Sản vật tiến Vua ở Việt nam

1. Bánh Phu Thê

Là nơi phát tích của vương triều nhà Lý, Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) thường được gọi là đất vua. Đây cũng vùng đất của một đặc sản nổi tiếng, đã được đưa vào tận kinh đô Huế để tiến vua, đó là bánh phu thê.
Đúng như tên gọi của mình (phu thê nghĩa là vợ chồng), món bánh này không lẻ chiếc mà đi theo cặp. Phía sau những lớp là chuối, chiếc bánh hiện ra với lớp vỏ làm bằng bột nếp óng ánh màu vàng tươi. Nhân bánh là đỗ xanh giã nhuyễn, nhào đường, có thể cho thêm dừa.

2. Sâm cầm

Sâm cầm hồ Tây là món ăn nổi tiếng, đã đi vào câu ca dao “Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây” của đất Thăng Long.
Quan niệm dân gian cho rằng loài chim này di trú từ phương Bắc về phương Nam, chúng đào ăn nhân sâm trên đỉnh các núi cao ở Trung Quốc, Hàn Quốc nên được gọi là sâm cầm. Đó là lý do thịt Sâm cầm được cho là một món ăn đại bổ. Đây cũng là một món ăn khoái khẩu của vua Tự Đức.
Tương truyền, làng Nghi Tàm bên hồ Tây được lệnh mỗi năm phải tiến vua 40-50 con chim Sâm cầm, nếu thiếu sẽ bị phạt nặng.

3. Cá Anh Vũ

Nếu Sâm cầm là niềm tự hào của hồ Tây thì cá Anh vũ là thương hiệu bất hủ của ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Với những thớ thịt trắng, quánh và đặc biệt là khối sụn môi giòn sần sật, cá anh vũ được người sành ẩm thực cho là ngon hơn bất kỳ loài cá nào của sông nước. Vì vậy, từ xa xưa, cá anh vũ đã được dùng làm thức tiến ăn tiến vua, được các bộ chính sử ghi lại.
Cũng giống như sâm cầm hồ Tây, ngày nay cá Anh vũ đã gần như biến mất tại nơi vùng nước gắn với danh tiếng của mình.

4. Chè long nhãn

Sau mỗi bữa ăn đầy sơn hào hải vị, vua chúa ngày xưa tráng miệng bằng gì? Một trong những câu trả lời là chè long nhãn hạt sen phố Hiến (Hưng Yên). Nguyên liệu chính của món chè tiến vua này là những quả nhãn lồng phố Hiến, loại nhãn có hương vị thơm quý phái, cùi dầy, ăn giòn, ngọt hơn bất cứ các loại nhãn nào khác.

5. Gà Đông Tảo

Bên cạnh nhãn lồng, đất Hưng Yên còn có một đặc sản tiến vua đặc sắc khác là gà Đông Tảo.
Là giống gà quý chỉ có ở huyện Khoái Châu, gà Đông Tảo còn được gọi là gà chân voi đôi chân to sần sùi như chân voi, thân hình chắc nịch. Giống gà này rất khó nuôi, đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào.

6. Chuối ngự Nam Định

Vẫn còn được trồng chọ đến ngày nay, chuối Ngự cho quả rất nhỏ, khi chín có màu vàng ướm như tơ tằm, mùi thơm ngát, vị ngọt thanh tao đầy quyến rũ… Ảnh: Yume.
Tương truyền, vào thời Trần, từ phủ Thiên Trường đến ngoài thành Nam Định, nhiều vùng là quê hương, thái ấp của vua quan nhà Trần. Cảm kích trước tài năng và đức độ của các bậc trị nước, dân thành Nam đã trồng một sản vật quý để dâng vua, đó chính là chuối ngự.

7. Cốm làng Vòng

Cốm làng Vòng, sản vật đặc trưng của đất Thăng Long đã nổi tiếng từ cách đây 1.000 năm, khi được đưa vào cung tiến vua các triều Lý.
Ngày nay, cứ mỗi mùa thu món ăn chơi làm từ lúa non này lại theo các gánh hàng rong ruổi khắp các phố phường Hà Nội. Cốm Vòng thường được mua về ăn với chuối chín hoặc nấu chè cốm. Đây cũng là nguyên liệu chính của bánh cốm Hàng Than, một món ăn cũng rất đậm chất Hà Nội.

8. Mắm tép Hà Yên

Mắm tép Hà Yên (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là một đặc sản quý và độc đáo ở vùng chiêm trũng xứ Thanh, thời xưa thường được dùng để tiến vua.
Để làm loại mắm này, các chức sắc địa phải cử người đến tận khe Gia Giã, làng Cổ Đam (vùng Bỉm Sơn bây giờ) để đánh riêng một loại tép quý, là tép riu nhỏ, có mầu trong xanh. Khi nấu nước mắm cũng phải chọn người nấu giỏi nhất vùng. Khi hoàn thành mắm có ánh vàng, sóng sánh như mật ong,

9. Rau muống Linh Chiểu

Trắng nõn và mềm giòn như giá đỗ, hương vị hài hòa, rau muống Linh Chiểu (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thời xưa rất được các bậc vua chúa ưa thích. Bởi vậy, giống rau này còn có tên gọi khác là rau muống tiến vua.
Để bảo đảm chất lượng, việc chăm sóc rau rất kỳ công và vất vả, đất trồng rau phải nằm sát sông, được hưởng mạch nước sủi trong vắt và phù sa sông Hồng bồi đắp. Do việc chăm sóc phức tạp, hiệu quả kinh tế không cao, ngày nay giống rau đặc sản này đang dần bị mai một.

10. Yến sào

Được làm từ nước dãi của những con chim yến, yến sào (tổ chim yến) là một đặc sản có hương vị rất hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao.
Từ thời xưa, yến sào đã được khai thác tại các đảo Yến ở ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa để cung tiến các vua chúa.
Ngày nay, cơ hội thưởng thức sản vật này vẫn nằm ngoài khả năng của đa số người dân Việt Nam bởi giá thành của chúng rất cao, từ 50-60 triệu đồng/kg. Phần lớn yến sào khai thác được xuất khẩu để thu ngoại tệ.

Sài Gòn theo dòng lịch sử

Cho đến trước thế kỷ 16, Sài Gòn – Gia Định vẫn là miền đất hoang, vô chủ, địa bàn của vài nhóm dân cư cổ cho tới khi người Việt xuất hiện.. Những người Việt đầu tiên tự động vượt biển tới khai vùng đất này hoàn toàn không có sự tổ chức của nhà Nguyễn. Nhờ cuộc hôn nhân giữa công nữ Ngọc Vạn với vua Chân Lạp Chey Chetta II từ năm 1620, mối quan hệ giữa Đại Việt và Chân Lạp trở nên êm đẹp, dân cư hai nước có thể tự do qua lại sinh sống. Khu vực Sài Gòn, Đồng Nai bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Trước đó, người Chăm, người Man cũng sinh sống rải rác ở đây từ xa xưa.

Giai đoạn từ 1623 tới 1698 được xem như thời kỳ hình thành của Sài Gòn sau này. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam qua Campuchia và Xiêm. Hai sự kiện quạn trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi ngày nay). Có thể nói Sài Gòn hình thành từ ba cơ quan chính quyền này.

Năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần cho một nhóm người Hoa “phản Thanh phục Minh” tới Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn để lánh nạn. Đến năm 1698, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Cảnh kinh lý vào miền Nam. Trên cơ sở những lưu dân Việt đã tự phát tới khu vực này trước đó, Nguyễn Hữu Cảnh cho lập phủ Gia Định và hai huyện Phước Long, Tân Bình.. Vùng Nam Bộ được sát nhập vào cương vực Việt Nam.

Thời điểm ban đầu này, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo những phương thức mới, mang lại hiệu quả hơn. Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn miền Nam. Các công trình kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, Vĩnh Tế… được thực hiện. Qua 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển bao quanh những đô thị sầm uất được hình thành.

Năm 1788, Nguyễn Ánh tái chiếm Sài Gòn, lấy nơi đây làm cơ sở để chống lại Tây Sơn. Năm 1790, với sự giúp đỡ của hai sĩ quan công binh người Pháp, Theodore Lebrun và Victor Olivier de Puymanel, Nguyễn Ánh cho xây dựng Thành Bát Quái làm trụ sở của chính quyền mới. “Gia Định thành” khi đó được đổi thành “Gia Định kinh”. Tới năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi ở Huế, miền Nam được chia thành 5 trấn. Sáu năm sau, 1808, “Gia Định trấn” lại được đổi thành “Gia Định thành”. Trong khoảng thời gian 1833 đến 1835, Lê Văn Khôi khởi binh chống lại nhà Nguyễn, Thành Bát Quái trở thành địa điểm căn cứ. Sau khi trấn áp cuộc nổi dậy, năm 1835, vua Minh Mạng cho phá Thành Bát Quái, xây dựng Phụng Thành thay thế..

Ngay sau khi chiếm được thành Gia Định vào năm 1859, người Pháp gấp rút quy hoạch lại Sài Gòn thành một đô thị lớn phục vụ mục đích khai thác thuộc địa. Theo thiết kế ban đầu, Sài Gòn bao gồm cả khu vực Chợ Lớn. Nhưng đến 1864, nhận thấy diện tích dự kiến của thành phố quá rộng, khó bảo đảm về an ninh, chính quyền Pháp quyết định tách Chợ Lớn khỏi Sài Gòn. Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố, như Dinh Thống đốc Nam Kỳ, Dinh Toàn quyền, được thực hiện. Sau hai năm xây dựng và cải tạo, bộ mặt Sài Gòn hoàn toàn thay đổi.

Đô thành Sài Gòn khi đó được thiết kế theo mô hình châu Âu, nơi đặt văn phòng nhiều cơ quan công vụ như: dinh thống đốc, nha giám độc nội vụ, tòa án, tòa thượng thẩm, tòa sơ thẩm, tòa án thương mại, tòa giám mục… Lục tỉnh Nam Kỳ là thuộc địa của Pháp và Sài Gòn nằm trong tỉnh Gia Định. Vào năm 1861, địa phận Sài Gòn được giới hạn bởi một bên là rạch Thị Nghè và rạch Bến Nghé với một bên là sông Sài Gòn cùng con đường nối liền chùa Cây Mai với những phòng tuyến cũ của đồn Kỳ Hòa. Đến năm 1867, việc quản lý Sài Gòn được giao cho Ủy ban thành phố gồm 1 ủy viên và 12 hội viên. Cho tới nửa đầu thập niên 1870, thành phố Sài Gòn vẫn nằm trong địa hạt hành chính tỉnh Gia Định. Ngày 15 tháng 3 năm 1874, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh thành lập thành phố Sài Gòn.

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, Sài Gòn trở thành trung tâm quan trọng, không chỉ hành chính mà còn kinh tế, văn hóa, giáo dục của cả Liên bang Đông Dương.

Giai đoạn từ 1623 tới 1698 được xem như thời kỳ hình thành của Sài Gòn sau này. Năm 1623, chúa Nguyễn sai một phái bộ tới yêu cầu vua Chey Chettha II cho lập đồn thu thuế tại Prei Nokor (Sài Gòn) và Kas Krobei (Bến Nghé). Tuy đây là vùng rừng rậm hoang vắng nhưng lại nằm trên đường giao thông của các thương nhân Việt Nam qua Campuchia và Xiêm. Hai sự kiện quạn trọng tiếp theo của thời kỳ này là lập doanh trại và dinh thự của Phó vương Nặc Nộn và lập đồn dinh ở Tân Mỹ (gần ngã tư Cống Quỳnh – Nguyễn Trãi ngày nay). Có thể nói Sài Gòn hình thành từ ba cơ quan chính quyền này.

Thời điểm ban đầu này, khu vực Biên Hòa, Gia Định có khoảng 10.000 hộ với 200.000 khẩu. Công cuộc khai hoang được tiến hành theo những phương thức mới, mang lại hiệu quả hơn. Năm 1802, sau khi chiến thắng Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi và đẩy mạnh công cuộc khai khẩn miền Nam. Các công trình kênh đào Rạch Giá – Hà Tiên, Vĩnh Tế… được thực hiện. Qua 300 năm, các trung tâm nông nghiệp phát triển bao quanh những đô thị sầm uất được hình thành.

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, năm 1863, chính quyền Pháp đã mời một đoàn hát sang biểu diễn tại Sài Gòn để mua vui cho lính viễn chinh Pháp. Lúc đầu, đoàn biểu diễn tạm tại nhà gỗ của dinh Thủy sư đề đốc tại Công trường Đồng Hồ (Place de l’Horloge) (góc Nguyễn Du – Đồng Khởi hiện nay). Sau đó, một nhà hát tạm được lập ở vị trí Khách sạn Caravelle ngày nay. Năm 1898, Nhà hát lớn được khởi công ngay cạnh nhà hát cũ và đến ngày 1 tháng 1 năm 1900 thì khánh thành.

Giữa hai cuộc Thế chiến thứ nhất và Thế chiến thứ hai, việc đem gánh hát từ Pháp sang đây biểu diễn hoàn toàn do sự trợ cấp của chính quyền thành phố. Tuy có dự định nơi đây sẽ trở thành một khu trung tâm giải trí dành riêng cho những nhân vật sang trọng, nhưng Nhà Hát Tây càng ngày càng mất khách, vì các tay ăn chơi bị các hộp đêm, các quán ăn có nhạc và khiêu vũ giúp vui thu hút hầu hết… Sau thời gian đầu hoạt động sôi nổi, nhà hát chỉ còn sinh hoạt cầm chừng với các buổi ca hát, hòa nhạc và cải lương. Do có nhiều chỉ trích về kiến trúc rườm rà và chi phí tổ chức tốn kém, nên chính quyền thành phố đã từng có ý định chuyển nhà hát thành nơi hòa nhạc (Salle de Concert). Tuy nhiên, ý định này đã không được thực hiện. Thay vào đó, năm 1943 phần trang trí, điêu khắc ở mặt tiền nhà hát bị xóa bỏ (tượng nữ thần nghệ thuật, các dây hoa, hai cây đèn…) nhằm trẻ trung hóa phong cách kiến trúc. Tuy nhiên, vào năm 1944, nhà hát bị phi cơ Đồng Minh oanh tạc, làm hư hại hại nặng, phải ngưng hoạt động.

Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, do hoàn cảnh chiến tranh, nhà hát không được tu bổ nhiều. Năm 1954, nơi đây được sử dụng làm nơi ở tạm trú cho các thường dân Pháp từ miền Bắc di cư vào Nam theo Hiệp định Genève năm 1954. Năm 1955, nhà hát được tu bổ cải tạo nhưng lại được sử dụng với chức năng tòa Trụ sở Quốc hội (sau gọi là Hạ nghị viện) của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Sau năm 1975, Nhà hát được trả lại chức năng ban đầu là tổ chức biểu diện nghệ thuật. Năm 1998, nhân dịp 300 năm khai sinh Thành phố Sài Gòn, chính quyền thành phố đã cho tu bổ lớn với phương châm bảo tồn phong cách kiến trúc ban đầu, với một số trang trí, điêu khắc nổi ở mặt tiền nhà hát như tượng nữ thần nghệ thuật, các dây hoa… được phục chế.

Nguyên thủy, chợ Bến Thành đã có từ trước khi người Pháp xâm chiếm Gia Định. Ban đầu, vị trí của chợ nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh một bến sông gần thành Gia Định (bấy giờ là thành Quy, còn gọi là thành Bát Quái). Bến này dùng để cho hành khách vãng lai và quân nhân vào thành, vì vậy mới có tên gọi là Bến Thành, và khu chợ cũng có tên gọi là chợ Bến Thành.

Chợ Bến Thành thời kỳ đầu được xây bằng gạch, sườn gỗ, lợp tranh, được mô tả như là “phố chợ nhà cửa trù mật ở dọc theo bến sông. Chỗ đầu bến này có lệ đến đầu mùa xuân gặp ngày tế mạ, có thao diễn thủy binh, nơi bến có đò ngang chở khách buôn ngoài biển lên. Đầu phố phía Bắc là ngòi Sa ngư, có gác cầu ván ngang qua, hai bên nách cầu có dãy phố ngói, tụ tập trăm thứ hàng hóa, dọc bến sông ghe buôn lớn nhỏ đến đậu nối liền”[1]. Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của Lê Văn Khôi (1833-1835), thành Quy bị triệt hạ, phố chợ Bến Thành cũng không còn sầm uất như trước.

Trước khi Pháp đánh chiếm Gia Định, khu vực xung quanh thành Gia Định (bấy giờ là thành Phụng) mới chỉ có 100 ngàn dân và chợ Bến Thành là nơi đông đúc nhất. Cạnh khu chợ, dọc theo bờ sông Bến Nghé, các ghe thương thuyền thường đậu chen chúc nhau, tạo thành một thành phố nổi trên mặt nước. Tuy nhiên, khi ấy khu họp chợ trên bến mới chỉ là một dãy nhà trống lợp ngói. Tháng 2 năm 1859, Pháp chiếm thành Gia Định và hai ngày sau, các binh lính người Việt đã tổ chức hỏa công thiêu rụi cả thành phố, tất nhiên chợ Bến Thành cũng bị thiêu hủy. Sau khi đã vững chân trên mảnh đất Nam Kỳ, năm 1860, người Pháp đã cho cho xây cất lại chợ Bến Thành ở địa điểm cũ (thời Việt Nam Cộng hòa là địa điểm Tổng Ngân khố, nay là Trường đào tạo cán bộ ngân hàng trên đường Nguyễn Huệ). Ngôi chợ được xây cất bằng cột gạch, sườn gỗ, và lợp lá. Đến tháng 7 năm 1870, chợ bị cháy mất một gian, phải xây cất lại bằng cột gạch, sườn sắt, lợp bằng ngói, tất cả có năm gian: gian thực phẩm, gian hàng cá, gian hàng thịt, gian hàng ăn uống và gian hàng tạp hóa. Trong năm gian hàng này, chỉ có gian hàng thịt được lợp bằng tôn, nền lót đá xanh.

Thời đó, khu chợ được xây dựng bên bờ phía nam một con kênh, được gọi là Kinh Lớn. Phía trước chợ, dọc bờ kênh là một con đường được người Pháp đặt tên là đường Charner, hay một tên gọi khác là đường Quảng Đông (Rue de Canton), bởi đa số người Hoa làm nghề buôn bán ở đây đều là người Quảng Đông. Phía đối diện bờ kênh là đường Rigault de Genouilly. Do vị trí nằm giao điểm của khu đô thị và hợp lưu của hai tuyến đường thủy là kênh Lớn và rạch Cầu Sấu (nay là đường Hàm Nghi), ghe thuyền có thể cập bến và đổ người lên chợ bất cứ ở phía bên này hay bên kia. Còn người bên đất liền muốn qua chợ thì có thể đi qua những chiếc cầu gỗ xinh xắn, do đó chợ Bến Thành luôn luôn nhộn nhịp.

Ngôi chợ mới do hãng thầu Brossard et Maupin khởi công xây dựng từ năm 1912 đến cuối tháng 3 năm 1914 thì hoàn tất. Lễ ăn mừng chợ khánh thành được báo chí thời đó gọi là “Tân Vương Hội”, do được diễn ra trong ba ngày 28, 29 và 30 tháng 3 năm 1914, với pháo bông, xe hoa và hơn 100.000 người tham dự, kể cả từ các tỉnh đổ về.

Xem toàn bộ nội dung tại đây:

http://www.mediafire.com/?h7eqid54stzaq9z

(Tổng hợp từ http://lophocvuive.com)

Vườn quốc gia

Vườn quốc gia là một khu vực đất hay biển được bảo tồn bằng các quy định pháp luật của chính quyền sở tại. Vườn quốc gia được bảo vệ nghiêm ngặt khỏi sự khai thác, can thiệp bởi con người. Vườn quốc gia thường được thành lập ở những khu vực có địa mạo độc đáo có giá trị khoa học hoặc những khu vực có hệ sinh thái phong phú, có nhiều loài động-thực vật có nguy cơ tuyệt chủng cao cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước sự khai thác của con người. Các vườn quốc gia là một khu vực được bảo vệ theo quy định của IUCN loại II.

Các vườn quốc gia thông thường nằm tại các khu vực chủ yếu là chưa phát triển, thường là những khu vực với động-thực vật bản địa quý hiếm và các hệ sinh thái đặc biệt (chẳng hạn cụ thể là các loài đang nguy cấp), sự đa dạng sinh học, hay các đặc trưng địa chất đặc biệt. Đôi khi, các vườn quốc gia cũng được thành lập tại các khu vực đã phát triển với mục tiêu làm cho khu vực đó trở lại gần giống như tình trạng ban đầu của nó, càng gần càng tốt.

Vườn quốc gia tại Việt Nam là một danh hiệu được Chính phủ Việt Nam công nhận chính thức thông qua nghị định. Thông thường, vườn quốc gia nằm trên địa phận nhiều tỉnh, thành phố thì do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam quản lí còn vườn quốc gia nằm trong địa giới một tỉnh, thành phố thì do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố đó quản lý. Năm 1966, Việt Nam có vườn quốc gia đầu tiên là vườn quốc gia Cúc Phương thuộc địa bàn 3 tỉnh Ninh Bình, Thanh Hóa, Hòa Bình. Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia với tổng diện tích các vườn quốc gia khoảng 10.350,74 km² (trong đó có 620,10 km² là mặt biển), chiếm khoảng 2,93% diện tích lãnh thổ đất liền.

Đến tháng 8/2010, cả nước có 30 vườn quốc gia gồm: Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Xuân Thủy, Cúc Phương,Bến En, Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha-Kẻ Bàng, Bạch Mã, Núi Chúa, Bidoup Núi Bà, Phước Bình, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka Kinh, Yok Đôn, Lò Gò-Xa Mát, Tràm Chim, Mũi Cà Mau, U Minh Hạ, U Minh Thượng, Phú Quốc, Côn Đảo.

Vườn quốc gia và các danh hiệu khác

Di sản Asean

4 vườn quốc gia được công nhận di sản ASEAN đó là vườn quốc gia Hoàng Liên, Ba Bể, Chư Mom Ray và Kon Ka Kinh. Vườn di sản ASEAN là danh hiệu có giá trị để phát triển du lịch, nghiên cứu khoa học, văn hóa, giáo dục. Để được công nhận là vườn di sản, vườn quốc gia phải đảm bảo được các tiêu chí về tính tự nhiên, hoang dã, tính nguyên vẹn về hệ sinh thái, sự đa dạng và giá trị nổi bật quần thể. Các vườn di sản ASEAN phải thực thi và chịu trách nhiệm về các chính sách bảo tồn sinh vật quý hiếm sống trong khu vực Đông Nam Á.

Di sản thế giới

Một số vườn quốc gia Việt Nam đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới như Phong Nha-Kẻ Bàng, hoặc là một phần của di sản thiên nhiên thế giới như Bái Tử Long thuộc di sản Vịnh Hạ Long.

Toàn bộ hoặc một phần của một số vườn quốc gia Việt Nam đã hoặc đang được lập hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới như: Hồ Ba Bể thuộc Vườn quốc gia Ba Bể, hang Con Moong thuộc Vườn quốc gia Cúc Phương, Vườn quốc gia Cát Tiên.

Khu dự trữ sinh quyển thế giới

Nhiều vườn quốc gia là vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển thế giới (một danh hiệu do UNESCO trao tặng) như:

Vườn quốc gia Cát Bà là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà

Vườn quốc gia Xuân Thủy, cùng với Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng

Vườn quốc gia Pù Mát, cùng với các khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển miền tây Nghệ An

Vườn quốc gia Cát Tiên trùng ranh giới với khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên

Các vườn quốc gia Mũi Cà Mau và U Minh Hạ cùng với dãy phòng hộ ven Biển Tây là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển Mũi Cà Mau

Các vườn quốc gia U Minh Thượng và Phú Quốc, cùng với Rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương – Kiên Hải là vùng lõi của Khu dự trữ sinh quyển ven biển và biển đảo Kiên Giang.

Khu RAMSAR

Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (viết tắt là RAMSAR) công nhận các khu bảo tồn thiên nhiên là các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế nhằm sử dụng bền vững chúng. Các khu vực này được đưa vào Danh sách các khu RAMSAR của thế giới.

Hiện tại Việt Nam có 2 khu RAMSAR, đó là khu RAMSAR Xuân Thuỷ nằm trong Vườn quốc gia Xuân Thủy[10] và khu RAMSAR Bàu Sấu thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên

STT Tên vườn

(Năm TL)

Đặc điểm hành chính Đặc điểm hệ sinh thái
        1  

Bái Tử Long

(2001)

– Diện tích: 15.783 ha- Địa điểm: Huyện Vân Đồn- Quảng Ninh- Quản lý: UBND tỉnh  Quảng Ninh

 

        Hệ sinh thái của VQG Bái Tử Long rất đa dạng. Bao gồm HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đá vôi, HST rừng lá rộng thường xanh nhiệt đới trên đảo đất, HST rừng ngập mặn, HST thảm cỏ biển, HST rạn san hô, HST thung áng trong đảo đá vôi.Hệ thực vật:Tính đến tháng 1 năm 2008, đã thống kê được 1.909 loài động thực vật.Hệ động vật: Tổng số loài quý hiếm của VQG Bái Tử Long lên đến 102 loài, trong đó có 72 loài động vật và 30 loài thực vật được ghi trong sách đỏ Việt Nam (2007).
        2  

Ba Bể

(1992)

– Diện tích: 7.610 ha- Địa điểm: Huyện Ba BểBắc Kạn

– Quản lý: UBND tỉnh Bắc Kạn

      Khí hậu mát mẻ. Có Hồ Ba Bể rộng 500 ha.       Hệ thực vật:Có 1268 loài thực vật bậc cao, trong đó 26 loài  được ghi tên trong sách đỏ Việt nam và Thế giới, các loài cây gỗ quí, hiếm như  Đinh, Nghiến, Lim, Trúc dây…Ngoài ra được đánh giá là trung tâm đa dạng và đặc hữu cao nhất về loài Lan không chỉ của Việt Nam mà còn của cả toàn vùng Đông Nam Á.Hệ động vật: phong phú và đa dạng, 234 loài chim, Lớp thú 81 loài,  48 loài bò sát và lưỡng cư, 106 loài cá nước ngọt đây là một trong những sinh cảnh nước ngọt có giá trị lớn nhất tại Việt Nam
        3  

Tam Đảo

(1986)

– Diện tích: 36.883 ha- Địa điểm: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Tuyên Quang- Quản lý: Cục Kiểm lâm        Hệ thực vật(Tài liệu thống kê năm 2000): Bước đầu thống kê được 1282 loài thuộc 660 chi, 179 họ thực vật bậc cao có mạch. Trong dó có 42 loài thực vật đặc hữu và 64 loài quý hiếm cần bảo vệ.       Hệ động vật:Khu hệ Bò sát – ếch nhái: Đã ghi nhận với tổng số là 180 loài (57 loài ếch nhái thuộc 3 bộ, họ và 123 loài Bò sát thuộc 3 bộ, 17 họ).Khu hệ thú: Tất cả có 77 loài đã ghi nhận ở VQG Tam Đảo, trong đó có 16 loài bị đe doạ ở cấp độ Quốc gia, 17 loài ở cấp độ Thế giới.

Khu hệ Chim: có đến 280 loài¸ trong đó có 29 loài Chim ăn thịt di cư tới VQG.

Khu hệ côn trùng có 360 loài Bướm, trong đó có 9 loài quan trọng; côn trùng ăn lá 122 loài, thuộc 52 giống.

 

        4  

Xuân Sơn

(2002)

– Diện tích: 15.048 ha- Địa điểm: Xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn,- Địa điểm: Phú Thọ

– Quản lý: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Phú Thọ

       Hệ thực vật:Bước đầu thống kê được  1217 loài thực vật bậc cao thuộc 180 họ, 680 chi và 5 ngành thực vật khác nhau. Có đến 20 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (2002) và 15 loài bị đe doạ trên Thế giới (IUCN).Hệ động vật: Trong số 76 loài thú rừng đã được ghi nhận tại VQG Xuân Sơn có 29 loài quý hiếm (chiếm 37,7% tổng số loài thú của VQG).Trong đó, 20 loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2007), 25 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2000) 
        5  

Hoàng Liên

(1996)

– Diện tích: 38.724 ha- Địa điểm: Lai Châu, Lào Cai- Quản lý: UBND tỉnh Lào Cai         VQG Hoàng Liên là nơi có đỉnh Phanxi Păng cao 3.143m cao nhất Đông Dương. Độ cao trung bình lớn nhất cả nước        Hệ thực vật:  Vườn có 2.024 loài trong đó 66 loài trong sách đỏ Việt Nam, 32 loài quý hiếm, 11 loài có nguy cơ tuyệt chủng         Hệ động vật: Vườn còn bảo tồn nguồn gen của một nửa loài ếch nhái có ở Việt Nam trong đó có loài ếch gai rất hiếm vừa được phát hiện. Động vật rừng với 66 loài thú, 16 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam. Chim có 347 loài trong đó có những loài quí hiếm như Đại bàng đốm to, Trĩ mào đỏ, Chim hét mỏ vàng; lưỡng cư có 41 loài, bò sát với 61 loài.
        6  

Cát Bà

(1986)

– Diện tích: 15.200 ha- Địa điểm: Đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, Hải Phòng- Quản lý: Sở Nông nghiệp và Phát triển  Nông thôn

Hải Phòng

       Hệ thực vật:Đã thống kê được 1.561 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 842 chi, 186 họ và 5 ngành thực vật khác nhau. 58 loài nằm trong sách đỏ Việt Nam (2002) chiếm 3,65% và 29 loài bị đe doạ trên thế giới (IUCN, 2004) chiếm 1,86%.Hệ động vật: Đã thống kê được 53 loài thú thuộc 18 họ, 08 bộ, trong đó có 15 loài ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Tê tê, Khỉ vàng, Sơn dương, Rái cá thường, Beo lửa,… 160 loài chim thuộc 46 họ, 16 bộ, trong đó có 01 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam: Cốc đế (Phalacrorax carbo); 45 loài bò sát thuộc 15 họ, 02 bộ và 21 loài lưỡng cư thuộc 05 họ, 01 bộ, trong đó 13 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam: Tắc kè, Ô rô vẩy, Kỳ đà hoa, Trăn đất, Rắn hổ mang, Cóc rừng, Thạch thùng mý Cát Bà (Đặc hữu Cát Bà).… Với tổng số 279 loài, trong đó có 22 loài ghi trong sách đỏ Việt Nam và 07 loài ghi trong danh lục đỏ thế giới. Đặc biệt là loài Voọc đầu trắng.
        7  

Xuân Thủy

(2003)

– Diện tích: 7.100 ha- Địa điểm: Huyện Giao Thủy, Nam Định- Quản lý: UBND tỉnh Nam Định        Vườn quốc gia Xuân Thuỷ hiện đang lưu giữ những giá trị sinh thái quý hiếm, như rừng ngập mặn rộng hàng ngàn ha. Nguồn lợi thuỷ sản phong phú (gần 500 loài thuỷ sinh, trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cua Bể, tôm he, cá tráp, rong câu chỉ vàng…). Ở Xuân Thuỷ đã ghi nhận gần 200 loài chim, trong đó có 100 loài chim di trú, 50 loài chim nước. Đa dạng sinh học trong VQG có 16 loài động vật đặc hữu và quý hiếm. Nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới, hiện chỉ có thể dễ dàng phát hiện ở nơi đây như: Cò thìa. Mòng bể, Rẽ mỏ thìa, cò trắng bắc, Cò trắng Trung Quốc, Te vàng,…
        8  

Ba Vì

(1991)

– Diện tích: 6.986 ha- Địa điểm: Hà Nội- Quản lý: Cục Kiểm Lâm         Hệ thực vật:3 kiểu rừng chính: Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới; rừng kín thường xanh hỗn giao cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới; kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi thấp.Theo dự án đầu tư (Anon, 1991), đã ghi nhận có ở Ba Vì 812 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có một số loài lần đầu tiên được mô tả tại khu vực này ví dụ như Đơn ba lan sa lxora balansae, Bời lời Ba Vì Litsea baviensis và Bánh langko Lasianthus langkokensis.Hệ động vật: Cũng theo dự án đầu tư, đã ghi nhận ở Ba Vì có 44 loài thú, 114 loài chim, 15 loài bò sát và 9 loài ếch. Trong đó có 24 loài quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam như Gà lôi trắng, Báo gấm, Báo hoa, Cu chồn bạc má, Gấu ngựa, Sơn dương, Tê tê vàng, Sóc bay trâu, Sóc đen,… Do sự khai thác quá mức của con người đối với tài nguyên rừng Ba Vì, cho nên sự đa dạng và phong phú của các loài thú lớn và chim hiện nay rất thấp, một số loài có thể đã bị tuyệt chủng tại đây (Gilmour và Nguyễn Văn Sản 1999)
        9  

Cúc Phương

(1966)

– Diện tích: 22.200 ha- Địa điểm: Ninh Bình,Thanh Hóa, Hòa Bình- Quản lý: Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn        Hệ thực vật:  Vườn quốc gia Cúc Phương chiếm tỷ lệ 76% số họ, 48,6% số chi và 30% số loài của miền Bắc và chiếm 68,9% số họ, 43,6% số chi và 24,6% số loài hiện có ở Việt Nam. Có tới 1.944 loài thuộc 908 chi và 229 họ. Đặc biệt có cây chò xanh, cây sấu cổ thụ đều trên dưới 1.000 năm tuổi, cao từ 50-70m. Thảm thực vật Cúc Phương với ưu thế là rừng trên núi đá vôiHệ động vật: 97 loài thú (trong đó nổi bật nhất là các loài khỉ châu Á), 137 loài chim, 76 loài sát, 46 loài lưỡng, 11 loài và hàng ngàn loài côntrùngVQG Cúc Phương là một địa điểm du lịch nổi tiếng, thu hút khoảng vài trăm nghìn lượt khách hàng năm
   10  

Bến En

(1992)

– Diện tích: 16.634 ha- Địa điểm: Thanh Hóa- Quản lý: UBND tỉnh Thanh Hóa       Vườn quốc gia Bến En có địa hình nhiều đồi núi, có nhiều sông, suối và hồ Mực trên núi có diện tích 4000 ha có 21 đảo nổi giữa là một trong vườn quốc gia đẹp nhất Việt Nam.Hệ thực vật:rừng nguyên sinh chiếm 8.544 ha. Có nhiều loài sinh vật quý, với 1389 loài thực vật (lim xanh, lát hoa, chò chỉ, trai lý, bù hương…)       Hệ động vật: có tới 1004 loài động vật,66 loài thú (với 29 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam như: sói đỏ, gấu ngựa, vượn đen, phượng hoàng đất, gà tiền mặt vàng…)
   11  

Pù Mát

(2001)

– Diện tích: 91.113 ha- Địa điểm: Nghệ An- Quản lý: UBND tỉnh Nghệ An        Hệ thực vật: Có 1.144 loài thực vật có mạch được ghi nhận là phân bố ở Pù Mát. Kiểu rừng đặc trưng nhất là rừng thường xanh trên đất thấp với ưu thế của các cây họ dầu, Dẻ, Long não.       Hệ động vật:Có 3 loài thú đặc hữu Đông Dương: sao la, thỏ sọc Bắc Bộ, vượn đen má trắng, vượn má hung. Ngoài ra còn có các ghi nhận về mang lớn, mang Trường Sơn, voọc chà vá chân nâu, hổ, voi, cầy vằn…Tổng số có 259 loài chim được phát hiện, trong đó 22 loài có nguy cơ tuyệt chủng, nhiều loài chim quý, hiếm như trĩ sao, niệng cổ hung..

 

   12  

Vũ Quang

(2002)

– Diện tích: 55.029 ha- Địa điểm: Hà Tĩnh- Quản lý: UBND tỉnh Hà Tĩnh       Hệ thực vật:Có tới 76% diện tích rừng tự nhiên với hai kiểu chính: rừng kín thường xanh á nhiệt đới chiếm 20% với hai loại thực vật ưu thế là pơmu và hoàng đàn; rừng kín thường xanh nhiệt đới với các loại thực vật bậc cao như: cẩm lai, lát hoa, lim, dổi, trầm hương… và nhiều cây dược liệu quý.Có tính đa dạng sinh học cao. Thực vật ở đây gồm 2147 loài, trong đó có một số loài hiếm và có giá trị như hoàng đàn giả, trầm hương.       Hệ động vật: đã ghi nhận được 1.493 loài, đặc biệt có một số loài thú mới được phát hiện ở Việt Nam như sao la. Có 36 loài phụ thú đặc hữu của khu rừng Trường Sơn Bắc như: voọc vá chân nâu, voọc Hà Tĩnh, vượn má vàng…
   13 Phong Nha-Kẻ Bàng(2001) – Diện tích: 200.000 ha- Địa điểm: Quảng Bình- Quản lý: UBND tỉnh Quảng Bình        VQG Phong Nha- Kẻ Bàng sở hữu địa hình các-tơ trên núi đá vôi với nhiều hang động như Phong Nha, Thiên Đường, Sơn Đoòng,… Các dòng sông ngầm dài hàng cây số.Hệ thực vật: Thực vật có mạch 152 họ, 511 kiểu gen, 876 loài thực vật có mạch, trong dó có 38 loài nằm trong SáchđỏViệtNam và 25 loài nằm trong Sáchđỏthếgiới, 13 loài đặc hữu Việt Nam, trong đó có sao và cây họDầuHệ động vật: Là nơi sinh sống của 140 loài thú thuộc 31 họ và 10 bộ, nổi bật nhất là hổtót, loài bò rừng lớn nhất thế giới, 302 loài chim, trong đó có ít nhất 43 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam và 19 loài nằm trong Sách đỏ thế giới; 81 loài sát lưỡng cư (18 loài trong Sách đỏ Việt Nam và 6 loài Sách đỏ thế giới); 259 loài bướm; 72 loài , trong đó có 4 loài đặc hữu Việt Nam.
   14  

Bạch Mã

(1991)

– Diện tích: 22.030 ha- Địa điểm: Thừa Thiên-Huế- Quản lý: UBND tỉnh Thừa Thiên Huế        Hệ thực vật:Thực vật ở Bạch Mã  bao gồm 2.147 loài chiếm khoảng 1/5 tổng số loài thực vật ở Việt Nam       Hệ thực vật:Cho đến nay các nhà khoa học đã ghi nhận được 1.493 loài động vật bao gồm: 132 loài thú (chiếm 1/2 số loài thú ở Việt Nam), 358 loài chim, 31 loài bò sát, 21 loài ếch nhái, 57 loài cá, 894 loài côn trùng đang có mặt trong Vườn. Trong tổng số các loài hiện thống kê được, đã có đến 68 loài được ghi vào sách Đỏ Việt Nam là những loài cần phải bảo vệ nghiêm ngặt.Tính đa dạng còn được chứng minh rõ ràng qua sự ghi nhận với 358 loài chim, chiếm một phần ba số loài chim có mặt ở Việt Nam
   15  

Phước Bình

(2006)

– Diện tích: 19.814 ha- Địa điểm: Ninh Thuận- Quản lý: UBND tỉnh Ninh Thuận        Hệ thực vật:VQGLà nơi chuyển tiếp khí hậu nên rất đa dạng về các kiểu rừng gồm 6 kiểu rừng chính và 8 kiểu rừng phụ. Thực vật ở đây vô cùng phong phú có 1.225 loài, 156 họ, 584 chi và một số loài đặc hữu tiêu biểu như Pơmu, Bình linh, Thông 2 lá dệt, Cẩm lai, v.v… Các kiểu rừng: rừng kín thường xanh, rừng mưa ẩm nhiệt đới; rừng hỗn hợp cây lá rộng và cây lá kim á nhiệt đới; rừng lá kim; rừng thưa cây họ dầu tiêu biểu cho kiểu rừng khô hạn của tỉnh Ninh Thuận.       Hệ động vật: Có 327 loài, thuộc 94 họ, 28 bộ trong đó có 50 loài quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam 2000, 29 loài nằm trong sách đỏ thế giới IUCN năm 2006
 

Núi Chúa

(2003)

– Diện tích: 29.865 ha- Địa điểm: Ninh Thuận- Quản lý: UBND tỉnh Ninh Thuận        Hệ thực vật:Được đánh giá là rừng độc đáo duy nhất và đặc trưng cho hệ sinh thái khô hạn ở Đông Nam Á. Thảm thực vật rừng có 2 dạng rừng khô hạn và rừng thường xanh. Nơi đây có 1.265 loài thực vật bậc cao, đặc hữu quý hiếm;       Hệ động vật:có 306 loài động vật hoang dã, trong đó có nhiều loài được ghi vào sách đỏ: như chà vá chân đen, gấu ngựa, gấu chó, beo lửa…Các loài san hô đặc biệt đa dạng với 307 loài đã  được ghi nhận, nhìn chung các loài này  đang có điều kiện sống lý tưởng; Có bãi đẻ trứng của một số loài rùa biển. 
   16  

Chư Mom Ray

(2002)

– Diện tích: 56.621 ha- Địa điểm: Kon Tum- Quản lý: UBND tỉnh Kon Tum        Hệ thực vật: Có gần 1.500 loài, thuộc 166 họ và 541 chi, trong đó có 131 loài được xác định là quý hiếm bị đe dọa như các loài phong lan, lớp tuế, ngành hạt trần, các loài họ dầu và 2.000 loài thực vật quý hiếm như kim giao, thông tre, trắc, cẩm lai…       Hệ động vật: đã xác định được 620 loài, trong đó có 11 loài thú, 370 loài chim, 45 loài bò sát, 20 loài cá nước ngọt và 17 loài lưỡng cư, 57 loài côn trùng. Điểm đáng tự hào của VQG là có tới 114 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.
   17  

Kon Ka Kinh

(2002)

– Diện tích: 41.780 ha- Địa điểm: Gia Lai- Quản lý: UBND tỉnh Gia Lai        Hệ thực vật: có tới 687 loài thực vật thuộc 459 chi và 140 họ. 11 loài đặc hữu, 34 loài quý hiếm.Phần lớn diện tích vườn quốc gia Kon Ka Kinh là rừng nguyên sinh với các kiểu thảm thực vật rừng chính sau: Kiểu rừng kín thường xanh, mưa ẩm cận nhiệt đới núi thấp và Kiểu rừng kín hỗn giao lá rộng, lá kim mưa ẩm cận nhiệt đới núi thấp. Đây là kiểu rừng hỗn giao giữa cây lá kim và cây lá rộng. Tại vườn quốc gia này cây lá kim (pơ mu) chiếm ưu thế.Hệ động vật: có 428 loài động vật. Trong đó có 223 loài động vật có xương sống sinh sống trên cạn (34 bộ, 74 họ) và 205 loài động vật không xương sống (như bướm) thuộc 10 họ trong bộ Cánh vẩy (Lepidoptera). Trong đó, có 16 loài động vật đặc hữu, 38 loài thú quý hiếm
   18 Yok Đôn

(1991)

– Diện tích: 115.545 ha- Địa điểm: Đăk Lăk- Quản lý: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn       Hệ động vật:Nơi đây có 63 loài động vật có vú, 196 loài chim, 40 loài bò sát, 13 loài lưỡng cư, 464 loài thực vật, trong đó có voi rừng, trâu rừng và bò tót khổng lồ.Đây là nơi trú ngụ của một số loài động vật nguy cấp mang tính toàn cầu như: bò xám, mang lớn, nai cà tông, bò banteng, voi châu Á, hổ, sói đỏ và chà vá chân đen. Công tác điều tra vẫn đang tiếp tục, nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy vườn quốc gia Yok Đôn là một trong những nơi có khu hệ chim phong phú nhất Đông DươngVào mùa đông, các đầm nước trong rừng tiếp nhận vô số đàn chim từ phương bắc lạnh về cư trú. Vịt trời, ngỗng trời, giang, sếu, le le… đậu la liệt trên các gò đất và trong các bãi lầy
   19  

Chư Yang Sin

(2002)

– Diện tích: 58.947 ha- Địa điểm: Đăk Lăk- Quản lý: UBND tỉnh Đắk Lắk        Hệ sinh thái:VQG Chư Yang Sin được đặc trưng bởi 9 kiểu rừng. Thực vật ở VQG Chư Yang Sin có 140 họ, 591 chi với 887 loài thực vật bậc cao có mạch với 55 loài trong sách đỏ Việt nam, 26 loài trong sách đỏ thế giới.Hệ Động vật: Bước đầu điều tra tại VQG Chư Yang Sin đã ghi nhận 64 loài thú thuộc 24 họ; 258 loài chim thuộc 14 bộ và 53 họ; 81 loài cá thuộc 18 họ và 50 giống; 248 loài Bướm ngày thuộc 10 họ; 54 loài Ếch nhái thuộc 07 họ; 58 loài bò sát thuộc 08 họ.
   20  

Bidoup Núi Bà

(2004)

– Diện tích: 64.800 ha- Địa điểm: Lâm Đồng- Quản lý: UBND tỉnh Lâm Đồng       Hệ thực vật:Có 1468 loài thực vật có mặt ở Vườn Quốc gia Bidoup – Núi Bà. Trong đó: 62 loài quý hiếm phân bố trong 29 họ thực vật khác nhau, nằm trong cấp đánh giá về mức độ quý hiếm của sách đỏ Việt Nam năm 2000. Vườn quốc gia Bidoup Núi Bà còn được đánh giá là vương quốc của các loài lan rừng Việt Nam với trên 250 loài.       Hệ động vật: có 52 loài (Chiếm 25% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong danh mục các loài động vật quý hiếm ban hành kèm theo Nghị định số 48/2002/NĐ-CP ngày 22/04/2002 của Chính phủ. Có 36 loài (chiếm 17,31% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong sách Đỏ Việt Nam 2000. Có 26 loài (chiếm 12,5% tổng số loài trong khu vực) được ghi trong danh lục sách Đỏ IUCN (2000)
   21  

Cát Tiên

(1992)

– Diện tích: 73.878 ha- Địa điểm: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước- Quản lý: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn         VQG Cát Tiên có khoảng chục vùng đất ngập nước như Bàu Sấu (rộng 5-7 hecta thuộc huyện Tân Phú), Bàu Chim (50-100 hecta), Bàu Cá, Bàu Đắc Lớ, Trảng Cò,…Khoảng 50% diện tích của Cát Tiên là rừng cây xanh, 40% là rừng tre, 10% là nông trại.        Hệ thực vật: có hơn 1.362 loài thực vật bậc cao, hơn 440 loài cây gỗ quý, hàng trăm loại cây dược liệu, 133 loài hoa phong lan…

       Ngoài ra, Cát Tiên còn là địa bàn của 62 loại lan.

Hệ động vật: có 62 loài thú, 121 loài chim, có những loài chim quý hiếm như trĩ lông đỏ, cò quắm xanh, tê giác một sừng, voi…

Cát Tiên được UNESCO công nhận là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”. Hệ đất ngập nước Bàu Sấu là Khu Ramsar thứ 2 của Việt Nam với tổng diện tích là 13.759 ha.

   22  

Bù Gia Mập

(2002)

– Diện tích: 26.032 ha- Địa điểm: Bình Phước- Quản lý: UBND tỉnh Bình Phước        Hệ động thực vật ở VQG Bù Gia Mập đặc trưng cho vùng Đông Nam Bộ.Hệ thực vật:bao gồm nhiều kiểu rừng: rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới (rừng dầu rụng lá theo mùa, còn gọi là rừng khộp); rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới. Hệ thực vật ở đây có 724 loài thực vật nằm trong 326 chi, 109 họ, 70 bộ thuộc 6 ngành thực vật khác nhau. Các khu rừng nơi đây vẫn còn đảo bảo tính chất của rừng nguyên sinh, với đa số thuộc những loài cây họ Dầu và họ Đậu, quý hiếm như: cẩm lai, gõ đỏ, mun, lát hoa, gỗ mật, thạch tùng, giáng hương, trắc… Ngoài ra vườn có 278 giống cây dược liệu.        Hệ động vật: gồm rất nhiều loài động vật hoang dã, tất cả có 437 loài. 73 loài thú, 168 loài chim, 30 loài bò sát.
   23  

Lò Gò Xa Mát

(2002)

– Diện tích: 18.765 ha- Địa điểm: Tây Ninh- Quản lý: UBND tỉnh Tây Ninh         Hệ sinh thái đất ngập nước nước ngọt phong phú.        Hệ thực vật: Là khu vực có rừng che phủ lớn nhất tại tỉnh Tây Ninh, chiếm 26% tổng diện tích che phủ rừng tự nhiên của tỉnh. Thảm thực vật rừng khu vực có dạng khảm giữa rừng bán rụng lá, rừng rụng lá trên đất thấp và các dải hẹp rừng thường xanh ven sông suối và rừng tràm. Gần biên giới với Campuchia là các dải rộng đồng cỏ đất lầy với các thảm cói lác

        Hệ động vật: Có vườn chim nổi tiếng và tầm quan trọng quốc gia.

Khu hệ chim tại vườn quốc gia này rất đặc trưng, tại các sinh cảnh đất ngập nước có rừng đã ghi nhận nhiều loài chim nước quý hiếm nhưgiangsen ,giàđẫynhỏnhạn.

   24  

Côn Đảo

(1993)

– Diện tích: 15.043 ha- Địa điểm: Bà Rịa-Vũng Tàu- Quản lý: UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu                 Hệ thực vật:  có khoảng 882 loài thực vật bậc cao thuộc 562 chi, 161 họ, trong đó có đến 371 loài thân gỗ, 30 loài phong lan, 103 loài dây leo, 202 loài thảo mộc v.v. 44 loài thực vật được các nhà khoa học tìm thấy lần đầu tiên ở đâyHệ động vật: rừng Côn Đảo đến nay đã ghi nhận được 144 loài, trong đólớpThú chiếm 28 loài,chim 69 loài,sát 39 loài,lưỡng 8 loài. Một số động vật đặc hữu tại Côn Đảo như:sócmun,sócđen,chuộthưuCônĐảo,thạchsùngCônĐảo

        Hệ sinh thái biển: 1.321 loài sinh vật biển đã thống kê được, trong đó thực vật ngập mặn có đến 23 loài, rong biển 127 loài, cỏ biển 7 loài, phù du thực vật 157 loài, phù du động vật 115 loài,san 219 loài, thú và bò sát biển 5 loài…37 loài có tên trongsáchđỏViệtNam.

        Đặc biệt Côn Đảo còn là bãi đẻ trứng của một số loài rùa biển.

   25  

Tràm Chim

(1994)

– Diện tích: 7.588 ha- Địa điểm: Đồng Tháp- Quản lý: UBND tỉnh Đồng Tháp         Hệ sinh thái rừng tràm. Đồng cỏ ngập nước theo mùa là một trong những hệ sinh thái khá phổ biến trong khu vực VQG Tràm Chim.       Hệ thực vật:Có 130 loài thực vật, phân bố đơn thuần cũng như xen kẻ với nhau tạo thành những quần xã thực vật đặc trưng.Hệ động vật: Đây là nơi cư trú của trên 100 loài độngvậtxươngsống, 40 loài và 147 loài chim nước. Trong đó, có 13 loài chim quý hiếm của thế giới. Đặc biệt là một loài chim hạc còn gọi là sếuđầuđỏ hay sếu cổ trụi. Vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 5 dương lịch, đây là nơi cư trú của khoảng 60% quần thể sếu đầu đỏ, là loài chim cao nhất trong các loại chim bay trên thế giới.
   26  

Mũi Cà Mau

(2003)

– Diện tích: 41.862 ha- Địa điểm: Cà Mau- Quản lý: UBND tỉnh Cà Mau         VQG Mũi Cà Mau nằm ở điểm cực Nam trên đất liền của Việt Nam. Sinh cảnh  đặc biệt quan trọng  ở VQG là các bãi bùn lầy, các khu rừng ngập mặn già còn lại và tái sinh là những sinh cảnh lý tưởng cho các loài chim nước di cư.Đặc trưng của vườn quốc gia này là hệ động thực vật rừng ngập mặn.Hệ thực vật đặc trưng gồm: sú, vẹt, đước, mắm, tràm….

          Hệ động vật:  Động vật khu vực vườn này đa dạng, gồm có: rùa, rắn, trăn, cua, các loại cá nước lợ, ba khía, sóc v.v. Diện tích mặt đất của vườn quốc gia này không ngừng được mở rộng một cách tự nhiên do hàng năm Mũi Cà Mau lấn ra biển hàng chục mét bằng nguồn phù sa do hệ thống sông, kênh, rạch mang đến.

 

   27  

U Minh Hạ

(2006)

– Diện tích: 8.286 ha- Địa điểm: Cà Mau- Quản lý: UBND tỉnh Cà Mau          Đây là khu vực có hệ động thực vật đa dạng, mang nét đặc trưng cho vùng đất ngập nước trên lớp than bùn. Thực vật ở đây gồm nhiều giống loài, nhưng đặc trưng nhất là cây tràm và các loại dây leo. Hệ động vật cũng rất phong phú, ngoài các loại cá đồng, chim chóc, Vườn Quốc gia U Minh Hạ còn là nơi trú ngụ của bò sát, côn trùng, khỉ, nai…
   28  

U Minh Thượng

(2002)

– Diện tích: 8.053 ha- Địa điểm: Kiên Giang- Quản lý: UBND tỉnh Kiên Giang        Có rừng U Minh rộng lớn. Là nơi sinh sống của một số động vật hoang dã vùng rừng ngập nhưsócmun (Callosciurus finlaysoni),cầyvòiđốm (Paradoxurus hermaphroditus),Viverrazibetha,ViverramegaspilatrútJava (Manis javanica).
   29  

Phú Quốc

(2001)

– Diện tích: 31.422 ha- Địa điểm: Kiên Giang- Quản lý: UBND tỉnh Kiên Giang        Hệ thực vật: Thảm thực vật nơi đây là rừng thường xanh trên địa hình đồi núi thấp. Vườn quốc gia Phú Quốc có đến 12.794 ha rừng, trên các đai cao rừng còn giầu, tuy vậy ở các đai thấp rừng bị suy thoái nhiều, với ưu thế ở đây là các câyhọĐậu. Đến nay đã ghi nhận được 929 loài thực vật trên đảo.       Hệ động vật: Phần biển Phú Quốc rất phong phú và đa dạng, các rặngsan bắt gặp ở quanh các đảo nằm ở phía nam. Các rặng san hô này chiếm đến 41% diện tích. Khu hệ cá trong các rặng san hô rất phong phú, các loàihọhọbướm và nhiều loài có giá trị kinh tế khác. Đã thống kê được 89 loài san hô cứng, 19 loài san hô mềm, 125 loài cá ở rặng san hô, 132 loài thân mềm, 32 loài da gai và 62 loài rong biển, trong đó nhiều loài quan trọng nhưtrai tai tượng vàốc đun cái. Phú Quốc đã ghi nhận loàiđồimồi đến vùng biển này đẻ trứng, nhưng đến nay tần suất gặp chúng là rất ít.

Tổng hợp

Các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam

Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994).

     Các khu BTTN được xây dựng, phục hồi với các mục đích sau:

– Nghiên cứu khoa học

– Bảo vệ các vùng hoang dã

– Bảo vệ sự đa dạng loài và gen.

– Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên.

– Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hoá.

– Sử dụng cho du lịch và giải trí.

– Giáo dục.

– Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các hệ sinh thái tự nhiên.

– Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống.

Các tiêu chí để được công nhận là một Khu BTTN được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra nhằm triển khai hiệu quả chiến lược quản lý hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam giai đoạn 2005-2010 như sau:

–   Có các loài động thực vật hoặc các loài sống ở rạn san hô, có cảnh quan địa lý có giá trị về khoa học, giáo dục và có ít nhất 1 loài động thực vật đặc hữu hoặc trên 5 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (ngoại trừ các khu bảo tồn biển, do Sách Đỏ Việt Nam không liệt kê các loài sống ở rạn san hô).

–   Diện tích tối thiểu là 5.000ha nếu ở trên đất liền, 3.000ha nếu ở trên biển và 1.000ha nếu là đất ngập nước, có diện tích các hệ sinh thái tự nhiên có đa dạng sinh học chiếm ít nhất 70% và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp cùng đất thổ cư so với diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên dưới 5%.

–   Có điều kiện phát triển giáo dục môi trường và du lịch sinh thái mà không ảnh hưởng đến các mục tiêu bảo tồn.

 

STT Tên

(NămTL)

Diện tích (ha) Vị trí Đặc điểm tự nhiên thuận lợi phát triển DLST Cơ quan quản lý
       1 Đồng Sơn-Kỳ Thượng

(2003)

14.851 Quảng Ninh       Hệ thực vật: Có 485 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 280 chi và 101 họ của các ngành thực vật. Trong đó có 5 loài được xếp trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương Trung hoa, Vù hương, Lát hoa, Đại hải, Ba kích….là những loài có giá trị cao trên thị trường trong nước và Thế giới.Hệ động vật rừng: đã giám định thống kê được trong phạm vi khu rừng bảo tồn có 249 loài thuộc 79 họ và 28 bộ của 4 lớp động vật là thú, chim, bò sát và ếch nhái. Đã phát hiện 30 loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, đặc biệt như các loài: Khỉ vàng, Báo gấm, Chó sói, Tê tê vàng, Công Trĩ….có giá trị bảo tồn gen rất cao đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới. Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh

 

       2 Tây Yên Tử

(2002)

13.023 Bắc Giang       Hệ thực vật:rừng Tây Yên Tử có tới 728 loài thực vật thuộc 189 chi của 86 họ. Trong đó có hàng chục loài thực vật đặc hữu, quý hiếm như: Pơ mu, Thông tre, Đinh, Lim, Sến mật, Gụ, Lát hoa, Trầm hương, Ba kích, Sa nhân…Hệ động vật:  226 loài động vật rừng, thuộc 81 họ của 24 bộ. Trong đó có hàng chục loài động vật đặc hữu, quý hiếm được xếp trong sách đỏ Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng, như: Cu li nhỏ, Voọc đen má trắng, Sói lửa, Gấu ngựa, Khỉ vàng, Hươu vàng, Gà tiền mặt vàng, Gà lôi trắng, Rùa vàng, Rắn hổ mang chúa. Gần đây qua nghiên cứu mới phát hiện thêm các loài động vật đặc biệt quý hiếm như: Cá cóc sần Việt Nam, Ếch Yên Tử. Chi cục kiểm lâm Bắc Giang
       3 Hữu Liên 8.293 Lạng Sơn       Đây là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học cao, có nhiều giá trị về khoa học và du lịch, được coi như là lá phổi của vùng Đông Bắc.Hệ thực vật: Rừng nguyên sinh Hữu Liên có nhiều loài cây nguyên sinh quí hiếm hàng trăm năm tuổi như Hoàng đàn, Nghiến, Trai lý, Cây một lá, Đinh, Thiên tuế…

Hệ động vật: có nhiều loài động vật quí hiếm nằm trong danh mục sách đỏ thế giới như Hươu Xạ, Voọc đen má trắng, Voọc đen tuyền, Gấu ngựa, Trăn đất…

Văn hóa: Không chỉ đa dạng về sinh cảnh với  khu rừng đặc dụng quí hiếm, những hang động núi đá và thác nước hùng vĩ, Hữu Liên còn là nơi có nhiều giá trị về di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội và các trò chơi dân gian…tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồn

Chi cục kiểm lâm Lạng Sơn
       4 Núi Pia Oắc 10.261 Cao Bằng       Hệ thực vật:thảm thực vật phong phú, có nhiều thực vật quý hiếm như Hà thủ ô đỏ, Tam Thất, các loại rau quả ôn đới…rừng có nhiều sản vật quý hiếm. Trong khu bảo tồn có một nơi mà các nhà khoa học gọi đó là “rừng rêu”, rừng của khí hậu ôn đới. Cây nào cũng mềm mụp rêu, cành lá la đà. Những cây trúc cũng chỉ cao độ hai gang tay mọc kín các đỉnh núi, lác đác có vài cây đen đúa, gầy guộc như vừa móc dưới đáy đại dương đầy rong rêu lên.Hệ động vật: có nhiều loài quý hiếm như Gà Đen, các loại côn trùng dùng cho nghiên cứu khoa học và sưu tập… Chi cục kiểm lâm tỉnh Cao Bằng

 

       5 Kim Hỷ

(2003)

14.772 Bắc Kạn       Thực vật đặc hữu và quý hiếm: 789 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi và 169 họ, trong đó có 35 loài thực vật quý hiếm được ghi trong SĐVN như: Chò chỉ, Re hương, Sưa bắc, Sam vàng, Lát hoa, Nghiến, Lan kim tuyến, Sến mật, Giổi nhung…      Động vật đặc hữu và quý hiếm: có 386 loài, 108 họ thuộc 29 bộ của 4 lớp động vật trong đó có 68 loài thú, 235 loài chim, 51 loài bò sát, 32 loài Ếch nhái, có 47 loài động vật quý hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam cần được bảo vệ đặc biệt, tiêu biểu như: Voọc mũi hếch, Hươu sạ, Voọc đen, Sói đỏ, Cáo vàng, Hổ, Rắn lửa, Rùa hộp, Trĩ đỏ… Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Cạn
       6 Thần Sa-Phượng Hoàng 18.859 Thái Nguyên        Hệ thực vật:thảm thực vật có 6 kiểu, loại thực vật có 1.069 loài, 162 họ, 645 chi, 5 ngành, 2 lớp, trong đó có 56 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới thuộc đối tượng phải bảo tồn.       Hệ động vật: có 295 loài, 93 họ, 30 bộ, trong đó có 47 loài quý hiếm trong danh sách đỏ Việt Nam cần được bảo tồn.

Văn hóa: Khu bảo tồn còn có hệ thống hang động, di tích lịch sử – khảo cổ học đặc biệt của Việt Nam, là cái nôi của người Việt cổ.

Chi cục kiểm lâm Thái Nguyên
       7 Chạm Chu

(2001)

15.902 Tuyên Quang      Khu BTTN có khu hệ động, thực vật phong phú, đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi vùng Đông Bắc Việt Nam.     Hệ thực vật: thực vật có mạch ở đây lên đến 1.500 – 2.000 loài, trong đó 10 loài đặc hữu, quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế cao như Hoàng Đàn, Pơ Mu, Thông tre, Nghiến và Trai Lý, Chò chỉ, Gù hương…

Hệ động vật: có 45 loài thú, 127 loài Chim, 38 loài Bò sát và 15 loài lưỡng cư; trong đó 32 loài đặc hữu, quý hiếm có nhiều loài nằm trong Sách đỏ Việt nam và Thế giới, đặc biệt là sự tồn tại của các loài linh trưởng đang đe doạ trên toàn cầu như: Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng, Cu ly lớn, Cu ly nhỏ….

Chi cục kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang

 

       8 Na Hang 22.402 Tuyên Quang       Hệ thực vật: còn khoảng 68% diện tích  là rừng ẩm nhiệt đới vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự tác động của con người. Trong đó có khoảng 70% là rừng trên núi đá vôi, tuy nhiên còn có những vùng rừng thường xanh còn lại trên các đai thấp (Cox 1994). Cho đến nay đã xác định được trên 2.000 loài thực vật, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon. 1996) như Trai, Mun, Nghiến, Lát Hoa, Đinh, Thông tre, Hoàng đàn, Trầm gió theo Hill và Hallam (1997).     Hệ động vật: đã ghi nhận được 90 loài thú, 263 loài Chim, 61loài Bò sát và 35 loài Ếch nhái. Trong đó, có 13 loài thú ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon. 1992). Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn nhất. Tại đây có 8 loài Khỉ hầu bị đe doạ tuyệt chủng mang tính toàn cầu. Vùng phân bố thế giới của loài Voọc mũi hếch và Voọc đầu trắng đều ở trong hệ sinh thái này, cho nên Quỹ bảo tồn thế giới của Mỹ (WWF-US) đã xác định đây là vùng nằm trong 01 của 223 hệ sinh thái có giá trị ĐDSH cao nhất trên thế giới (Olson & Dinnerstein, 1998) Chi cục kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang

 

       9 Bắc Mê

(1994)

9.043 Hà Giang Theo số liệu được thống kê từ các Dự án đầu tư xây dựng các khu bảo tồn:Hệ thực vật: 290 loài, trong đó có 25 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Kim tuyến đá vôi, Mạy châu, Tuế balansae, Hoàng tinh hoa trắng, Nghiến, Đảng sâm…

Hệ động vật: có 53 loài thú, 83 loài Chim, 15 loài Bò sát, 10 loài Lưỡng cư. Trong đó 47 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Dơi tai sọ cao, Cu li lớn, Khỉ mặt đỏ, Voọc đen má trắng, Cheo cheo, Gà lôi trắng, Rồng đất, Rắn hổ mang chúa…..

UBND tỉnh Hà Giang
  10 Bát Đại Sơn

(2000)

4.531 Hà Giang      Hệ thực vật: có tới 361 loài thuộc 103 họ và 249 chi. Ngoài ra KBT còn 1 số cây có giá trị dược liệu như Kim Ngân, Cốt toái bổ, Thảo quả, Đỗ trọng, Quế. đặc biệt Bát Đại Sơn còn có 18 loài cây quý hiếm có giá trị bảo tồn cần bảo vệ     Hệ động vật: có tới 195 loài động vật có xương sống thuộc 80 họ trong 24 bộ. Trong đó, có tới 18 loài động vật quý hiếm, 4 loài ở nhóm nguy cấp như: Gấu ngựa, Voọc đen má trắng, Vượn đen, Phượng Hoàng đất và một số loài khác đang ở tình trạng hiếm, sẽ nguy cấp. Chi cục kiểm lâm Hà Giang
  11 Du Già(1994) 11.540 Hà Giang     Hệ thực vật:Thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín thường xanh á nhiệt đới ẩm vùng núi cao. KBT có 289 loài thực vật bậc cao thuộc 83 họ trong đó Thông đất 2 loài; Ngành Quyết 13 loài; Hạt trần 3 loài; Hạt kín 271 loài; lớp lá mầm 2: 232 loài; Lớp lá mầm 1: 39 loài. Đặc biệt sự có mặt của Pơ Mu (loài đặc hữu nổi tiếng của Việt Nam) là cây có giá trị xuất khẩu và là nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra còn Hoàng Đàn, Đinh, Hương, Nghiến, Trai lý. Phân bố trên diện tích lớn trữ lượng cao. Hệ động vật: Hệ động vật có xương sống đã thống kê được 171 loài trong 73 họ và 24 bộ. Đặc điểm cơ bản của khu hệ động vật rừng là hệ động vật núi đá vôi, ưu thế là các loài thích nghi với địa hình hiểm trở, sống leo trèo như Sơn Dương, các loài Khỉ, Sóc…Động vật khu Du Già đặc trưng cho hệ động vật phía Bắc Việt Nam có ưu thế của nhiều loài vùng Hoa Nam (TQ) như Cáo, Lưng chó, Gấu Ngựa, Sóc bụng đỏ. Những loài động vật quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam tổng số 27 loài: Lớp thú 17 loài, Chim 2 loài, Bò sát 8 loài. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà giang
  12 Phong Quang

(1998)

7.911 Hà Giang      Theo tài liệu từ khi thành lập KBT trong KBT có 55 loài thú, 125 loài chim, 21 loài bò sát, 12 loài lưỡng cư, 377 loài thực vật bậc cao, 32 loài động vật quý hiếm và 11 loài thực vật quý hiếm như: Chim, Bò sát, Lưỡng cu, Linh trưởng, Đinh, Nghiến, Trai….. Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang
  13 Tây Côn Lĩnh

(2002)

14.489 Hà Giang      Theo tài liệu điều tra nhanh đa dạng sinh học của dự án nâng cao năng lực do VFC tài trợ như sau:         Hệ thực vật: Là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật. Các loài đặc hữu có giá trị cần bảo vệ: Cây Vù Hương, Cây Bồ An, Cây Bồ Đề lá bời bời. Có 796 loài thực vật bậc cao và 54 loài thực vật quý hiếm.

     Hệ động vật:: 58 loài thú, 100 loài Chim, 55 loài bò sát lưỡng cư và 37 loài động vât quý hiếm.

Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang
  14 Văn Bàn 25.173 Lào Cai      Hệ thực vật:KBT có 891 loài thực vật thuộc 167 họ và 18 loài thực vật đặc hữu, quý hiếm ( Sách đỏ VN) như: Chò đãi, Trầm, Gù hương, Vù hương, Pơ mu, Hồi núi, Sến mật; loài đặc hữu Bách tán Đài Loan (Cha nâu)Hệ động vật: có 486 loài, trong đó 52 loài đặc hữu, quý hiếm. Chi cục kiểm lâm tỉnh Lào Cai
  15 Mường Tè 33.775 Lai Châu      Hệ thực vật: 542 loài thực vật, trong đó có 57 loài thực vật quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và 7 trong sách đỏ thế giới, đa số là những loài thuốc quý hiếm; 22 loài đặc hữu hẹp cho vùng Tây Bắc, 7 loài nằm trong Nghị định số 32 của Chính phủ và 6 loài đặc trưng cho vùng Tây Bắc: Trám đen, chò nước, giổi xương, chò nâu, đinh, sến, lát hoa
  16 Mường Nhé

(1996)

44.940 Điện Biên      Hệ thực vật:phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau tạo nên các kiểu rừng với ưu hợp điển hình như: Ưu hợp Sồi, Dẻ, Giổi, Re, Thích, Pơ Mu, Thông nàng; đến nay đã thống kê được 740 loài thực vật thuộc 500 chi trong 156 họ của 5 ngành thực vật. Trong đó có 35 loài thực vật quí hiếm; 29 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Nhiều loài phân bố trong khu vực như: Họ Ba mảnh vỏ, họ Dâu tằm, họ Cà phê, họ Lan, họ Đậu, họ Re.Hệ động vật: Qua thống kê khảo sát tháng 12 năm 2006 do Chuyên gia động vật Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện đã thống kê có 291 loài động vật thuộc 95 họ của 27 bộ trong các lớp động vật. Trong đó có 55 loài động vật đặc hữu, quý hiếm; 45 loài có tên trong Sách đỏ Việt nam như: Gấu ngựa, Gấu chó, Vượn bạc má, Voọc xám, các loài Khỉ, Công, Niệc cổ hung, Trăn mốc Python, các loài Rái cá,…. Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Điện Biên
  17 Copia 11.996 Sơn La
  • Hệ thực vật: Thảm thực vật gồm 5 kiểu: Rừng kín hỗn giao cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (phân bố ở độ cao từ 1700 – 1821 m; rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (độ cao từ 800-1700 m); rừng thứ sinh; trảng cỏ cây bụi cao và rừng trồng thông. Đã xác định được 609 loài thực vật bậc cao thuộc 406 chi của  149 họ trong 5 ngành thực vật. Trong đó có 21 loài quý hiếm có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007
  •  Hệ động vật: có 65 loài thú thuộc 25 họ, 8 bộ. Trong đó có 17 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 184 loài chim, thuộc 47 họ, 14 bộ. Trong đó có 20 loài chim quý hiếm có trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và 6 phân loài đặc hữu; 22 loài lưỡng cư, thuộc 6 họ, 1 bộ và 36 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ. Trong đó có 13 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 252 loài côn trùng thuộc 4 bộ: Bộ cánh nửa (Heteroptera) được 47 loài thuộc 8 họ, bộ cánh cứng (Coleoptera) được 107 loài thuộc 11 họ, bộ cánh màng (Hymenoptera) được 29 loài thuộc 4 họ, bộ cánh phấn (Lepidoptera) được 69 loài thuộc 9 họ.
Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  18 Sốp Cộp 17.369 Sơn La       Hệ thực vật:đặc hữu và quí hiếm có 37 loài như: Bách xanh, Chò nâu, Trai lý, Kim giao, Re hương, Lát hoa, Sến mật…Hệ động vật: đặc hữu và quí hiếm có 72 loài như: Khỉ vàng, Voọc xám, Cầy giông, Cầy hương, Báo hoa mai, Tê giác, Sơn dương, Gà lôi trắng, Công, Gà tiền mặt vàng… Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  19 Tà Xùa 13.412 Sơn La       Hệ thực vật: có 613 loài thực vật, trong đó có 59 loài quý hiếm như Pơ mu, Thông tre, Lát hoa, Đinh, Chò chỉ, Vù hương, Nghiến, Sến mật, Trai lý, Pơ mu, Táu mật…      Hệ động vật: có 348 loài động vật (59 Loài động vật quý hiếm thuộc sách đỏ Việt Nam) như: Cu ly lớn, Khỉ mặt đỏ, Voọc xám, Gấu chó, Mèo rừng, Báo gấm, Sơn dương, Tê tê, Triết bụng vàng… Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  20 Xuân Nha 16.317 Sơn La       Hệ thực vật: Có 1010 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 180 họ thực vật. Trong đó có 65 loài thực vật quý hiếm, nhiều loài cây gỗ quí như: Lát hoa, Du Sam, Chò chỉ, Đinh thối, Giổi xanh, Kim Giao, Thông nàng, Trầm, Ba kích, Sến mật…         Hệ động vật: có 345 loài động vật thuộc 27 bộ, 95 họ. Trong đó, 43 loài động vật quý hiếm thuộc sách đỏ Việt Nam như: Cu ly nhỏ, Khỉ mặt đỏ, Voọc đen má trắng, Vượn đen, Sói đỏ, Cầy vằn bắc, Bò tót, Sơn dương, Tê tê Java… Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  21 Nà Hẩu 16.400 Yên Bái       Hệ thực vật:thảm thực vật phong phú gồm trên 40 loại cây quý hiếm như: dẻ tùng sọc trắng, thảo quả, sa nhân đỏ, gù hương…      Hệ động vật: cũng có nhiều loài động vật có giá trị bảo tồn trong nước và quốc tế. Loài thú có: báo hoa mai, mèo gấm, báo lửa, cầy vằn bắc…; loài chim có: hồng hoàng, gà lôi trắng và nhiều loài trong họ khướu, bộ sẻ; các loài bò sát có: hổ mang chúa, rùa đầu to, kỳ đà hoa… Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái

 

  22 Hang Kia-Pà Cò 5.258 Hoà Bình       Hệ thực vật:đặc hữu và quý hiếm gồm 9 loài: Thông đỏ, Thông Pà cò, Các loài lan kim tuyến, Bách xanh, Pơ mu, Trai lý, Nghiến, Củ bình vôi, Cây một lá.Hệ động vật: đặc hữu, quý hiếm gồm có 11 loài: Cu li nhỏ, Mèo rừng, Sơn dương, Gà lôi trắng, Hổ mang chúa, Cầy vằn, Chim yểng, Rắn ráo trâu, Rắn cạp nia bắc, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang. Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình
  23 Ngọc Sơn-Ngổ Luông 15.891 Hoà Bình      Ngọc Sơn cũng đã ghi nhận sự có mặt của quần thể Voọc quần đùi trắng Trachypithecus delacouri, là loài đặc hữu của Việt Nam và đang bị đe doạ tuyệt chủng toàn cầu.Ngọc Sơn là mắt xích quan trọng trong một tổ hợp các khu đề xuất bảo vệ, trải dài từ VQG Cúc Phương đến biên giới Việt Lào. Điều này cho thấy, các khu vực rừng chuyển tiếp có thể được bảo vệ cũng như các hành lang sinh cảnh sẽ được tái thiết lập tại các khu vực rừng đã bị tàn phá. Ngọc Sơn là nơi có thể tồn tại các cảnh quan tự nhiên nguyên sơ nhất tại Việt Nam. Chi cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình

 

  24 Phu Canh 5.647 Hoà Bình       Hệ thực vật:rất phong phú, đa dạng các loài cây đặc hữu và quý hiếm có 14 loài như: Thông tre lá ngắn, Bách xanh, Sến mật, Re hương, Táu mật, Lát hoa, Trai lý, Kháo xanh, Vù hương, Du sam, Lát hoa, Ba gạc lá nhỏ, Đinh vàng, Đinh thối.Hệ Động vật: đặc hữu và quý hiếm có 13 loài như: Cu li nhỏ, Khỉ đuôi lợn, Sơn Dương, Tê vàng, Gà tiền mặt vàng, Yểng, Rắn hổ mang chúa… Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình
  25 Thượng Tiến 5.873 Hoà Bình       Hệ thực vật:có giá trị như Kim Giao, Thông tre lá ngắn, Re hương, Gù hương.      Hệ động vật: có giá trị như Báo gấu, Gấu ngựa, Rắn hổ mang chúa, Cầy bay, Cu ly, Rắn hổ trâu, Mèo rừng, Gà lôi trắng, Rái cá. Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình
  26 Tiền Hải(1994) 3.245 Thái Bình       Hệ thực vật:có hơn 180 loài cây rừng ngập mặn (sú, vẹt, bần, mắm…)Hệ động vật: có hơn 150 loài chim nước, trong đó nhiều loài nằm trong Sách đỏ (Cò thìa Ptalaleaminor, Bồ nông chân xám Pelecanus philippensis), hơn 80 loài cá và 20 loài giáp xác (tôm sú, ngao, cá đối). 08 loài chim và 02 loài động vật (Rái cá và Cá Thủ vàng) đặc hữu quý hiếm, cùng với VQG Xuân Thuỷ, KBT Tiền Hải khu RamSar đầu tiên của Việt Nam, năm 2004 đã được Uỷ ban UNESCO công nhận là một trong vùng lõi quan trọng của Khu dự trữ sinh quyển Thế giới. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình
  27 Vân Long

(2002)

1.974 Ninh Bình       Hệ thực vật: có khoảng 457 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi, 127 họ. Đặc biệt, có 8 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam (1996) là kiêng, lát hoa, tuế lá rộng, cốt toái bổ, sắng bách bộ, mã tiền, hoa tán, bò cạp núi.Hệ động vật: có 39 loài, 19 họ, 7 bộ thú, trong đó 12 loài động vật quý hiếm như voọc quần đùi với số lượng cá thể lớn, gấu ngựa, sơn dương, khỉ mặt đỏ, báo hoa mai, báo gấm. Có 9 loài bò sát được ghi trong sách đỏ Việt Nam vẫn có ở Vân Long như rắn hổ chúa, kỳ đà hoa, trăn đất, rắn ráo trâu, rắn sọc đầu đỏ…Vân Long cũng có khả năng hình thành được một vườn chim vì có 62 loài, 32 họ, 12 bộ chim và hiện nay có khoảng gần 300 con cò bợ, cò ruồi, cò trắng thường xuyên kiếm ăn ở bãi sình lầy và ruộng lúa. Tuy vùng đất ngập nước ở Vân Long chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhưng đây cũng rất có thể là nơi quan trọng đối với các loài chim nước di cư như sâm cầm. Một trong những ghi nhận đáng chú ý ở Vân Long là đại bàng Bonelli. Đến nay, khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Vân Long là điểm duy nhất đã ghi nhận chính xác loài đại bàng này ở Việt Nam. Điều đáng chú ý là tại các khu vực ngập nước Vân Long có các loài cà cuống, một nhóm côn trùng quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam. Ngoài giá trị dược lý gắn liền với văn hoá ẩm thực, cà cuống sống được là biểu hiện sự trong sạch của môi trường nước, giúp con người tiêu diệt một số loài thân mềm mang bệnh ký sinh trùng, loài ốc bươu vàng. Chi cục kiểm lâm tỉnh Ninh

Bình

 

  28 Pù Hu 23.028 Thanh Hóa  Hệ thực vật:có 2 kiểu rừng chính. Rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao dưới 700 m, với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Đậu Fabaceae, họ Xoan Meliaceae và họ Bồ hòn Sapindaceae. Ở những nơi có độ cao thấp hơn, kiểu rừng này đã bị tàn phá để lấy đất làm nương rẫy. Kiểu rừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao trên 700 m, với các loài thực vật ưu thế của họ Dẻ Fagaceae, họ Dâu tằm Moraceae và họ Re Lauraceae (Anon. 1998). Ở đó có 508 loài thực vật khác nhau.Hệ động vật: Đã ghi nhận được 266 loài động vật, một số loài thú có giá trị bảo tồn như Gấu ngựa, Gấu chó, Bò tót và Vượn – có thể là loài Vượn đen má trắng (Anon. 1998); 1 loài chim có vùng phân bố hẹp là Trèo cây mỏ vàng (Theo Lê Trọng Trải, 2000).

 

UBND tỉnh và chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa
  29 Pù Luông 16.902 Thanh Hóa      Hệ thực vật: có05 loại kiểu rừng chính tồn tại do kết quả của sự đa dạng độ cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên núi đá vôi (60-700 m); rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch và đất sét (60-1.000 m); rừng lá rộng chân núi đá vôi (700-950 m); rừng lá kim chân núi đá vôi (700-850 m) và rừng lá rộng chân núi Bazan (1.000-1.650 m). Khu bảo tồn cũng tồn tại các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất nông nghiệpHệ độngvật: 598 loài động vật thuộc 130 họ động vật có xương sống, trong đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát). Có tổng số 84 loài thú (gồm cả 24 loài dơi), 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát và 13 loài ếch nhái đã được ghi nhận. Khu hệ côn trùng tại Pù Luông có ít nhất là 158 loài bướm, 96 loài thân mềm trên cạn, trong đó có 12 loài thân mềm có thể là đặc hữu cho khu vực. Khu bảo tồn này là nơi cư trú của báo gấm, beo lửa, hươu sao, gấu ngựa, sơn dương, voọc quần đùi trắng

 

UBND tỉnh và chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa
  30 Xuân Liên 23.475 Thanh Hóa      Hệ thực vật: có hơn 6.000 ha rừng nguyên sinh, 572 loài thực vật, trong đó có 156 cây thuốc quý, hơn 40 loài cây ăn quả, hơn 300 loài cây lấy gỗ, 23 loài cây lấy nhựa và dầu như trầm gió, bời lời, quế và hàng trăm cây thuốc quý, cây đan lát, hàng chục họ lan. Đặc biệt, ở đây còn có loài cọ Bắc Sơn quanh năm tốt tươi, tán lá mọc chụm ở ngọn, dáng to cao, tạo nên vẻ đẹp uy nghi, hùng vĩ…Trong đó có 4 loài là các loài đặc hữu Việt Nam là cây vù hương, Cọ mai nháp lá nhỏ, loài Croton boniana và cây lá nến không gai.Hệ động vật: Tổng số có 38 loài thú được ghi nhận, 10 trong số đó là các loài bị đe dọa trên toàn cầu. Các loài thú được ghi nhận có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác bảo tồn bao bồm bò tót, voọc xám, vượn đen má trắngmang Roosevelt. Tổng số có 136 loài chim thuộc 11 bộ 29 họ điển hình, một số loài có số lượng lớn như gà rừng, hồng hoàng; 53 loài bò sát và lưỡng cư, 143 loài bướm.

Di tích, danh lam thắng cảnh: Cùng nằm trong KBTTN Xuân Liên có đền thờ Cầm Bá Thước, người lãnh đạo phong trào Cần vương ở phía Tây Thanh Hóa.

UBND tỉnh và chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa
  31 Pù Hoạt 35.723 Nghệ An       Hệ thực vật:          – Kiểu rừng nhiệt đới núi cao: nhiều loài đặc hữu và đặc biệt là sự tồn tại của các loài cây lá kim (hạt trần) cổ như: Pơ mu, Bách xanh, Sa mu, các loài này tuy số lượng và sinh khối trên toàn rừng không lớn nhưng là những cây có tầm vóc lớn cả về chiều cao và đường kính mà không có loài nào cây nào ở trong nước có thể sánh nổi. Nếu so sánh với 8 cây đã được P.W. Richards giới thiệu trong “Rừng mưa nhiệt đới” như Cự tùng  H = 102, D = 8; Bạch đàn vua ở Úc; Bạch quả ở Trung Quốc chu vi 16vm; cây Com pat ở Sarawark… thì những cây Sa mu của Pù Hoạt có thể đứng vào hàng thứ 8 hoặc thứ 9 trong số các cây có tầm vóc lớn nhất thế giới. Do đó những quần thể các loài lá kim trong kiểu rừng này của Pù Hoạt là một trong số các mẫu ít ỏi của trái đất còn tồn tại và tạo nên những cảnh ngoạn mục trên vùng đỉnh núi cao luôn luôn có mây che phủ.

Kiểu Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình: Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, sinh trưởng tốt, cây lá kim có Thông nàng, Kim giao rải rác đôi chỗ trên các sườn giông và rất dốc. Cây lá rộng với các loài tiêu biểu của các Họ sau: Họ Dẻ (Fagaceae) có khá nhiều loài và cũng chiếm ưu thế trong một số tổ thành đai diện của Họ Dẻ như: Cà ổi, Dẻ đá, Sồi , Dẻ cau; Họ Re có 30 loài của các chi, trong đó chi phân bố rộng; Họ Dầu tuy ít loài nhưng ở nhiều lâm phần ở Thông thụ  và Phu Pha Nhà đã chiếm ưu thế tuyệt đối tới trên 50% trong tổ thành. Họ Mộc lan với nhiều cây gỗ lớn của các chi Giổi; Họ Hồng xiêm với nhiều loài cây gỗ nổi tiếng Sến Mật với đường kính trên 60 – 80 cm cũng đôi khi chiếm 3 – 5% trong tổ thành. Ở kiểu rừng này cá Họ sau xuất hiện và đóng vai trò quan trọng là Họ Xoan với các loài Gội; Họ Bồ hòn với các loài Sâng , Trường; Họ Thị có 6 – 7 loài của chi Diospyros. Kiểu rừng này phần lớn cũng là rừng ít bị tác động, tính nguyên sinh cao và có nhiều động vật quí hiếm sinh sống như: Voi, Bò tót, Hươu nai, Gấu, Hoẵng.

Kiểu Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp:  Thảm thực vật không đồng đều với nhiều họ và nhiều đại diện ưa sáng của các Họ Thầu dầu, Sim, Xoan, Dâu tằm, Cánh bướm, Vang, Thị, Re, Dẻ, Côm. Rừng chia 3 tầng, tầng ưu thế sinh thái tạo thành tán rừng với các loài điển hình: Chẹo, Bứa, Vạng, Lim xẹt, Mọ, Muồng, Đa, Mãi táp, Ngát, Côm, Bời lời, Chắp.

Kiểm lâm, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt và Uỷ Ban Nhân dân xã, huyện có rừng
  32 Pù Huống 40.128 Nghệ An  Hệ thực vật: Đến nay, tổng cộng có 665 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 43 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.Hệ động vật: đã ghi nhận được 291 loài thú, trong đó có 45 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam (Ban Quản lý Khu BTTN Pù Huống, 2003). Tổng cộng có 148 loài chim, trong đó có 10 loài trong Sách Đỏ Việt Nam. Pù Huống hiện có quần thể loài Vượn đen bạc má (Kemp và Dilger 1996). Khu BTTN Pù Huống có diện tích sinh cảnh tự nhiên đủ lớn cho sự tồn tại và phát triển của loài vượn này, vì vậy hiện tại mối đe doạ lớn nhất đối với loài này chính là săn bắn. Ngoài ra sự có mặt của Sao la Pseudoryx nghetinhensis trong vùng cũng được ghi nhận năm 1995 thông qua phỏng vấn và định loại mẫu tiêu bản (Kemp et al. 1997). UBND tỉnh Nghệ An
  33 Kẻ Gỗ 21.759 Hà Tĩnh        Hệ thực vật: có các loài thực vật quý như: táu, , chò chỉ, kim giao, sến, lát hoa, nhiều loại cây cho gỗ có tên trong sách đỏ Việt Nam như lim xanh, sến mật, gụ, lau, vàng tâm, trầm hương, song mật, lát hoa, côm bạch mã, chùm bao Trung Bộ, bời lời vàng, v.v… Đây là khu hệ thực vật (TV) phong phú đặc trưng cho nhiều luồng TV của khu hệ TV bản địa Bắc VN – Nam Trung Hoa, luồng TV Indonsia – Malaysia và luồng thực vật Hymalaya.      Hệ động vật: đã phát hiện được 364 loài động vật có xương sống thuộc 99 họ. Các loại động vật quý hiếm như: trĩ sao, gà lôi lam đuôi trắng, gà lôi hồng tía, ngan cánh trắng, vượn, gấu, hổ, tê tê, sóc bay. Ở đây có gà lôi lam mào đen, 100 loài bò sátlưỡng cư. Các loài thú lớn hiếm hoi do tình trạng săn bắt bừa bãi. Đến nay, tại khu BTTN Kẻ Gỗ Gà lôi lam đuôi trắng, một trong ba loài gà lôi đặc hữu của Việt Nam đang trong tình trạng bị đe doạ tuyệt chủng, và nhiều loại quý hiếm khác. Trong 47 loài thú ở đây có 18 loài (chiếm 21%) được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế giới. Rừng Kẻ Gỗ cũng là xứ sở của các loại mộc lan, phong lan đẹp và quý như quế hương, tai tượng, tai trâu, đuôi chồn, nghinh xuân, phượng vĩ… Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh
  34 Bắc Hướng Hóa 25.200 Quảng Trị   Hệ thực vật: Tại khu BTTN Bắc Hướng Hóa, trong tổng số 35 họ và 117 loài thuộc 2 ngành Thực vật bậc cao có mạch thì ngành Thông gồm 2 họ, 6 loài; ngành Ngọc lan gồm 33 họ, 111 loài. Những họ có nhiều loài cho gỗ là: Đậu– 12 loài; Long não– 11 loài; Dẻ  – 10 loài; Đào lộn hột, Vang, Thị  và Bồ hòn, mỗi họ có 6 loài; Xoan và Kim giao, mỗi họ có 5 loài. Đáng chú ý là những loài cho gỗ tốt như Hoàng đàn giả, Gụ lau, Lim vàng, Lim xẹt, Xoay, Dẻ giáp, Vù hương, Giổi xanh, Lát hoa. Trong đó có 9 loài đã được cấp báo trong Sách Đỏ Việt Nam.Đây là những cây gỗ lớn có kích thước với đường kính thân từ 60 cm trở lên hay bị săn lùng và khai thác trái phép, cần bảo tồn những loài cây trên và có phương án gây trồng những cây con từ nguồn giống của những cây này trong khu bảo tồn.Bên cạnh đó có nhiều loài làm cảnh là Lan: 13 loài; Dứa sợi: 5 loài; Dâu tằm – 4 loài; Lộc vừng, Thu hải đường, Kim giao, Tuế, mỗi họ có 3 loài; Mai – 2 loài. Trong số đó có 3 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Một số loài chủ yếu Dendrobium spp. (họ Lan – Orchidaceae), Barringtonia spp. (họ Lộc vừng) và một số loài thuộc ngành Dương xỉ và Thông.

Hệ động vật: đã ghi nhận sự có mặt của bò tót với số lượng không nhiều.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị

 

  35 Đakrông 37.640 Quảng Trị       Hệ thực vật:Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông với đặc trưng sinh thái lá rộng, thường xanh trên đất thấp.Hệ động vật: đã ghi nhận về sự có mặt của loài gà lôi lam mào trắng có tên khoa học là Lophura edwardsi, một loài đặc hữu có giá trị bảo tồn cao và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Nhiều loại động thực vật ở đây đã có tên trong sách đỏ Việt Nam như: Sao la, Mang Trường Sơn, Chà vá chân nâu, Voọc, Lim xanh…và được tổ chức Bảo tồn chim thế giới xếp vào vùng chim quan trọng Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị

 

  36 Phong Điền 30.263 Thừa Thiên-Huế        Hệ động vật: có143 loài bướm, thuộc 10 họ. Trong đó có loài bướm quý papipio noblie; đã ghi nhận 44 loài Thú, trong 7 bộ và 20 họ. Trong tổng số loài thú có 19 loài được ghi trong sách đỏ Thế Giới (IUCN,1996) Chi cục kiểm lâm tỉnh TTH

 

  37 Sơn Trà 3.871 Đà Nẵng      Hệ thực vật:Đây là khu bảo tồn thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên sinh. Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng, phong phú với số lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng…     Hệ động vật: có những loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó Voọc vá được xem là loài thú sinh trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Đà Nẵng

 

  38 Bà Nà-Núi Chúa 30.206
(Đà Nẵng)
2.753
Quảng Nam)
Đà NẵngQuảng Nam      Bà Nà có hệ động thực vật phong phú và đa dạng. Trong những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn là nơi cư trú của 256 loài động vật, trong đó có 61 loài thú, 178 loài chim và 17 loài bò sát. Hệ thực vật ở đây có 543 loài gồm 136 họ và 379 chi. Bà Nà là nơi có nhiều loài động vật quý hiếm cư trú như trĩ sao, gấu đen châu Á, vượn bạc má hung…Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, đối tượng bảo vệ là rừng nhiệt đới và nhiều loại động thực vật quý hiếm.
  39 Ngọc Linh 17.576 Quảng Nam       Hệ thực vật:có nhiều loài thực vật đặc hữu Việt Nam như Thông đà lạt và Sâm ngọc linh.      Hệ động vật: Hệ động vật rừng của khu bảo tồn này rất đa dạng với 53 loài thú. 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư, 25 loài cá… Ngoài ra, đây cũng là nơi phân bố của một số loài chim, thú đặc hữu mới được phát hiện gần đây như Mang Trường Sơn và Khướu Ngọc Linh là loài phân bố giới hạn cho vùng Trung Trường Sơn của Việt Nam.

Ngọc Linh là một trong bốn Vùng Chim Đặc hữu của Việt Nam vừa được công bố (Tordoff et al. 2000), và đã được công nhận là một Vùng Chim Quan trọng của Việt Nam (Tordoff 2002).

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam

 

  40 Sông Thanh 79.694 Quảng Nam       Hệ thực vật:Hệ thực vật có tổng số 831 loài thực vật bậc cao trong đó có 38 loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.     Hệ động vật: có sự hiện diện của nhiều loài thú lớn và hiếm như hổ, báo, voi, voọc cá chân nâu, voọc cá chân xám, mang Trường Sơn…với 14 loài động vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam

 

  41 An Toàn 22.545 Bình Định       Hệ thực vật: KBT có 19.414 ha rừng tự nhiên, 127 ha rừng trồng. Thành phần thực vật trong khu vực tương đối đa dạng với một số loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao như Gõ đỏ, Giáng hương quả to.      Hệ động vật: có một số loài thú có giá trị bảo tồn: loài Chà vá chân xám Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Định

 

  42 Hòn Bà 19.164 Khánh Hòa      Cảnh quan:đỉnh Hòn bà rất hùng vỹ nhưng còn rất hoang sơ , chưa được bàn tay con người khai thác để phục vụ du lịch.Hệ thực vật: đã thống kê được 43 loài quý hiếm được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam, trong đó đáng kể là các loài Thông 2 lá dẹp, Pơ mu, Hồng quang, Gỏ đỏ, Trắc dây, Mun (Diospyros mun), Xoay, cây Ớt làn mụn cóc là loài đặc hữu hẹp mới chỉ tìm thấy ở Hòn Bà và Ninh Hòa (Khánh Hòa). Hòn Bà là nơi có nguồn dược liệu tự nhiên hết sức phong phú và giá trị cao: Nấm Linh chi, Sa nhân, Dó bầu, Lười ươi, Cốt toái bổ, Ngũ gia bì, Ba gạc, Bời lời chanh…

       Hệ động vật: theo kết quả thống kê sơ bộ cho thấy hệ ĐVR bao gồm 255 loài thuộc 88 họ; nằm trong 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái. Đặc biệt có sự hiện diện của các đàn Chà vá chân đen và Vượn bạc má.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa

 

  43 Krông Trai 13.392 Phú Yên       Hệ thực vật:có khoảng 36 loài thực vật.Hệ động vật: 50 loài thú, 182 loài chim và 22 loài bò sát, trong số đó có nhiều loài động quí hiếm có giá trị cao cho nghiên cứu khoa học, tham quan tìm hiểu.

Văn hóa: Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai còn là nơi bảo tồn các văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của các đồng bào dân tộc ít người như đồng bào Ê Đê, Ba Na với các lễ hội: đâm trâu, lễ bỏ mả, lễ hội mùa, kể khan, nghệ thuật nhà mồ.

  44 Núi Ông 24.017 Bình Thuận        Hệ thực vật:Các kiểu rừng chính tại khu bảo tồn gồm rừng thường xanh, rừng rụng lá và nửa rụng lá (Anon. 1992). Kiểu rừng phân bố rộng nhất là rừng thường xanh đất thấp, tuy nhiên ở những vùng bị xáo trộn mạnh nhất bởi hoạt động khai thác gỗ là nơi có rừng nửa rụng lá ưu thế bởi các loài họ Dầu Dipterocarpaceae. Khu vực còn có một số diện tích nhỏ của kiểu rừng rụng lá nguyên sinh ở vùng xa nhất về phía đông nam của khu bảo tồn. Tại những đai cao hơn có kiểu rừng thường xanh núi thấp và rừng lùn xuất hiện ở đai cao nhất xung quanh đỉnh núi Ông. Ngoài ra còn có trảng cỏ, trảng cây bụi, trảng cây bụi có cây gỗ rải rác ở những vùng thấp.Tổng số có 332 loài thực vật bậc cao có mạch đã được ghi nhận tại Khu BTTN Núi Ông, trong đó có một số loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như Gõ đỏ, Trắc bà rịa.Hệ động vật: có 52 loài thú, 96 loài chim, 21 loài bò sát, 7 loài ếch nhái và 22 loài cá đã được ghi nhận. Trong đó có nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu như Voọc vá chân đen Pygathrix nemaeus nigripes và Vượn đen má hung Hylobates gabriellae (Anon. 1992)

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Thuận

 

  45 Tà Kóu 8.468 Bình Thuận         Hệ thực vật:gồm 3 kiểu rừng: rừng nhiệt đới thường xanh núi thấp, rừng nhiệt đới bán rụng lá núi thấp và rừng nhiệt đới lá rộng rụng lá mùa khô. Đây là nơi cung cấp một lượng lớn cây lấy thuốc nổi tiếng chất lượng cao ở miền Nam. Hệ thực vật của núi ước khoảng 1.000 loài thực vật có mạch trong đó đã ghi nhận hơn ¼ có thể sử dụng làm dược liệu.Có ít nhất 15 loài thực vật quý hiếm và nguy cấp ở Tà Kóu.       Hệ động vật: Có ít nhất 10 loại động vật quý hiếm và  nguy cấp được ghi nhận ở Tà Kóu. Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Thuận

 

  46 Ngọc Linh 38.109 Kon Tum        Hệ thực vật:có 874 loài thực vật bậc cao thuộc 537 chi, họ. Khu bảo tồn có kiến tạo địa chất lâu đời, còn tồn tại nhiều loài loài thực vật cổ xưa như các họ ngọc lan, họ na, họ chè, họ cáng lồ và các họ thực vật ôn đới. Có 9 loài thực vật đặc hữu, trong đó sâm Ngọc Linh là cực kỳ quý hiếm. Có nhiều kiểu rừng như rừng cây lá rộng, lá kim…Hệ động vật: 309 loài động vật hoang dã. Động vật có 5 loài thú được ghi trong Sách Đỏ thế giới: Khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, báo gấm, hổ, nhím đuôi ngắn và 15 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Trong khu hệ chim phát hiện hai loài mới là khướu đầu hung, khướu đuôi vằn; khu hệ bò sát có 3 loài đặc hữu là thằn lằn đuôi đỏ, rùa hộp trán vàng và ếch da cóc…

 

  47 Kon Cha Răng
(Kon Chư Răng)
15.446 Gia Lai        Hệ thực vật:Kiểu rừng chính ở đây là rừng nhiệt đới thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao từ 900 – 1.000 m ở phía tây bắc khu bảo tồn. Kiểu rừng này chiếm 70 – 80% diện tích rừng trong khu vực, với thành phần thực vật ưu thế bởi các loài cây thuộc họ Dẻ Fagaceae, Re Lauraceae, Mộc lan Magnoliaceae mọc hỗn giao với các loài cây lá kim như Thông nàng Podocarpus imbricatus, Hoàng đàn giả Dacrydium elatum. Chỉ có khoảng 2% diện tích là rừng thứ sinh, chủ yếu là trảng cây gỗ rải rác và cây bụi (Anon. 1999).      Hệ động vật: có 62 loài thú, 169 loài chim và 161 loài bướm. KBTTN là một bộ phận của vùng Chim Đặc hữu Cao nguyên Kon Tum và đã được công nhận là một trong số các vùng chim quan trọng tại Việt Nam (Tordoff 2002)

 

  48 Ea Sô 24.017 Đắk Lắk        Địa hình rất phong phú và đa dạng, nổi bật là vùng núi cao hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi , trảng bằng, đồng cỏ tạo nên một vùng đặc sắc với nhiều kiểu thảm thực vật và được đánh giá là môi trường sống lí tưởng nhất hiện tại ở Việt Nam của nhiều loài động vật rừng thuộc bộ thú móng guốc ăn cỏ. Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới là: bò tót, bò rừng… 
  49 Nam Kar 21.912 Đắk Lắk        Hệ thực vật: Địa hình ở đây hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi gò, trảng bằng, đồng cỏ đầm hồ, sông suối tạo nên một vùng đặc sắc gần như hội đủ các dạng địa hình nên cũng có đủ các kiểu thảm thực vậtmôi trường sống lí tưởng của nhiều loài động vật rừng. Ở đây có các kiểu rừng chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới, rừng thứ sinh tre, nứa, gỗ- lồ ô tre nứa, rừng trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác… Tổng diện tích có rừng là 20.932,3 ha có độ che phủ là 95,5%. Có 586 loài thực vật bậc caocó mạch thuộc 149 họ của 67 bộ trong 5 ngành thực vật.Hệ động vật: Lớp chim có 140 loài thuộc 43 họ của 17 bộ. Lớp Thú có 56 loài thuộc 24 họ của 9 bộ. Lớp Lưỡng cư-bò sát có 50 loài thuộc 16 họ của 4 bộ. Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới là: bò tót, hổ, beo, vọoc vá, cầy giông, gà lôi, gà tiền, cu li nhỏ

 

  50 Nam Nung 10.912 Đắk Nông        Hệ thực vật:có 408 loài thực vật bậc cao có mạch. KBT có 3 kiểu thảm thực vật chính là: Rừng nhiệt đới thường xanh núi thấp, rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp và kiểu rừng nửa rụng lá đất thấp.-  Rừng nhiệt đới núi thấp phân bố ở độ cao trên 1.000 m với thực vật ưu thế thuộc các họ: Re, Dẻ, Chè, Mộc lan, Kim giao, và Đỗ quyên.

–  Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp phân bố ở đội cao từ 800 – 1.000 m. Thực vật ưu thế trong kiểu rừng này thuộc về các loài: Sao đen, Dầu rái và một số loài thuộc họ Re và họ Dẻ.

–  Kiểu rừng nửa rụng lá phân bố ở độ cao dưới 800 m, với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Dầu (Anon. 1994).

Hệ động vật: 58 loài thú, 127 loài chim và 33 loài bò sát đã ghi nhận cho khu bảo tồn (Anon. 1994).

 

  51 Tà Đùng 17.915 Đắk Nông       Hệ thực vật:đã ghi nhận 931 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam như: Vù hương, Giáng hương quả to, Thông Đà lạt, Hồng quang và Trầm hương.Hệ động vật:  đã ghi nhận được 47 loài thú thuộc 18 họ và 5 bộ. Đặc biệt, trong quá trình khảo sát đã phát hiện mẫu tiêu bản của loài Mang lớn Muntiacus vuquangensis là loài thú lớn mới được phát hiện gần đây và Bò tót Bos gaurus là loài thú lớn bị đe dọa toàn cầu. Không chỉ quan trọng đối với các loài thú, Tà Đùng cũng ghi nhận một số loài lưỡng cư đang bị đe dọa trên toàn cầu như Limnonectes toumanoffi, loài này chỉ được ghi nhận tại phía nam Việt Nam và đông Cămpuchia (IUCN-SSC and CI-CABS 2003).

 

  52 Bình Châu-Phước Bửu 10.905 Bà Rịa – Vùng Tàu        Hệ thực vật:gồm 732 loài thuộc 123 họ với 114 loài thực vật quý hiếm như gõ đỏ, cẩm lai Bà Rịa, xoan đào, trắc, giáng hương, huỳnh đàn, bình linh…Hệ động vật: gồm 205 loài có xương sống, trong đó có 49 loài thú thuộc 21 họ, 9 bộ với 36 loài quý hiếm như gấu chó, khỉ đuôi lợn, cu li lớn, cu li nhỏ, voọc xám bạc, mèo rừng. 106 loài chim, trong đó có các loài quý như gà lôi hông tía, gà lôi vằn, bồ câu nâu, yến núi và rất nhiều loài bò sát như trăn gấm, trăn đất, rắn hổ mang, tắc kè, nhông cát…

 

  53 Vĩnh Cửu 53.850 Đồng Nai        Hệ thực vật:Thảm thực vật chiếm ưu thế là rừng thường xanh và bán thường xanh đất thấp.      Hệ động vật: Kết quả của một số đợt điều tra đa dạng sinh học tại Vĩnh Cửu đã cho thấy cùng với diện tích rừng liền kề tại VQG Cát Tiên, khu vực là nơi quan trọng trong công tác bảo tồn một số loài thú bị đe dọa toàn cầu như Voi châu Á Elephas maximus.

 

  54 Láng Sen 5.030 Long An        Hệ thực vật:Thực vật trong khu vực Láng Sen khá phong phú với 156 loài thực vật hoang dã trong đó có 152 loài đã xác định được tên khoa học thuộc 60 họ được tìm thấy, trong đó khuyết thực vật có 7 loài, song tử diệp có 88 loài và đơn tử diệp có 57 loài.       Hệ động vật: có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen. Trong đó: lớp Lưỡng thê: 4 loài, lớp Bò sát:17 loài, lớp Chim: 101 loài, lớp Thú: 6 loài. Ngoài ra đã phát hiện được 61 loài chim ở Láng Sen. Như vậy, tổng số các loài chim phát hiện được đã lên đến 122 loài và tổng số các loài động vật có xương sống (không kể cá) lên đến 149 loài, trong đó có 13 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam.
  55 Thạnh Phú 2.584 Bến Tre Hệ thực vật: Thực vật ưu thế trong rừng ngập mặn ven biển ở Thạnh Phú như là Đước, các loài Mắm, A. officinalis, Giá và Bần Sonneratia spp.. Trong đó, rừng Đước Rhizophora apiculata chiếm diện tích lớn nhất Rừng ngập mặn là sinh cảnh quan trọng đối với quần xã sinh vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao.

Các bãi ngập triều là sinh cảnh quan trọng đối với các loài chim nước. Tuy nhiên, tất cả các loài chim nước ghi nhận ở Thạnh Phú đều là các loài phổ biến và phân bố rộng như Choi choi xám Pluvialis squatarola, Choắt lớn Tringa nebularia và Rẽ cổ xám Calidris alba. Hơn nữa, khu vực Thạnh Phú không nằm trong 3 tiêu chuẩn đánh giá nhanh của BirdLife và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật nhằm xác định các khu đất ngập nước quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học ở đồng bằng sông Cửu Long, đó là: xuất hiện số lượng đáng kể các loài bị đe dọa hoặc sẽ bị đe dọa toàn cầu; xuất hiện các loài chỉ thị cho các giá trị của đất ngập nước; và xuất hiện các sinh cảnh có giá trị đa dạng sinh học cao (Buckton et al. 1999).

 

  56 Ấp Canh Điền 363 Bạc Liêu ( Chưa có tài liệu nghiên cứu chính xác)
  57 Hòn Chông 965 Kiên Giang  Hệ thực vật:– Phần đồng Hà Tiên ở huyện Kiên Lương phần lớn là vùng trảng cỏ ngập nước theo mùa, ngoài ra còn có một số vùng rừng Tràm trồng. Ở những vùng tiếp giáp, sinh cảnh tự nhiên đã bị chuyển đổi thành đất canh tác nông nghiệp và đầm tôm. Thực vật ưu thế ở các trảng cỏ tự nhiên còn lại chủ yếu là các loài Năng Eleocharis dulcis, E. ochrostachys E. retroflexa, Hoàng đầu, Đưng , Mua, Lác hến, Cỏ lông bò, Cỏ đuôi voi, Lác Cyperus spp. và Cỏ bàng (Buckton et al. 1999).

– Phần đồng Hà Tiên thuộc thị xã Hà Tiên là một vùng sinh cảnh hỗn hợp gồm các trảng cỏ, các vùng tràm gió tái sinh và đầm Dừa nước. Vùng đồng cỏ là kiểu đồng cỏ tự nhiên ngập nước theo mùa ưu thế bởi quần xã đơn loài chiếm những diện tích lớn của khu vực. Vùng tràm gió tái sinh gồm các cây bụi có chiều cao từ 2 – 6 m. Thành phần thảm thực vật sát đất biến đổi tuỳ thuộc vào điều kiện nước và đất, tuy vậy những loài thường gặp nhất vẫn là Sậy, Mây nước, một số nơi thường gặp là San, Dứa dại và Ráng đại. Hệ thực vật đầm lầy ưu thế bởi Nypa fruticans phân bố ở những vùng nước lợ. Các loài khác thường gặp là Ô rô, Cóc kèn, Mò trắng, Chà là, Mái dầm và Lác (Buckton et al. 1999).

      Hệ động vật:

– Phân loài Sếu đầu đỏ có số lượng cao nhất là 377 cá thể đã được đếm tại khu vực Hòn Chông vào năm 2002 chiếm một tỷ trọng lớn của tổng quần thể trong mùa không sinh sản của phân loài này là 821 cá thể (số liệu riêng của A. Tordoff).  Ngoài ra còn có loài Quắm cánh xanh tại khu vực vào năm 1999 và 2003.

– Các loài chim nước lớn khác đã được ghi nhận trong khu vực đề xuất là Giang sen, Hạc cổ trắng và Bồ nông chân xám (Buckton et al. 1999). KBTTNcó ít nhất là hai chi bọ cánh cứng được xác định là đặc hữu của khu vực (Ferrer in press).

–  Khu hệ ốc cạn của vùng cát-tơ đá vôi cũng có giá trị đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài đặc hữu địa phương hoặc đặc hữu vùng (FFI in prep.). Ngoài ra, các vùng núi đá vôi tại đồng Hà Tiên còn là nơi cư trú của ít nhất hai quần thể voọc độc lập với nhau, định loại sơ bộ xác định loài này là Voọc xám

Tổng hợp

Phân loại đô thị Việt Nam

Đô thị loại đặc biệt, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những thành phố giữ vai trò “trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ thuật, đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của cả nước”. Trong cơ cấu lao động, khu vực nông nghiệp không được quá 10%. Quy mô dân số của thành phố phải từ 1,5 triệu người trở lên hoặc mật độ dân số bình quân từ 15.000 người/km2 trở lên.
Hiện ở Việt Nam có hai thành phố sau đây được chính phủ xếp loại đô thị đặc biệt: Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Để hỗ trợ chính quyền hai thành phố này hoàn thành chức năng của đô thị loại đặc biệt, Chính phủ cho Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh hưởng một số cơ chế tài chính-ngân sách đặc thù.

Đô thị loại 1, trong cách phân loại đô thị ở Việt Nam, là những thành phố giữ vai trò trung tâm quốc gia hoặc trung tâm vùng lãnh thổ liên tỉnh. Nghị định số 72/2001/NĐ-CP về việc phân loại đô thị và cấp quản lý đô thị nêu một số tiêu chí xác định thành phố là đô thị loại 1, gồm:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 85% trở lên
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt đồng bộ và hoàn chỉnh
4. Quy mô dân số từ 50 vạn người trở lên
5. Mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2 trở lên
Hiện ở Việt Nam có 6 thành phố được Thủ Tướng Chính phủ quyết định công nhận đô thị loại 1, đó là: Đà Nẵng, Hải Phòng, Huế, Vinh, Đà Lạt và Nha Trang.
Cần Thơ, Đà Nẵng và Hải Phòng là ba thành phố trực thuộc trung ương và là những trung tâm quốc gia. Mặc dù Cần Thơ hiện tại (năm 2009) là thành phố trực thuộc trung ương nhưng vẫn là đô thị loại 2 (giống Đà Nẵng trước đây khi là thành phố trực thuộc trung ương vẫn là đô thị loại 2, cho đến năm 2003 Thủ tướng chính phủ mới có quyết định công nhận Đà Nẵng là đô thị loại 1). Cần Thơ là trung tâm của vùng Tây Nam Bộ, Đà Nẵng là trung tâm của miền Trung, Hải Phòng là trung tâm của vùng Duyên hải Bắc Bộ. Còn Huế, Vinh, Đà lạt và Nha Trang tuy là đô thị loại 1 nhưng hiện vẫn là thành phố trực thuộc tỉnh và là một trong các trung tâm của miền Trung, tây nguyên.

Đô thị loại 2 phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:
1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả nước
2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên
3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn chỉnh
4. Quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên
5. Mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km2 trở lên

Đô thị loại 3 phải đảm bảo các tiêu chuẩn sau đây:

  1. Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh;
  2. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên;
  3. Có cơ sở hạ tầng được xây dựng từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh;
  4. Quy mô dân số từ 10-35 vạn người trở lên và/hoặc mật độ dân số bình quân từ 10.000 người/km² trở lên.

Thành phố trực thuộc Trung ương được xếp vào hạng các đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại 1/2 nhưng là các thành phố lớn, có nền kinh tế phát triển, là khu vực quan trọng về quân sự, chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội là động lực phát triển cho cả quốc gia/vùng lãnh thổ chứ không còn nằm bó hẹp trong phạm vi một tỉnh. Các thành phố này có cơ sở hạ tầng và khoa học công nghệ phát triển, có nhiều cơ sở giáo dục bậc cao, dân cư đông, thuận lợi về vận tải. Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, khi Cần Thơ được nâng cấp lên thành thành phố trực thuộc trung ương, Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc trung ương:
Tên thành phố Ghi chú Cần Thơ Đơn vị hành chính cấp tỉnh loại 2 Đà Nẵng Đơn vị hành chính cấp tỉnh loại 1 Hà Nội Thủ đô, đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt Hải Phòng Đơn vị hành chính cấp tỉnh loại 1 Thành phố Hồ Chí Minh Đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt

Thành phố trực thuộc tỉnh
là một đơn vị hành chính tương đương với cấp quận, huyện, thị xã, chịu sự quản lí trực tiếp của UBND của tỉnh đó. Và đó cũng là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa, giáo dục, … của một tỉnh (tỉnh lỵ). Một số thành phố lớn trực thuộc tỉnh còn được giữ vai trò làm trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị, … của cả một vùng (liên tỉnh). Không phải tỉnh nào cũng có thành phố trực thuộc mà thay vào đó là thị xã hoặc thậm chí là huyện giữ vai trò là tỉnh lỵ. Song lại có tỉnh có tới hơn một thành phố trực thuộc.
Tên thành phố trực thuộc tỉnh: Bắc Giang,Bắc Ninh,Biên Hòa, Buôn Ma Thuột, Cà Mau, Cao Lãnh, Đà Lạt, Điện Biên Phủ, Đồng Hới, Hà Tĩnh, Hạ Long, Hải Dương, Hòa Bình, Hội An, Huế, Hưng Yên, Lạng Sơn, Lào Cai, Long Xuyên, Móng Cái, Mỹ Tho, Nam Định, Ninh Bình, Nha Trang, Phan Rang-Tháp Chàm, Phan Thiết, Phủ Lý, Pleiku, Quảng Ngãi, Qui Nhơn, Rạch Giá, Sóc Trăng, Sơn La, Tam Kỳ, Thái Bình, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Tuy Hòa, Việt Trì, Vinh, Vĩnh Yên, Vũng Tàu, Yên Bái, Kon Tum, Vĩnh Long.

Ba tỉnh đang có đề án đưa cả tỉnh thành thành phố trực thuộc trung ương là Bình Dương, Thừa Thiên Huế và Khánh Hòa

Một số thị xã/huyện đang có thủ tục đề nghị Chính phủ nâng lên thành phố.

Tài liệu Bộ Tiêu chuẩn nghề du lịch Việt Nam (VTOS)


Các tiêu chuẩn VTOS được thiết kế trên cơ sở phân tích và hình thành những công việc người lao động cần thực hiện để hoàn tất yêu cầu của một công việc cụ thể. Bảng kỹ năng nghề xác định chính xác những việc người lao động phải làm. Từ những phân tích này, những kiến thức và kỹ năng cần thiết được thiết lập nhằm giúp người lao động có thể thực hiện công việc hiệu quả trong điều kiện thông thường. Bảng này trình bày các công việc ở trình độ cơ bản và được chia thành: Phần việc kỹ năng và Phần việc kiến thức.

Phần việc kỹ năng mô tả những gì mà người lao động phải làm, qua đó giúp họ thực hiện tốt công việc. Phần việc kiến thức đề cập kiến thức bỏ sung hay lý thuyết mà người lao động ở trình độ cơ bản cần có để thực hiện công việc một cách chính xác.

Mỗi tiêu chuẩn VTOS được chia thành 3 phần chính:

 + Phần một mô tả tổng thể công việc, chức danh thường dùng và danh mục công việc. Đây chính là phần hình thành nên tiêu chuẩn.

+ Phần hai gồm kế hoạch liên hoàn nêu chi tiết các công việc, phần việc kỹ năng và phần việc kiến thức.

+ Phần ba nêu chi tiết tiêu chuẩn các kỹ năng nghề.

Phần việc Kỹ năng

 Các tiêu chuẩn phần việc kỹ năng được thể hiện trong bảng có 5 cột như sau:

 Bước (thực hiện): xác định rõ những gì người lao động phải thực hiện để hoàn thành phần việc theo thứ tự logíc.

 Cách làm: mô tả cách thực hiện các bước và thường được trình bày với mục đích minh họa cho những kỹ năng cần có.

 Tiêu chuẩn: phần này liên hệ tới những tiêu chuẩn quốc tế liên quan đến những tiêu chí về chất lượng, số lượng, thời gian, tính liên hoàn, vệ sinh, an toàn v.v. nhằm đảm bảo thực hiện các bước theo đúng tiêu chuẩn.

 Lý do: giải thích tại sao cần phải tiến hành các bước theo một cách thức rất cụ thể và tại sao cần phải áp dụng những tiêu chuẩn đó.

 Kiến thức: phần này liên hệ tới những yêu cầu về kiến thức cần thiết để hỗ trợ thực hiện công việc, ví dụ, chính sách của công ty hoặc tài liệu tham khảo. Những kiến thức này bổ sung và củng cố phần thực hành những kỹ năng cần thiết.

 Phần việc kiến thức:

 Cách trình bày phần Phần việc kiến thức hơi khác một chút, cụ thể cột Nội dung được trình bày thay cột Bước (thực hiện); và Mô tả thay cho cột Cách làm. Trong đó cột Nội dung trình bày phần lý thuyết và cột Mô tả giải thích, minh họa làm rõ thêm cho phần lý thuyết.

 Cách sử dụng tiêu chuẩn VTOS

 Tiêu chuẩn VTOS được thiết kế cho Đào tạo viên, là những người đã tham dự Chương trình phát triển Đào tạo viên và được VTCB cấp chứng chỉ.

 Tiêu chuẩn VTOS là cơ sở giúp các doanh nghiệp xây dựng chương trình đào tạo ở trình độ cơ bản cho nhân viên và xác định nhu cầu đào tạo phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp. Ngoài ra, các cơ sở đào tạo có thể sử dụng Tiêu chuẩn VTOS để tham khảo xây dựng chương trình đào tạo sinh viên nghề ở trình độ cơ bản.

 Đối với các doanh nghiệp đã có tiêu chuẩn hoạt động, Tiêu chuẩn VTOS giúp củng cố và hỗ trợ cho các tiêu chuẩn hiện có. Với những doanh nghiệp chưa có tiêu chuẩn hoạt động, các Đào tạo viên có thể sử dụng Tiêu chuẩn VTOS để xây dựng các tiêu chuẩn hoạt động cho doanh nghiệp, qua đó góp phần nâng cao chất lượng tiêu chuẩn dịch vụ.

Mặc dù các doanh nghiệp có thể sử dụng Tiêu chuẩn VTOS theo nội dung hiện có, Hội đồng VTCB vẫn khuyến khích các Đào tạo viên điều chỉnh tiêu chuẩn VTOS thành tiêu chuẩn hoạt động phù hợp với điều kiện của doanh nghiệp.

 Bên cạnh tài liệu Tiêu chuẩn kỹ năng nghề, các Đào tạo viên cần sử dụng các phương tiện hỗ trợ cho công tác đào tạo nhân viên như DVD video, ảnh minh họa những công việc chính. Ngoài ra, để củng cố kỹ năng và kiến thức của mình phục vụ cho công tác đào tạo, đào tạo viên có thể sử dụng các tài liệu tham khảo khác như 05 quyển giáo trình nghiệp vụ khách sạn: Kỹ năng khách sạn, Lễ tân, Nhà hàng, Lưu trú và Chế biến món ăn đã được Hội đồng VTCB xây dựng trong khuôn khổ Dự án đào tạo nghiệp vụ khách sạn do Chính phủ Luxembourg tài trợ. Những tài liệu này do VTCB xuất bản và hiện đang có sẵn.

13 CHUẨN NGHỀ DU LỊCH VIỆT NAM:

1. Nghiệp vụ Buồng
2. Nghiệp vụ Lễ tân
3. Nghiệp vụ Nhà hàng
4. Nghiệp vụ An ninh khách sạn
5. Kỹ thuật chế biến món ăn Âu
6. Kỹ thuật làm bánh Âu
7. Kỹ thuật chế biến món ăn Việt Nam
8. Nghiệp vụ đặt giữ buồng khách sạn
9. Nghiệp vụ Quản lý khách sạn nhỏ
10. Nghiệp vụ Đại lý Lữ hành
11. Nghiệp vụ Điều hành Tour
12. Nghiệp vụ đặt giữ chỗ Lữ hành
13. Nghiệp vụ hướng dẫn du lịch

TIÊU CHUẨN VTOS ĐƯỢC SỬ DỤNG:

 – Thiết kế cho Đào tạo viên VTOS dùng để đào tạo nhân viên theo tiêu chuẩn VTOS.

 – Giúp các doanh nghiệp tham khảo để xây dựng hoặc điều chỉnh tiêu chuẩn của doanh nghiệp.

– Giúp các cơ sở Đào tạo về Du lịch tham khảo để xây dựng bài giảng.
– Giúp người lao động hiểu và thực hiện công việc của mình đúng cách thức và tiêu chuẩn.
– Giúp cho ngành Du lịch Việt Nam có một đội ngũ nhân lực du lịch thống nhất về tiêu chuẩn kỹ năng nghề.

Tải tài liệu 13 chuẩn nghề Du lịch Việt Nam  tại đây:

 http://www.mediafire.com/?4oyih8ob1639iaz

 http://www.mediafire.com/?ymb11qsyp4ne2rj

Pass để giải nén: tailieudulich

Thuật ngữ Du lịch

1/ Các khái niệm/thuật ngữ liên quan đến lữ hành

Inbound Khách du lịch quốc tế, người Việt tại Hải ngoại đến thăm quan, du lịch Việt Nam.
Outbound Người Việt Nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi thăm quan, du lịch các nước khác
Nội địa Người Việt Nam, người nước ngoài tại Việt Nam đi thăm quan, du lịch Việt Nam
Leisure Travel Chỉ loại hình du lịch phổ thông cho khách thăm quan , nghỉ dưỡng theo các hành trình thăm quan thông thường. Loại hình này phù hợp với hầu hết các đối tượng khách.
Adventure travel Chỉ loại hình khám phá và hơi có chút mạo hiểm. Loại hình này thường phù hợp với khách trẻ và thích tự do khám phá. Trong loại hình này các công ty lữ hành còn đặt cho các cái tên cụ thể hóa hình thức tour như Biking, Bird watching tour…
Trekking Đây thực sự là tour khám phá, mạo hiểm bởi khách tham gia các hành trình này sẽ tới những nơi ít người qua hoặc những vùng thường chỉ dành cho người bản xứ. Tour này đòi hỏi sức khỏe tốt, khả năng chịu đựng và thích nghi cao cùng với các điều kiện dịch vụ ở mức tối thiểu
Kayaking Là tour khám phá mà khách du lịch tham gia trực tiếp chèo 1 loại thuyền được thiết kế đặc biệt có khả nảng vượt các ghềnh thác hoặc vũng biển. Tham gia loại hình này thường yêu cầu sức khỏe rất tốt và sự can đảm trước mọi thử thách của thiên nhiên.
Homestay Tham gia loại hình này du khách sẽ không ở khách sạn mà ở tại nhà người dân, sinh hoạt cùng người dân bản xứ.
Diving tour Là loại hình tour tham gia lặn biển khám phá các rặng san hô, ngắm cá và cả thử thách sức chịu đựng của bản thân. Tham gia tour này bạn được cung cấp bình dưỡng khí, bộ đồ lặn và cả huấn luyện viên đi kèm nếu bạn lặn lần đầu. Thông thường bạn có thể lặn được xuống tới độ sâu 7-10m mà không vấn đề gì cho lần thử đầu tiên.

Nếu không can đảm lặn sâu (diving) bạn có thể thử bơi (snokling) với ống thở và kính bơi. Với hình thức này, bạn bơi trên mặt nước và úp mặt xuống nước để ngắm đại dương qua kính. Nếu bạn không biết bơi thì đây cũng không hẳn đã đơn giản.

Incentive Là loại tour khen thưởng. Thông thường chỉ các đoàn khách là các đại lý hoặc nhân viên một công ty nào đó được thưởng cho đi du lịch. Đây thường là tour cao cấp với các dịch vụ đặc biệt.
MICE tour Là khái niệm chung chỉ loại hình tour Hội thảo (Meeting), Khen thưởng (Incentive), Hội nghị (Conference) và hội chợ (Exhibition).  Khách hàng tham gia các tour này với mục đích hội họp, triển lãm là chính và tham quan chỉ là kết hợp trong thời gian rỗi
Full board package Tour trọn gói gồm tất cả các bữa ăn sáng, ăn trưa, ăn tối bao gồm trong chi phí tour.
Half board package Tour trọn gói nhưng chỉ gồm các bữa ăn sáng và bữa ăn trưa hoặc ăn tối bao gồm trong chi phí tour. Bữa ăn còn lại để khách tự do.
Free & Easy package Là loại gói dịch vụ cơ bản chỉ bao gồm phương tiện vận chuyển (vé máy bay, xe đón tiễn sân bay), phòng nghỉ và các bữa ăn sáng tại khách sạn. Các dịch vụ khác khách tự lo.

Một số từ viết tắt trên hành trình tour:

ABF American breakfast: Bữa ăn sáng kiểu Mỹ, gồm: 2 trứng, 1 lát thịt hun khói hoặc xúc xích, vài lát bánh mỳ nướng với mứt, bơ, bánh pancake (một loại bánh bột mỳ mỏng)…nước hoa quả, trà, cà phê.
Continental breakfast Bữa ăn sáng kiểu lục địa, thường có vài lát bánh mì bơ, pho mát, mứt, bánh sừng bò, bánh ngọt kiểu Đan Mạch, nước quả, trà, cà phê. Kiểu ăn sáng này phổ biến tại các khách sạn tại Châu Âu.
Buffet breakfast Ăn sáng tự chọn: thông thường có từ 20-40 món cho khách tự chọn món ăn theo sở thích. Hầu hết các khách sạn tầm trung tới cao cấp đều phục vụ kiểu ăn sáng này
Set breakfast Ăn sáng đơn giản phổ biến tại các khách sạn mini chỉ với 1 món hoặc bánh mỳ ốp la hoặc phở, mỳ với hoa quả, trà hoặc cà phê.
L Lunch: Bữa ăn trưa
D Dinner: Bữa ăn tối
S S = Supper: bữa ăn nhẹ trước khi đi ngủ
Soft drinks Các loại đồ uống không cồn
Free flow soft drink Thường tại các bữa tiệc, đồ uống nhẹ không cồn được phục vụ liên tục trong bình lớn cho khách tự do lấy suốt bữa tiệc.

    2/ Các khái niệm/thuật ngữ liên quan tới khách sạn

ROH – Run of the house Khách sạn sẽ xếp phòng cho bạn bất cứ phòng nào còn trống bất kể đó là loại phòng nào. Thông thường với khách đoàn khách sạn sẽ cung cấp dạng này cho khách.
STD = Standard Phòng tiêu chuẩn và thường nhỏ nhất, tầng thấp, hướng nhìn xấu, trang bị tối thiểu và giá thấp nhất
SUP = Superior Phòng hạng sang, giá trị cao hơn phòng Standard với tiện nghi tương đương nhưng diện tích lớn hơn hoặc hướng nhìn đẹp hơn. Giá cao hơn STD.
DLX = Deluxe Phòng sang trọng, loại phòng cao hơn SUP, thường ở tầng cao, diện tích rộng, hướng nhìn đẹp và trang bị cao cấp.
Suite Phòng đặc biệt sang trọng, loại phòng cao cấp nhất và thường ở tầng cao nhất với các trang bị và dịch vụ đặc biệt kèm theo. Thông thường mỗi phòng Suite gồm 1 phòng ngủ, 1 phòng khách, 2 phòng vệ sinh và nhiều ban công hướng đẹp nhất. Các khách sạn khách nhau đặt tên phòng loại này khác nhau nhằm tăng thêm mức độ VIP để bán giá cao hơn như: President (Tổng thống), Royal Suite (Hoàng gia)…
  Connecting room  2 phòng riêng biệt có cửa thông nhau. Loại phòng này thường được bố trí cho gia đình ở nhiều phòng sát nhau.
SGL = Single bed room Phòng đơn có 1 giường cho 1 người ở

TWN = Twin bed room Phòng có 2 giường đơn cho 2 người ở, thường dành cho bạn bè

DBL = Double bed room Phòng có 1 giường đôi cho 2 người ở. Thường dành cho vợ chồng.

TRPL = Triple bed room   Phòng cho 3 người ở hoặc có 3 giường đơn hoặc có 1 giường đôi và 1 giường đơn
Extra bed Giường kê thêm để tạo thành phòng Triple từ phòng TWN hoặc DBL
G.I.T(Group of independent travellers) Đoàn du lịch, nhóm du lịch
F.I.T (Full of independent travellers) Khách tự tổ chức đi du lịch
Room rates Giá buồng
Rack rate Giá niêm yết (giá công bố)
Group rate Giá cho khách đoàn, nhóm
Commercial rate Giá ký hợp đồng
Complimentary rate Không phải thanh toán, miễn phí, dành cho trưởng đoàn hoặc hướng dẫn viên
Family rate Giá dành cho gia đình đi du lịch
Day rate Giá dành cho khách không ngủ qua đêm
Package plan rate Giá trọn gói
Government rate Giá dành cho các tổ chức chính phủ
Contract rate Giá ký kết hợp đồng
Corporate rate Giá hợp đồng với các công ty
F.O.C (free of charge) Miễn phí
Resort hotel Khách sạn nghỉ dưỡng hoặc khu nghỉ mát
Residential Hotel Khách sạn dành cho khách thuê lâu dài
Room status Bảng tình trạng buồng
Registration Đăng ký
Welcome drink Nước mời chào đón khách đến với khách sạn
Airport pick-up Đón khách từ sân bay về khách sạn
Over booked Tình trạng buồng đã quá tải
Waiting list Danh sách khách chờ xếp
Fully booked Khách sạn kín buồng
Late check out Trả buồng muộn hơn dự kiến
Early check in Làm thủ tục nhận buồng sớm
King size bed Giường đôi cỡ lớn 2,4 x 2,2
Queen size bed Giường đôi cỡ lớn 1,8 x 2,2
IDD phone Điện thoại gọi trực tiếp quốc tế
Satellite T.V Vô tuyến truyền hình qua vệ tinh
Credit card guarantee Đảm bảo bằng thẻ tín dụng
Long term (long stay) guest Khách ở lâu dài
Upgrade the room Bố trí buồng tốt hơn loại khách đặt, khách không phải thanh toán chênh lệch
Morning call Đánh thức buổi sáng

3/ Các khái niệm/thuật ngữ liên quan đến phương tiện vận chuyển:

Thông thường thì xe khách phục vụ khách du lịch được gọi là Coach thay vì bus dùng cho xe buýt chạy tuyến.

SIC: Seat in coach Loại xe buýt chuyên thăm quan thành phố chạy theo các lịch trình cố định và có hệ thống thuyết mình qua hệ thống âm thanh tự động trên xe. Khách có thể mua vé và lên xe tại các điểm cố định.
First class Vé hạng sang nhất trên máy bay và giá cao nhất
Economy class Hạng phổ thông: các ghế còn. Hạng ghế này thường được các hãng hàng không đánh số Y, M, L…nhằm mục đích thương mại.
OW: one way Vé máy bay 1 chiều
RT: return Vé máy bay khứ hồi
STA: Scheduled time arrival Giờ đến theo kế hoạch
ETA: Estimated time arival Giờ đến dự kiến
STD: Scheduled time departure Giờ khởi hành theo kế hoạch
ETD: Estimated time departure Giờ khởi hành dự kiến
Ferry Phà: Đây thực sự không phải là Phà theo khái niệm nhận diện tại Việt Nam với loại phương tiện cũ kỹ vận chuyển ngang sông thay cho đò ngang. Ferry có thể là những con tàu du lịch vận chuyển dài ngày theo những tuyến cố định với khả năng chuyên chở nhiều nghìn khách và nhiều loại phương tiện giao thông đường bộ trên đó. Ferry cũng có những phòng nghỉ tương đương khách sạn 5 sao, những bể bơi, sân tennis, câu lạc bộ…

4/ Các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến giấy tờ khi đi du lịch

Passport: hộ chiếu Có thể hiểu là CMT Quốc tế do một quốc gia cấp cho công dân của mình. Hộ chiếu giúp xác định nhân thân một cá nhân tại bất cứ nơi nào trên thế giới.
Group Passport: Hộ chiếu nhóm Một số quốc gia cấp loại hộ chiếu này cho một nhóm công dân dùng để đi du lịch 1 lần nhằm giảm chi phí.
Emergency passport: Hộ chiếu khẩn Thường được cấp trong trường hợp một người nào đó mất hộ chiếu chính thức. Hộ chiếu khẩn thường không có giá trị dùng đi di lịch ngoại trừ mục đích giúp người được cấp quay trở về nhà.
Normal passport: Hộ chiếu phổ thông Loại thông thường dùng cho mọi công dân
Official Passport: Hộ chiếu công vụ Cấp cho quan chức đi công vụ
Diplomatic passport: Hộ chiếu ngoại giao Cấp người làm công tác ngoại giao như Đại sứ quán…
Thị thực: Visa Được hiểu là cấp phép của một quốc gia nào đó cho một công dân nước ngoài được phép vào lãnh thổ quốc gia đó trong một thời gian nhất định. Một số nước miễn trừ thủ tục này cho công dân một số nước khác. Visa cũng có nhiều loại.- Visa thường: Loại thông thường dành cho khách du lịch và cấp bới Đại sứ quán trước chuyến đi.

– Visa làm việc, học tập…: Cấp theo mục đích cụ thể ngoài du lịch

– Visa của khẩu: Visa on arrival (VOA): Cấp trực tiếp cho khách tại cửa khẩu.

– Visa transit: Dùng mục đích quá cảnh thời gian ngắn để khách nối chuyến bay. Thường là tối đa 72h quá cảnh.

– Giấy thông hành: Giống như visa nhưng có những giới hạn riêng về thời gian và địa điểm được phép đến thăm.