghi lễ Ngày của người chết (Day of the Dead) vào hai ngày 1 và 2 tháng 11 hàng năm. Ngày đầu tiên dành cho các linh hồn trẻ em, trong khi ngày thứ hai là để tưởng nhớ người trưởng thành. Trong cả hai ngày, mọi hoạt động cộng đồng đều hướng về người đã khuất. Họ lập bàn thờ có di ảnh người chết, bày lên mâm trái cây cùng các món ăn đặc biệt, bánh kẹo, có cả tiền vàng mã, và đặc biệt là không thể thiếu những chiếc sọ người làm bằng bột bánh hay sô-cô-la. Bàn thờ được giữ nguyên trong một thời gian dài, có khi suốt cả năm. Người dân tụ hợp ca hát, nhảy múa và dành một khoảng không gian, thời gian nhất định cho người chết với suy nghĩ họ cũng đang “tham gia” hăng hái. Nghi lễ này vốn xuất phát từ tục tế Nữ thần Chết Catrina trong tín ngưỡng bản địa, phát triển qua quá trình giao lưu với văn hóa Tây Ban Nha du nhập từ thế kỷ 16. Phong tục Trung Mỹ này cũng được “xuất ngoại” vào châu Âu, hiện có thể được tìm thấy trong phong tục của người Czech, hay sang Thái Bình Dương đến tận New Zealand. Ở lục địa Nam Mỹ, người Brazil, người Peru vẫn có tục tương tự song chỉ mang tính chất địa phương. Phong cách pha trộn này còn hiện diện ở các nền văn hóa phương Đông khác có tiếp xúc với Kitô giáo. Người Philippine, người Hawaii, cùng một số dân tộc ở châu Phi cũng kết hợp truyền thống bản địa với những hoạt động theo nghi thức voodoo (hoặc shaman) với tục Ngày các linh hồn từ phương Tây đến.

Văn hóa thế giới mang tính đa nguyên. Tục thờ cúng tổ tiên cũng mang tính đa nguyên. Có thể mượn hình ảnh hai cây đời đông – tây do học giả người Ấn A.K. Ramanujan đề xuất khi so sánh quan niệm giáo dục đạo đức gia đình Ấn Độ và châu Âu để thể hiện sự khác biệt này. Theo đó, ý nghĩa giáo dục đạo đức gia đình trong truyền thống Việt Nam và phương Đông được tượng trưng bằng hình ảnh một thân cây mọc ngược (gốc ở trên, ngọn trút xuống dư gốc và thân cây ở vị trí cao nhất, phần ngọn cây luôn nằm ở vị trí thấp hơn). Ngược lại, ý nghĩa ấy trong văn hóa phương Tây lại là hình ảnh thân cây mọc thẳng đứng từ dưới đất lên, thế giới hôm qua và hôm nay sẽ là phần rễ và thân cây làm nền tảng cho ngọn cây mọc vụt lên trong không gian. Có thể kiểu ví von này chưa thật sự hoàn chỉnh, song nó vẫn thể hiện một ý nghĩa tương đối.

Mỗi phong cách đều có những điểm mạnh, yếu khác nhau của nó. Trong thế giới của thời đại thông tin hiện nay, những quy luật giá trị trong tục thờ cúng tổ tiên chắc chắn có những thay đổi nhất định, hoặc tích cực hơn, hoặc xấu hơn. Hơn ai hết, người Việt Nam chúng ta phải tỉnh táo để nhận thức đúng vai trò và nhiệm vụ của mình trong việc gìn giữ và phát huy tục thờ truyền thống này, sáng suốt để bổ sung cho những hạn chế do nhu cầu của thời đại mang đến để những thế hệ Việt Nam mai sau luôn sống trong một không gian gia đình đầm ấm, hạnh phúc.

(Nguồn: Tạp chí Phong cách sống (Lifestyle), 1/2008)

Công, dung, ngôn, hạnh thời nay

4 đức tính căn bản của người phụ nữ truyền thống vẫn luôn là tiêu chuẩn đẹp nhất, lý tưởng nhất của những bạn gái hiện đại và tất nhiên nó cũng được hiện đại hóa theo tiêu chuẩn thời nay… Một nhạc sĩ nổi tiếng học ở nước ngoài về, khi được hỏi về tiêu chuẩn của cô gái mà anh muốn tiến đến hôn nhân, anh trả lời đó là: “Công dung ngôn hạnh”.

Ngô Phương Lan, đang sống và học ở một nước phương Tây, là con gái một nhà ngoại giao. Cô vừa đoạt giải nhất trong cuộc thi “Hoa hậu Thế giới người Việt” một cách thuyết phục, nhất là trong phần ứng xử cô đã chứng tỏ trí thông minh và nền tảng kiến thức vững chắc.

Phương Lan tiết lộ rằng mình được như thế là nhờ người cha, tuy sống ở nước ngoài nhưng luôn giáo dục con gái theo định hướng “công dung ngôn hạnh”.

Hóa ra 4 đức tính căn bản của người phụ nữ truyền thống vẫn luôn là tiêu chuẩn đẹp nhất, lý tưởng nhất của những bạn gái hiện đại và tất nhiên nó cũng được hiện đại hóa theo tiêu chuẩn thời nay…

Công:

Sự khéo léo luôn được đặt lên hàng đầu, vì người phụ nữ “vụng” hay đi đôi với “dại”. Đã vụng dại thì làm sao sắp xếp được hạnh phúc, nuôi dạy con cái tốt và đảm đang công việc trong nhà?

Nhưng “công” ngày nay không chỉ bó gọn trong nội dung đó mà còn cần có nghề nghiệp. Làm tốt một nghề sẽ giúp người phụ nữ nâng cao giá trị bản thân, đóng góp được vào gia đình, xã hội và vẻ đẹp của họ càng tỏa sáng.

Dung:

Dung chính là dung mạo, vẻ đẹp bên ngoài và cũng phản ánh được vẻ đẹp bên trong. Một cô gái lúc nào cũng dễ cáu kỉnh, nhăn nhó, khi vừa ý thì nhảy cỡn lên, khi không ưng ý thì xịu mặt, khi xem những cuộc thi sắc đẹp thế giới ta thấy những người đẹp dù không đạt được danh hiệu cao vẫn vui vẻ, đến chia vui, chúc mừng những người chiến thắng một cách chân thành, đó chính là “dung”.

Chứ không phải là khóc hu hu, tỏ ra thất vọng hoặc “mặt sưng mày sỉa”. Theo nhà thơ Nguyễn Trãi thì người con gái luôn nhu hòa: “Dù no dù đói cho tươi mặt mày”.

Ngôn:

Lời nói, ngôn ngữ của một bạn gái cũng phải giàu nữ tính, có sự mềm mại, dịu dàng, tinh tế và chọn lọc. Một cô gái có văn hóa không thể nói năng bỗ bã, vung vít, càng không thể văng tục chửi thề hoặc nói năng thiếu suy nghĩ.

Nhưng đó cũng chỉ là yêu cầu cơ bản, một bạn gái muốn vươn cao, thành đạt phải có khả năng ứng xử duyên dáng, thông minh và có tính thuyết phục trên nền tảng của sự hiểu biết sâu sắc và cái tâm trong trẻo. Người xưa có câu: “tú khẩu cẩm tâm”, nghĩa là lời nói hay phải đi đôi với tấm lòng đẹp như hoa gấm.

Hạnh:

Hạnh kiểm của một bạn gái thường bị suy giảm do cách yêu đương. Một cô gái yếu kém về năng lực làm việc thường được thông cảm, nhưng khi họ yêu đương bừa bãi, hết người này đến người khác thì lập tức bị “hạ điểm” hạnh kiểm. Cho nên dù ở thời đại nào thì tình yêu chân thành, lòng chung thủy của phái nữ luôn được đánh giá cao

(Theo Phụ nữ việt nam)

Những vấn đề cơ bản về Hồi giáo

Hồi giáo (tôn giáo của tộc người Hồi) là cách gọi của người Trung Quốc gọi đạo Islam (theo tiếng Ảrập nghĩa là phục tùng theo ý chân chủ) xuất hiện ở bán đảo Ảrập vào khoảng thế kỷ thứ VII. Ảrập Xêut là quê hương của Hồi giáo. Hồi giáo ra đời do hàng loạt nguyên nhân kinh tế, xã hội, tư tưởng gắn liền với sự chuyển biến từ chế độ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp của các tộc người vùng Trung cận Đông và yêu cầu thống nhất các bộ lạc trong bán đảo Ảrập thành một nhà nước phong kiến thần quyền do đó cần một tôn giáo độc thần để thay thế những tôn giáo đa thần tồn tại ở đó từ trước.

Sự ra đời và phát triển của Hồi giáo

Sự ra đời của Hồi giáo gắn liền với tên tuổi một người nổi tiếng là giáo chủ Mohammed (Mahomet). Mâohammed (570 – 632) là một người thuộc gia tộc Casimu ở Mecca.

Tục truyền rằng khi Mohammed được 40 tuổi (năm 610) ông một mình vào trong một hang nhỏ ớ núi Xira, ngoại thành Mecca để tu luyện và trầm ngâm suy tưởng. Trong một đêm thánh Allah (Ala – Chân chủ) đã cử thiên sứ Gabrien đến truyền đạt Thần dụ và lần đầu tiên “khải thị” cho ông chân lý của Kinh Coran khiến ông trở thành “Thánh thụ mệnh” và ông tự xưng là đã tiếp thụ sứ mệnh của chân chủ trao cho và bắt đầu truyền đạo. Đầu tiên ông bí mật truyền giáo trong số những bạn bè thân thiết và họ trở thành những tín đồ đầu tiên, về sau sự truyền đạo trở nên công khai, đối tượng mở rọâng tới quần chúng ở Mecca nhưng bị giới quý tộc đả kích và bức hại. Môhamet đã trốn được đến Yathrib (sau đổi thành Madinah – Thành phố tiên tri). Ơû đây ông phát động và tổ chức quần chúng đấu tranh và cuộc cách mạng của ông giành được thắng lợi. Sau đó ông tổ chức vũ trang cho các tín đồ (Muslim) và dùng khẩu hiệu “Chiến đấu vì Allah” và đè bẹp được giới quý tộc ở Mecca.

Cùng với việc mở rộng phạm vi truyền đạo Mohamet còn liên minh với các bộ tộc và dùng sức mạnh buộc các thế lực còn lại phải quy thuận theo Hồi giáo. Có thể nói cuộc cách mạng do Mohammed lãnh đạo là một cuộc cách mạng tôn giáo và cải cách xã hội kết hợp với nhau. Sự ra đời của Hồi giáo đã mở ra một thời kỳ lịch sử mới thống nhất trên bán đảo Ảrập.

Hiện nay trên thế giới có khoảng 900 triệu tín đồ Hồi giáo có mặt ở hơn 50 quốc gia trên khắp các châu lục nhưng tập trung chủ yếu ở các nước Ảrập (trừ Li băng và Ixraen) và chiếm đại đa số ở các nước như Iran, Irắc, Pakistan, Apganistan, Thổ Nhĩ Kỳ… và một số nước vùng Trung Á và cả ở Đông nam Á (chủ yếu ở Inđonesia). Một số quốc gia tự coi mình là quốc gia Hồi giáo. Tuy nhiên Hồi giáo ở các quốc gia khác nhau nên đã phân chia thành các hệ phái khác nhau nhưng về cơ bản không đối lập nhau.

Nội dung cơ bản của Hồi giáo

Giáo lý của Hồi giáo

Đặc điểm giáo lý của Hồi giáo là rất đơn giản nhưng luật lệ và lễ nghi rất phức tạp và nghiêm khắc thậm chí đến mức khắt khe và nhiều khi nó vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo và trở thành một chuẩn mực pháp lý của xã hội. Trong Hồi giáo khó thấy ranh giới giữa cái thiêng và cái tục.
Giáo lý cơ bản của Hồi giáo là Kinh Coran (Coran theo nguyên nghĩa tiếng Ảrập là “tụng đọc”) vì đó là những lời nói của Môhamet được ghi lại và những lời này do thánh Allah thông qua thiên sứ Gabrien “khải thị” cho Mohammed. Kinh Coran tổng cộng có 30 quyển, 114 chương hơn 6200 tiết (là những đoạn thơ). Nội dung Kinh Coran vô cùng phong phú đại thể bao gồm những tín ngưỡng cơ bản và chế độ tôn giáo của đạo Hồi và những ghi chép về tình hình xã hội trên bán đảo Ảrập đương thời cùng với những chính sách về chủ trương xã hội, quy phạm luân lý đạo đức… Giáo lý Hồi giáo gồm các điểm cơ bản sau:

+ Allah là đấng tối cao sinh ra trời đất.

+ Allah là đấng tối cao sinh ra muôn loài trong đó có con người.

+ Con người là bình đẳng trước Allah nhưng số phận và tài năng tạo nên sự khác nhau giữa những con người .

+ Số phận con người có tính định mệnh và do Allah sắp đăït.

+ Tín đồ Hồi giáo phải luôn có thái độ đúng: trong cộng đồng (Hồi giáo) thì phải kiên nhẫn chịu đựng, phục tùng Allah, đối với người ngoài thì phải kiên quyết bảo vệ mọi lợi ích của Hồi giáo và phải có tinh thần thánh chiến.

+ Về y lý: khuyên bảo con người phải giữ gìn sức khỏe.

+ Những lời khuyên về đạo lý:

* Tôn thờ thần cao nhất là Allah.
* Sống nhân từ độ lượng.
* Thưởng phạt công minh, trừng phạt chủ yếu đối với kẻ thù.
* Thánh chiến là thiêng liêng và bắt buộc.
* Kiên định và nhẫn nại trong mọi thử thách.
* Tin vào định mệnh và sự công minh của Allah.
* Cấm một số thức ăn: thịt heo, rượu bia và các chất có men. (Heo là con vật gắn với khởi nguyên: phát triển là nhờ chăn nuôi).
* Trung thực.
* Không tham của trộm cắp
* Làm lễ và tuân thủ các nghi lễ Hồi giáo.

Tín ngưỡng Hồi giáo

Xét về niềm tin, tín đồ Hồi giáo tin vào Alah, sứ giả Mohammed, thiên sứ, thiên kinh, hậu thế.

– Tin vào Alah: Đây là một nội dung quan trọng của tín điều cơ bản. Theo Hồi giáo, Alah là vị thần duy nhất trong vũ trụ, tự sinh ra và bất tử. Alah sáng tạo thế giới, và là chúa tể. Hồi giáo không thờ ảnh tượng của Alah vì họ quan niệm Alah toả khắp nơi, không một hình tượng nào đủ để thể hiện Alah.

– Tin vào sứ giả Mohammed: Giáo lý Hồi giáo cho rằng Allah từng cử nhiều sứ giả đến các dân tộc khác nhau trong những thời kỳ nhất định để truyền đạt ngôn luận của Allah cho con người. Có đến 5 sứ giả. Trong đó Mohammed là sứ giả cuối cùng mà Allah chọn lựa. Đây cũng là sứ giả xuất sắc nhất. Chỉ có Mohammed là được nhận những ngôn luận của Allah một cách đầy đủ nhất.

– Tin Thiên kinh: Allah từng trao thiên kinh cho các sứ giả trước Mohammedû, mỗi người một bộ. Nhưng những bộ ấy không đầy đủ, bị thất lạc hoặc bị người đời sau giải thích sai lệch. Chỉ có bộ thiên kinh mà Allah truyền cho Mohammed là bộ kinh điển cuối cùng nhưng đầy đủ nhất. Đó là kinh Coran. Vì vậy, kinh Coran dưới mắt người Hồi giáo làø bộ kinh điển thần thánh duy nhất.

– Tin vào Thiên sứ: Thiên sứ do Allah tạo ra, là một loại linh hồn, vô hình trước con người, không có tính thần. Mỗi thiên sứ có một nhiệm vụ. Trong Thiên sứ cũng có sự phân chia cao thấp. Cao nhất là thiên sứ Gabrien. Con người không phải phủ phục trước thiên sứ.

– Tin vào hậu thế: Sẽ có ngày tận thế. Trong ngày ấy, mọi sinh linh sẽ kết thúc để rồi tất cả sống lại nhận sự phán xét của Allah. Dựa vào hành vi của mỗi người mà Allah quyết định: thiên đường dành cho người thiện, địa ngục là nơi của kẻ ác.
Nghĩa vụ Hồi giáo

Hệ thống nghĩa vụ của tín đồ Hồi giáo rất rộng và chi tiết, dựa trên cơ sở kinh Coran và sách Thánh huấn.

Các tín đồ có 5 nghĩa vụ chủ yếu. Đó là niệm, lễ, trai, khoá, triều. Đây là 5 trụ cột của Hồi giáo, tạo nên sườn cốt cho đời sống của người Hồi giáo.

– Niệm: tín đồ phải thường xuyên tụng niệm thành tiếng tín điều cơ bản (Vạn vật không phải là Chúa, chỉ có Chân chúa; Mohammed là sứ giả của Chúa).

– Lễ: tức là lễ bái. Các tín đồ mỗi ngày hành lễ 5 lần (sáng, trưa, chiều, tối, đêm). Thứ 6 hàng tuần thì làm lễ tại thánh đường 1 lần vào buổi trưa. Trước khi làm lễ, tín đồ phải rửa mặt, tay chân, quỳ xuống, hướng về đền Kabah để cầu nguyện.

– Trai: tức là trai giới. Tháng 9 theo lịch Hồi là tháng trai giới của Hồi giáo. Trong tháng này mọi tín đồ không ăn uống, quan hệ tính dục từ khi mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn, trừ một số trường hợp đặc biệt. Kết thúc tháng này là lễ Phá bỏ sự nhịn đói, các tín đồ sẽ cùng nhau cầu nguyện, sau đó tặng quà cho nhau, và bố thí.

– Khoá: các tín đồ có nghĩa vụ đóng góp cho các hoạt động từ thiện. Sự đóng góp đó có thể là tự nguyện, nhưng cũng có khi là bắt buộc dựa vào tài sản của tín đồ (khoảng 1/40 tài sản).

– Triều: Các tín đồ có nghĩa vụ hành hương về Mecca ít nhất 1 lần trong cuộc đời, để triều bái Kabah trong tháng 12 theo lịch Hồi (hành hương Haji). Cuộc lễ triều bái kéo dài trong 10 ngày. Ngày cuối cùng tín đồ sẽ hiến lễ là một con cừu hoặc lạc đà, hoặc một con vật có sừng. Triều bái Mecca trong dịp này là chính triều. Còn phó triều thì diễn ra trong thời gian bất kỳ của năm và ít nghi lễ hơn.

Ngoài ra, Hồi giáo còn có nhiều quy định cụ thể về hành vi của tín đồ trong các mối quan hệ xã hội.
Tổ chức Hồi giáo

– Thánh đường Hồi giáo là nơi sinh hoạt tập thể và có tính thiêng với các tín đồ. Thánh đường gồm có Đại Thánh đường và Tiểu Thánh đường. Trong Thánh đường có bài trí đơn giản, không bàn ghế, không có đồ thờ quý hay nhạc cụ, chỉ có chiếc gậy mà theo truyền thuyết là của giáo chủ Môhammet đã dùng nó để đi truyền đạo.

– Hệ thống chức sắc gồm có Giáo chủ (Mufty), phó giáo chủ (Naib Mufty), Giáo cả (Ha Kim), phó giáo cả (Naib Ha Kim), Imân, Khatib, Tuan, Bilat, Slak, HaDji.

( Sưu tầm)

KHẤT THỰC-NÉT VĂN HÓA ĐỘC ĐÁO CỦA NGƯỜI LÀO


Nguyễn Tiến Dũng (CĐSP Gia lai)

Những ngày ở Lào, tôi có nhiều buổi theo chân các nhà sư đi khất thực quanh phố Pakse-Champassak-Lào.

Mỗi buổi sáng, khoảng 6h00, các nhà sư tập trung tại ngôi chùa lớn Wat Luang ở đầu cầu Pakse. Sau khi ổn định vị trí, các nhà nhà sư bắt đầu khất thực quanh phố. Đi dầu là các “hủa chua” (những sư tu lâu năm) và các “a chang” (sư thầy), sau đó là các sư trẻ, tì kheo, sa di. Tất cả đều không mang dép, đi bình thường, không nhanh không chậm. Đến mỗi ngã tư, ngã ba, đoàn khất thực lại chia nhỏ để tỏa về các xóm. Theo truyền thống của Phật giáo Nam tông, mỗi buổi khất thực các sư không đi quá bảy nhà, lần lượt thứ tự mà đi, không phân biệt khu vực giàu nghèo, thức ăn ngon dở; không bỏ sót nhà nào, không ngó qua ngó lại, không được mở miệng nói chuyện, không đứng trước cửa chợ. Bình bát thường làm bằng gốm sứ tráng men, không được làm bằng các kim loại quý như vàng bạc. Ở Lào, tôi thường thấy bình bát của các nhà sư thường làm bằng đồng hoặc mạ bạc, có dây đeo và nắp đậy bằng vải.

Người dân quỳ bên đường chờ sẵn hoặc đặt lễ vật lên một chiếc bàn nhỏ trước cửa mỗi nhà để dâng lễ vật (gọi là “xăng cà vai”). Họ thường khoác “cà piêng” (một tấm vải mang chéo qua người, thêu hoa văn rất đẹp, được coi như áo tràng của người Việt) và không mang giày dép để thể hiện lòng thành kính. Lễ vật thường là xôi, trái cây, bánh các loại, nước lọc, hoặc các thức ăn chín, để các sư độ nhật trong ngày. Không được dâng các lễ vật sống, các thức ăn chiên xào và tiền. Các sư thầy đến nhận đồ khất thực và không quên cầu nguyện, ban phước cho mọi người. Nước dâng lễ được tạt xuống đất hoặc vào cây cối như gửi tới người đã khuất những lời thỉnh nguyện an lành. Đi đủ một vòng quanh phố, các sư tập trung về chùa dùng bữa sáng.

Mỗi ngày, các sư chỉ ăn một bữa duy nhất trước khi trời đứng bóng. Vật phẩm khất thực thường được chia ra làm bốn phần: một phần nhường cho các sư đồng tu nếu họ không có hay có ít, một phần dành cho người nghèo, một phần dành cho con vật sống chung như chó, mèo và phần còn lại của người khất thực dùng. Khi dùng thức ăn, người tu hành chỉ xem đó là việc duy trì sự sống, không ham ngon, không bỏ dở. Từ đó cho đến trưa hôm sau, các sư thầy tham gia các hoạt động thiền định, lễ bái, học tập, rèn luyện thân thể mà không được ăn uống, kể cả sữa; chỉ uống nước lọc, có thể ngậm kẹo nhưng không được nhai.

Ngày đầu tháng, các sư không đi khất thực mà người dân vào chùa dâng lễ (gọi là “kò vạt”). Mỗi người mang vật dâng lễ trong một chiếc bát lớn, thắp nhang đèn đặt trước mặt và cùng cầu nguyện với các sư. Trước khi vào chánh điện, họ chỉnh đốn lại trang phục và nhất thiết phải mặc “cà piêng”. Các cao tăng tọa thiền tại vị trước chánh điện, người dân dâng lễ vật trực tiếp cho các vị ấy. Các sư trẻ đặt bình bát trên một chiếc bàn dài, người dâng lễ xếp thành hàng, lần lượt bỏ các vật phẩm vào từng bình bát. Sau buổi lễ, các sư trẻ tự xuống lấy bình bát của mình.

Khất thực là một trong nhiều hình thức tu tập của người theo đạo Phật có từ khi Phật Thích Ca khai sáng. Truyền thống này giúp cho người tu hành vừa độ nhật vừa bỏ lòng sân si, tâm kiêu căng, ngã mạn và gián tiếp tạo ruộng phước công đức cho người cúng dường vật phẩm. Ở Lào, khất thực trở nên một nếp sinh hoạt quen thuộc với mỗi người dân. Đây là một nét văn hóa độc đáo của đất nước Phật giáo hiền hòa, yên bình này./.
N. T. D

Click here to view the original image of 598x498px.

Click here to view the original image of 656x523px.

Bài viết của thầy Nguyễn Tiến Dũng – Giảng viên CĐSP Gia Lai