Sự Tích Thập Bát La Hán

1. LA HÁN BA TIÊU

Tên của Ngài là Phạt-na-bà-tư 伐那婆斯 (Vanavāsin). Theo truyền thuyết khi mẹ Ngài vào rừng viếng cảnh, mưa to dữ dội và bà hạ sanh Ngài trong lúc ấy. Sau khi xuất gia với Phật, Ngài thích tu tập trong núi rừng, thường đứng dưới các cây chuối nên còn được gọi là La-hán Ba Tiêu.

Có lần, đức Phật hàng phục con yêu long trong một cái đầm sâu. Cảm phục ân đức của Phật, yêu long xin Ngài lưu lại chỗ của mình để được gần gũi cúng dường. Phật dạy Ngài không thể ở một nơi lâu, nên cử năm vị Đại A-la-hán đến, đó là các vị Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Nhân-kiệt-đà, Tô-tần-đà và Phạt-na-bà-tư. Khi tôn giả Phạt-na-bà-tư đến tiếp nhận lễ vật cúng dường, Ngài thường thích tọa thiền trên phiến đá lớn bên cạnh đầm, khi thì ngồi suốt tuần, lúc ngồi cả nửa tháng.

Theo lời phó chúc của đức Phật, Tôn giả lưu tâm hóa độ vua Ca-nị-sắc-ca. Nhân dịp nhà vua đi săn, Tôn giả hóa làm con thỏ trắng dẫn đường cho vua đến gặp một mục đồng đang lấy bùn đất nặn tháp Phật. Mục đồng nói rằng Phật thọ ký 400 năm sau vua Ca-ni-sắc-ca sẽ xây tháp thờ Phật tại đây. Mục đồng ấy cũng chính là Phạt-na-bà-tư hóa hiện. Từ đó, vua trở nên bậc đại quân vương hoằng dương Phật pháp, xây chùa tháp tự viện, ủng hộ cúng dường Tăng chúng, tổ chức kiết tập kinh điển Phật giáo lần thứ tư tại thủ đô Ca-thấp-di-la. Tất cả những thành tựu này đều nhờ thâm ân giáo hóa của tôn giả Phạt-na-bà-tư.

Theo Pháp Trụ Ký, tôn giả Phạt-na-bà-tư là vị La-hán thứ mười bốn, ngài và 1.400 vị La-hán thường ở trong núi Khả Trụ.

2. LA HÁN BỐ ĐẠI

Tên của Ngài là Nhân-yết-đà 因羯陀 Nhân-kiệt-đà (Angada). Theo truyền thuyết Ngài là người bắt rắn ở Ấn Độ, xứ này nhiều rắn độc hay cắn chết người, Ngài bắt chúng, bẻ hết những răng nanh độc rồi phóng thích lên núi. Hành động ấy phát xuất bởi lòng từ cao độ, nên Ngài được xem như biểu trưng của từ bi. Sau khi đắc đạo, Ngài thường mang một túi vải bên mình để đựng rắn, cũng trùng hợp như Hòa thượng Bố Đại ở Trung Hoa.

Nhân có một người nước Ô-trượng-na muốn tạc tượng Bồ-tát Di-lặc, nhưng chưa được thấy diện mạo Bồ-tát nên không dám làm. Ông lập hương án trong vườn hoa chí thành khấn nguyện, cung thỉnh một vị Hiền Thánh đến để giúp ông. Khấn xong thì có một vị La-hán xuất hiện xưng tên là Nhân-yết-đà, đến đưa ông lên cung trời Đâu-suất để gặp Bồ-tát Di-lặc. Tôn giả đã đưa người này lên cung trời trước sau cả thảy ba lần để chiêm ngưỡng chân tướng trang nghiêm của Bồ-tát. Tượng Bồ-tát tạo xong được bảo tồn tại thủ đô nước Ô-trượng-na, đó là nhờ công ơn của Tôn giả.

La-hán là bậc bất sanh bất diệt, đến đi tự tại, các Ngài du hóa nhân gian dưới mọi hình thức. La-hán Bố Đại có hình tướng mập mạp, bụng to, túi vải lớn bên mình như là hiện thân của Bồ-tát Di-lặc, trong câu chuyện trên đã có ít nhiều liên hệ.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ mười ba, thường cùng 1.300 vị A-la-hán trụ trong núi Quảng Hiếp.

3. LA HÁN CỬ BÁT

Tên của Ngài là Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà 迦諾迦跋釐墮蛇 (Kanakabharadvāja). Ngài là vị Đại đệ tử được đức Phật giao phó giáo hóa vùng Đông Thắng Thần Châu.

Quốc vương nước Tăng-già-la ở Nam Hải không tin Phật pháp, Tôn giả Ca-nặc-ca tìm cách hóa độ. Một sớm mai, khi đang cầm gương soi mặt, quốc vương giật mình kinh sợ vì trong gương không có mặt mình mà có hình dáng vị đại sĩ Bạch Y. Đây là do phép thần biến của Tôn giả. Theo lời khuyên của quần thần, nhà vua cho tạc tượng Bồ-tát Quan Thế Âm để thờ phụng và từ đó hết lòng tin Phật.

Ngài Huyền Trang khi sang Ấn Độ, trú tại chùa Na-lan-đà nghe kể câu chuyện sau: Sau khi Phật Niết-bàn vài trăm năm, quốc vương nước Ma-kiệt-đà làm lễ lạc thành ngôi chùa Đại Phật, thỉnh mấy ngàn vị Hòa thượng đến cúng dường. Khi mọi người bắt đầu thọ trai, bỗng nhiên có hai vị Hòa thượng từ không trung bay xuống. Cả hội chúng kinh ngạc, vua hỏi lai lịch thì một vị xưng là Tân-đầu-lô ở Tây-cù-da-ni châu, một vị xưng là Ca-nặc-ca ở Đông Thắng Thần Châu. Vua vui mừng thỉnh hai Tôn giả chứng minh trai phạn. Thọ trai xong, hai vị cười nói:

– Này các vị, 16 La-hán chúng tôi sẽ mãi mãi lưu lại thế gian, cùng tu tập với tất cả Phật tử chí thành đời sau.

Tôn giả Ca-nặc-ca thường mang một cái bát sắt bên mình khi du hành khất thực, nên được gọi là La-hán Cử Bát.

Theo Pháp Trụ Ký ngài là vị La-hán thứ ba, thường cùng 600 vị A-la-hán trú tại Đông Thắng Thần Châu.

4. LA HÁN HÀNG LONG

Ngài tên là Nan-đề-mật-đa-la 難提密多 (Nandimitra), Trung Hoa dịch Khánh Hữu, ra đời sau Phật diệt độ 800 năm, cư trú tại nước Sư Tử.

Ngài là vị Đại La-hán thần thông quảng đại, đạo hạnh trang nghiêm. Tương truyền có một lần cả đảo Sư Tử bị Long Vương dâng nước nhận chìm, Tôn giả ra tay hàng phục rồng nọ và được tặng hiệu La-hán Hàng Long. Khi Ngài sắp thị tịch, mọi người buồn thương lo sợ vì thế gian sẽ không còn bậc La-hán. Ngài cho biết có 16 vị La-hán vâng lệnh Phật lưu trụ cõi Ta-bà để ủng hộ Phật pháp. Lời dạy của Ngài được ghi chép lại thành bộ “Pháp Trụ Ký”. Nói “Pháp Trụ Ký” xong, tôn giả Khánh Hữu bay lên không trung hóa hiện vô số thần biến, rồi dùng chơn hỏa tam-muội thiêu thân. Xá-lợi ngũ sắc rơi xuống như mưa, mọi người tranh nhau lượm mang về tôn thờ cúng dường.

Tuy đã thiêu thân, nhưng Tôn giả không rời nước Sư Tử, Ngài bay về động đá trên núi để tọa thiền. Thời gian thoáng chốc đã hơn 400 năm, khi Tôn giả xuất định Ngài ôm bát xuống núi khất thực thì thấy phong cảnh đã đổi khác. Ngài nhẫm tính lại và khám phá ra mình đã tọa thiền hơn 400 năm bèn bật cười ha hả. Sau đó Ngài thường xuất hiện khắp nơi, khi thì trì bát, lúc thì giảng kinh… Mọi người vẫn còn tin rằng Ngài vĩnh viễn không rời thế gian mà luôn luôn cùng 16 vị La-hán kia tiếp tục hoằng hóa.

* Dị bản: Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la là vị La-hán thứ 17, do mọi người tưởng nhớ công ơn ngài nói ra Pháp Trụ Ký.

5. LA HÁN KHAI TÂM

Hình tượng vạch áo bày ngực để hiển lộ tâm Phật. Ngài tên là Thú-bác-ca 戍博迦 (Jivaka). Thú-bác-ca vốn là một Bà-la-môn nổi danh, nghe nói thân Phật cao một trượng sáu, Thú-bác-ca không tin nên chặt một cây trúc dài đúng một trượng sáu để đích thân đo Phật. Lạ thay, dù đo bất cứ cách nào, thân Phật vẫn cao hơn một chút. Thú-bác-ca tìm một cây thang dài rồi leo lên thang đo lại, kết quả cũng vậy. Đo đến mười mấy lần, không còn cây thang nào dài hơn mà thân Phật vẫn cao hơn. Lúc này ông thiệt tình khâm phục và xin quy y làm đệ tử.

Sau khi xuất gia, trải qua bảy năm khổ hạnh, Ngài chứng quả A-la-hán. Vì muốn kỷ niệm nhân duyên đo Phật mà xuất gia ngộ đạo, Ngài lấy cây sào lúc trước, đi đến chỗ cũ nói:

– Nếu Phật pháp là chân lý ngàn đời thì xin cây sào này mọc lại và sinh trưởng ở đây.

Nói xong, Ngài cắm cây sào xuống đất. Cây sào bỗng nẩy chồi ra lá. Thời gian sau từ chỗ đó mọc lên một rừng trúc tốt tươi lan rộng cả vùng, người ta gọi nơi ấy là Trượng Lâm. Quần chúng Phật tử kéo đến chiêm bái chứng tích mầu nhiệm của cây gậy đo Phật. Nơi đây rừng núi khô cằn hoang dã, thiếu nước uống nghiêm trọng, tôn giả Thú-bác-ca liền vận thần thông biến ra hai suối nước một nóng, một lạnh để mọi người tha hồ sử dụng. Hai suối này nằm cách mười dặm về phía Tây Nam của Trượng Lâm. Dân chúng vùng này mãi nhớ ơn đức của Tôn giả.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài Thú-bác-ca là vị La-hán thứ chín, thường cùng 900 vị La-hán trụ trong núi Hương Túy.

6. LA HÁN KHÁNG MÔN

Tên của Ngài là Chú-trà-bán-thác-ca, hay Châu-lợi-bàn-đặc 周利槃特 (Cullapatka). Truyền thuyết Phật giáo nhắc đến Ngài như một tấm gương cần cù nhẫn nại. Vì không thông minh như anh nên khi xuất gia Ngài không tiếp thu được Phật pháp, kể cả xếp chân ngồi thiền cũng không xong. Về sau được sự chỉ dạy lân mẫn của Thế Tôn, Ngài thực hành pháp môn quét rác với cây chổi trên tay. Nhờ sự kiên trì, dốc tâm thực hành lời dạy của Phật, quét sạch mọi cấu uế bên trong lẫn bên ngoài, Ngài đã chứng Thánh quả.

Một hôm đại thần Kỳ-bà thành Vương Xá thỉnh Phật và các vị A-la-hán đến nhà thọ trai. Tôn giả Bán-thác-ca không biết em mình đã chứng quả nên không phát thẻ tham dự. Đến khi chuẩn bị thọ trai, Phật bảo Bán-thác-ca về tinh xá xem có sót người nào. Tôn giả về Trúc Lâm thì thấy cả ngàn vị Hòa thượng đang tọa thiền rải rác trong vườn. Ngạc nhiên và dùng thiên nhãn quán sát, mới vỡ lẽ ra đó là trò đùa của em mình, Tôn giả mừng rỡ xúc động, tán thán công phu của Châu-lợi-bàn-đặc.

Theo truyền thuyết, khi đi khất thực Tôn giả gõ cửa một nhà nọ và làm ngã cánh cửa cũ hư. Điều này cũng gây bối rối! Về sau, Phật trao cho Tôn giả một cây gậy có treo những chiếc chuông nhỏ để khỏi phải gõ cửa nhà người. Nếu chủ nhân muốn bố thí thì sẽ bước ra khi nghe tiếng chuông rung. Cây gậy gõ cửa trở thành biểu tượng của Tôn giả, và là hình ảnh quen thuộc trong sinh hoạt Phật giáo.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả là vị La-hán thứ mười sáu, cùng với 1.600 vị A-la-hán thường trú tại núi Trì Trục.

7. LA HÁN KHÁNH HỶ

Ngài tên là Ca-nặc-ca-phạt-tha 迦諾 迦伐磋 (Kanakavatsa), còn gọi là Yết-nặc-ca-phược-sa. Đức Phật thường khen Ngài là vị La-hán phân biệt thị phi rõ ràng nhất. Khi chưa xuất gia Ngài là người rất tuân thủ khuôn phép, giữ gìn từ lời nói đến hành động, một ý nghĩ xấu cũng không cho phát khởi. Sau khi xuất gia, Ngài càng nỗ lực tinh tấn tu tập, nhờ thiện căn sâu dày Ngài chứng quả A-la-hán rất mau.

Ngài thường đi du hóa khắp nơi với gương mặt tươi vui và dùng biện tài thuyết pháp để chiêu phục chúng sanh. Thấy mọi người thường vô ý tạo nhiều nghiệp ác hằng ngày, tương lai bị quả khổ địa ngục nên khi thuyết pháp Ngài thường xiển minh giáo lý nhân quả thiện ác, giúp chúng sanh phân biệt rõ ràng để sửa đổi. Một lần nọ đi ngang qua thôn trang, thấây một gia đình đang giết vô số trâu dê gà vịt để làm lễ mừng thọ. Ngài ghé lại, thuyết giảng một hồi về phương pháp chúc thọ, về cách mừng sinh nhật để được sống lâu hạnh phúc, đền đáp ơn sinh thành. Ngài dạy rằng, ngày sinh nhật là ngày khó khăn khổ nhọc của mẹ, nên phận làm con không được ăn uống vui chơi, trái lại nên tịnh tâm suy niệm ân đức cha mẹ, quyết chí tu tập thành tựu đạo nghiệp.

Bằng cách giảng dạy chân thật, Tôn giả suốt đời như ngọn hải đăng đem ánh sáng Phật pháp soi rọi nhân sinh.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ hai, thường cùng 500 vị La-hán trụ tại nước Ca-thấp-di-la (Kashmir).

8. LA HÁN KHOÁI NHĨ

Ngài tên là Na-già-tê-na 那伽犀那 (Nāgasena) hay còn gọi là Na Tiên. Nāgasena theo tiếng Phạn nghĩa là đội quân của rồng và tượng trưng sức mạnh siêu nhiên. Ngài Na Tiên sinh trưởng ở miền Bắc Ấn là bậc La-hán nổi tiếng về tài biện luận. Đương thời của Ngài gặp lúc vua Di-lan-đà cai trị, nhà vua là người Hy Lạp vốn chuộng biện thuyết. Nghe tiếng tôn giả Na Tiên là bậc bác học đa văn nên nhà vua đích thân phỏng vấn. Cuộc vấn đạo giữa bậc đế vương và bậc Tỳ-kheo thoát tục đã để lại cho chúng ta một tác phẩm bất hủ “Kinh Na Tiên Tỳ Kheo”, mà cả hai tạng Nam truyền và Bắc truyền đều lưu giữ đến nay. Nhờ sự chỉ dạy của tôn giả Na Tiên mà cuối cùng vua Di-lan-đà trở thành vị quốc vương anh minh hết lòng ủng hộ Phật pháp.

Có chỗ nói ngài Na Tiên chuyên tu về nhĩ căn, tranh tượng của Ngài mô tả vị La-hán đang ngoáy tai một cách thú vị. Mọi âm thanh vào tai đều giúp cho tánh nghe hiển lộ, rất thường trụ và rất lợi ích. Từ nhĩ căn viên thông phát triển thiệt căn viên thông, trở lại dùng âm thanh thuyết pháp đưa người vào đạo, đó là ý nghĩa hình tượng của tôn giả Na Tiên.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài cũng là vị La-hán thứ mười hai, thường cùng 1.200 vị A-la-hán trụ trong núi Bán-độ-ba.

9. LA HÁN KỴ TƯỢNG

Tên của Ngài là Ca-lý-ca 迦哩迦 (Kalica), trước khi xuất gia làm nghề huấn luyện voi. Khi Tôn giả chứng quả A-la-hán, đức Phật bảo Ngài nên ở tại quê hương mình (Tích Lan) để ủng hộ Phật pháp.

Phật đến Tích Lan thuyết kinh Lăng Già, Tôn giả cũng là một trong số đệ tử đi theo. Đức Phật sắp rời đảo, vua Dạ-xoa cung thỉnh đức Phật để lại một kỷ niệm tại đảo để làm niềm tin cho hậu thế. Thế Tôn ấn dấu chân của mình trên một ngọn núi, nơi đó trở thành Phật Túc Sơn, và bảo tôn giả Ca-lý-ca gìn giữ thánh tích này. Phật Túc Sơn nổi tiếng khắp nơi, mọi người đua nhau chiêm lễ. Trải qua thời gian nó bị chìm vào quên lãng, con đường dẫn lên núi bị cỏ hoang phủ kín. Trong dịp vua Tích Lan là Đạt-mã-ni-a-ba-á bị kẻ địch rượt đuổi nên chạy trốn vào hang núi, Tôn giả hóa thành một con nai hoa rất đẹp dụ dẫn nhà vua lên núi để hiển lộ lại dấu chân Phật. Sau nhiều triều đại kế tiếp, Phật Túc Sơn lại không người viếng thăm. Tôn giả một phen nữa hóa thành thiếu nữ bẻ trộm hoa trong vườn của vua. Khi bị bắt, thiếu nữ chỉ tay lên ngọn núi phủ sương mờ, bảo rằng mình hái hoa cúng Phật ở trên ấy. Phật Túc Sơn từ đó khắc sâu hình ảnh trong lòng người, mỗi năm đến ngày 15 tháng 3 âm lịch, quần chúng kéo nhau đi lễ bái thánh tích rầm rộ không ngớt.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Ca-lý-ca là vị La-hán thứ bảy, cùng với 1.000 vị A-la-hán luôn thường trụ tại Tăng Già Trà Châu (Tích Lan).

10. LA HÁN PHỤC HỔ

Tên của Ngài là Đạt-ma-đa-la 達磨多羅 (Dharmatrāta), người ở núi Hạ Lan tỉnh Cam Túc. Thuở nhỏ Đạt-ma-đa-la đến chùa, rất thích chiêm ngưỡng hình tượng 16 vị La-hán thờ trong điện. Sư phụ cũng hay kể cho cậu bé nghe những chuyện thần kỳ của các vị La-hán, dần dần trong tánh linh trẻ thơ in đậm hình ảnh các Ngài, thậm chí khi ngủ cũng mơ thấy.

Một hôm trong khi đang chiêm lễ, Đạt-ma-đa-la bỗng thấy các hình tượng La-hán cử động, vị thì quơ tay, vị thì chớp mắt như người thật. Ngỡ mình hoa mắt, Đạt-ma-đa-la định thần nhìn kỹ lại, lần này thấy rõ hơn, một số vị còn cười tươi tắn. Từ đó Đạt-ma-đa-la càng thêm siêng năng lễ kỉnh, và ngày nào cũng được chứng kiến các kỳ tích cảm ứng. Đạt-ma-đa-la theo hỏi một vị La-hán cách tu tập để được trở thành La-hán. Ngài chỉ dạy cậu nên siêng năng tọa thiền, xem kinh, làm các việc thiện. Đạt-ma-đa-la phát tâm tu hành, thực hiện lời dạy của bậc La-hán nên chẳng bao lâu chứng quả.

Thành một A-la-hán thần thông tự tại, Ngài thường du hóa trong nhân gian, giảng kinh thuyết pháp, gặp tai nạn liền ra tay cứu giúp. Tôn giả ba lần thu phục một con hổ dữ đem nó về núi cho tu, đi đâu thì dẫn theo. Bên cạnh hình tượng Ngài người ta vẽ thêm một con hổ, Ngài thành danh La-hán Phục Hổ.

La-hán Hàng Long và La-hán Phục Hổ là hai vị được đưa thêm vào danh sách Thập Lục La-hán, để trở thành một truyền thuyết vĩnh viễn được tôn thờ.

11. LA HÁN QUÁ GIANG

Tên của Ngài là Bạt-đà-la 跋陀羅 (Bhadra). Bạt-đà-la còn gọi là Hiền, vì mẹ Ngài hạ sanh Ngài dưới cây Bạt-đà, tức là cây Hiền.

Theo truyền thuyết, Tôn giả rất thích tắm rửa, mỗi ngày tắm từ một đến mười lần, và như vậy rất mất thời gian đồng thời trễ nải công việc. Chẳng hạn khi mọi người thọ trai, Ngài lại đi tắm, khi lên ăn thì cơm rau đã hết. Nhiều buổi tối, Ngài lén đi tắm khi mọi người đang tọa thiền. Thậm chí ngủ nửa đêm cũng thức dậy đi tắm, có khi một đêm tắm năm, sáu lần! Việc này đến tai đức Phật. Thế Tôn kêu Tôn giả đến bên, chỉ dạy cách tắm rửa thiết thực, nghĩa là ngoài việc tẩy rửa thân thể còn phải tẩy rửa cấu uế trong tâm, gột sạch các tham sân phiền não để cả thân tâm đều thanh tịnh.

Tiếp nhận lời Phật dạy, Tôn giả hành trì theo ý nghĩa đích thực của việc tắm rửa, siêng năng gột rửa tâm nên chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Từ đó tắm rửa là một pháp tu hữu dụng thiết thực mà Tôn giả thường khuyên dạy mọi người. Các tự viện Trung Hoa thường thờ hình tượng Ngài trong nhà tắm để nhắc nhở ý nghĩa phản tỉnh tư duy.

Tôn giả cũng thường dong thuyền đi hoằng hóa các quần đảo của miền đông Ấn Độ như Java, Jakarta… nên được mang tên La-hán Quá Giang.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị La-hán thứ sáu, thường cùng 900 vị A-la-hán trụ tại Đam-một-la-châu.

12. LA HÁN THÁC THÁP

Tên của Ngài là Tô-tần-đà 蘇頻陀 (Subinda). Thường ngày, Ngài tu tập rất tinh nghiêm, giúp người nhiệt tình nhưng ít thích nói chuyện. Tôn giả ít khi đi theo đức Phật ra ngoài, Ngài chỉ ở yên nơi tinh xá đọc sách hoặc quét sân. Có người phê bình cách nói chuyện của Ngài không hay, đức Phật biết được an ủi: “Này Tô-tần-đà! Nói chuyện hay hoặc dở không liên quan gì đến vấn đề giác ngộ. Mọi người chỉ cần y theo lời ta dạy mà thực hành, dù không nói câu nào cũng thành tựu sự giải thoát”.

Đúng thật là Tôn giả hiếm khi lãng phí thời gian vào việc tán gẫu, chỉ dành trọn thời gian tọa thiền nên chứng quả A-la-hán rất sớm.

Đương thời vua nước Án-đạt-la muốn xây dựng một tinh xá u tịch tại núi Hắc Phong, nhưng tìm không ra những tảng đá lớn. Tôn giả chỉ cần vận thần thông trong một đêm, mang đến vô số đá rất lớn từ bên kia sông Hằng. Quốc vương lại muốn tạo một pho tượng thật lớn bằng vàng tôn trí trong tinh xá nhưng kho lẫm quốc gia không đủ cung ứng. Tôn giả chỉ cần nhỏ vài giọt nước xuống mấy phiến đá, chúng đều biến thành vàng. Quốc vương vui mừng gọi thợ giỏi nhất, đến lấy vàng đúc tượng để nhân dân chiêm lễ.

Năm trăm năm sau Phật diệt độ, Tôn giả nhiều lần hiện thân tại nước Kiện-đà-la để giáo hóa. Hình tượng Ngài được tạo với bảo tháp thu nhỏ trên tay, tháp là nơi thờ xá-lợi Phật, giữ tháp bên mình là giữ mạng mạch Phật pháp, vì thế Ngài được gọi là La-hán Nâng Tháp.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài Tô-tần-đà là vị La-hán thứ tư, thường cùng 700 vị A-la-hán phần nhiều trụ ở Bắc Câu Lô Châu.

13. LA HÁN THÁM THỦ

Hình tượng đưa hai tay lên rất sảng khoái của một vị La-hán sau cơn thiền định. Ngài tên là Bán-thác-ca? 半託迦(Panthaka), Trung Hoa dịch: Đại lộ biên sanh. Ngài là anh của Châu-lợi-bàn-đặc. Tương truyền hai anh em đều sanh ở bên đường, khi mẫu thân trở về quê ngoại sinh nở theo phong tục Ấn Độ.

Bán-thác-ca lớn lên là một thanh niên trí thức, nhân mỗi khi theo ông ngoại đi nghe Phật thuyết pháp, bèn có ý định xuất gia. Được gia đình chấp thuận, Ngài gia nhập Tăng đoàn, trở thành một vị Tỳ-kheo tinh tấn dõng mãnh, chẳng bao lâu chứng quả A-la-hán. Nhớ đến em mình là Châu-lợi-bàn-đặc, Ngài trở về hướng dẫn em xuất gia. Rất tiếc, thời gian đầu thấy em mình quá dốt nên Ngài khuyên em hoàn tục. Đó cũng là vì tình thương và trách nhiệm nên Tôn giả đối xử như thế, hoàn toàn không phải giận ghét.

Về sau, khi Châu-lợi-bàn-đặc chứng Thánh quả, chính Tôn giả Bán-thác-ca là người mừng hơn ai hết. Cả hai anh em dẫn nhau về pháp đường, đại chúng cảm động tán thán ngợi khen. Đức Phật dạy: “Này Bán-thác-ca và Châu-lợi-bàn-đặc, khó ai được như hai anh em các ông, vừa cùng xuất gia học đạo, vừa tận trừ phiền não lậu hoặc, chứng quả A-la-hán. Sau này hai ông nên đồng tâm hiệp lực lưu lại nhân gian để hoằng dương Phật pháp”.

Hai tôn giả vâng lời Phật nên thường tùy hỷ hóa độ chúng sanh.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Bán-thác-ca là vị La-hán thứ mười, Ngài thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù-châu.

14. LA HÁN TIẾU SƯ

Tên của Ngài là Phạt-xà-la-phất-đa-la 伐闍羅弗多羅 (Vajraputra). Tương truyền khi còn ở thế tục, Ngài làm nghề thợ săn, thể lực rất tráng kiện, một tay có thể nâng một con voi, hoặc nắm một con sư tử ném xa hơn 10 mét. Mỗi khi muông thú chạm mặt Ngài, chúng đều hoảng sợ lánh xa. Sau khi xuất gia, Ngài nỗ lực tu tập, chứng quả La-hán. Lại có một con sư tử thường quấn quýt bên Ngài, do đó Ngài được biệt hiệu La-hán Đùa Sư Tử.

Về phía Bắc tinh xá Trúc Lâm có ao Ca-lan-đà, nước trong mát có thể trị lành được nhiều bịnh, đức Phật vẫn thường đến đó thuyết pháp. Sau khi Phật diệt độ, nước ao bỗng cạn khô, ngoại đạo bèn phao tin rằng Phật pháp đã suy vi. Tôn giả Phạt-xà-la-phất-đa-la từ châu Bát-thích-noa bay đến, lấy tay chỉ xuống ao, lập tức nước đầy trở lại. Tôn giả bảo mọi người rằng:

– Nước ao cạn khô vì mọi người không có niềm tin kiên cố nơi Phật pháp. Nếu tất cả đều vâng lời Phật dạy, một lòng tín thọ phụng hành như khi Phật còn tại thế thì tôi bảo đảm nước trong ao sẽ không bao giờ cạn khô.

Mọi người nghe Tôn giả nói, ngưỡng vọng uy thần và nhiệt tâm hộ trì Phật pháp của Tôn giả nên phát khởi lòng tin Tam bảo. Từ đó nước ao luôn trong xanh và tràn đầy.

Qua câu chuyện trên chúng ta có thể thấy các bậc La-hán luôn ở tại nhân gian để xiển dương pháp Phật.

Theo Pháp Trụ Ký, ngài là vị La-hán thứ 8, thường cùng 1.100 vị La-hán? trụ ở châu Bát-thích-noa.

15. LA HÁN TĨNH TỌA

Tên của Ngài là Nặc-cù-la 諾矩羅 (Nakula). Trên vách hang thứ 76 của động Đôn Hoàng có vẽ hình tượng Ngài ngồi kiết già trên phiến đá. Theo truyền thuyết, Ngài thuộc giai cấp Sát-đế-lợi sức mạnh vô song, đời sống chỉ biết có chiến tranh chém giết. Khi theo Phật xuất gia, Ngài đạt quả A-la-hán trong tư thế tĩnh tọa.

Đương thời của Tôn giả, có ngoại đạo Uất-đầu-lam-tử, công phu thiền định cao, từng biện bác với hy vọng chinh phục Tôn giả theo pháp thuật của mình. Nhưng với niềm tin chân chánh, Tôn giả khẳng định rằng chỉ có công phu tọa thiền, quán chiếu bằng trí tuệ, sức nhẫn nhục bền bỉ, nghiêm trì tịnh giới mới đạt được định lực không thối chuyển. Pháp tu luyện ngoại đạo chỉ được định lực tạm thời, không thể an trú vĩnh viễn trong pháp giải thoát, khi gặp cảnh bên ngoài quấy nhiễu sẽ bị hủy hoại.

Sau này quả nhiên Uất-đầu-lam-tử thọ hưởng sự cúng dường nồng hậu của vua nước Ma-kiệt-đà, vì khởi vọng tâm mà toàn bộ công phu tiêu tán, sau khi chết lại rơi vào địa ngục. Tôn giả Nặc-cù-la dùng thiên nhãn thấy rõ điều ấy, một lần nữa cảnh giác với vua Ma-kiệt-đà:

– Đó chính là pháp tu không rốt ráo của ngoại đạo, những phiền não căn bản của con người chưa được diệt trừ hết.

Vua nghe Tôn giả giải thích mới hiểu được Phật pháp chân chánh đáng quý, phát khởi niềm tin nơi Tôn giả.

Theo Pháp Trụ Ký, Tôn giả Nặc-cự-la được xếp vào vị trí La-hán thứ năm, Ngài thường cùng 800 vị A-la-hán trụ ở Nam Thiệm Bộ Châu.

16. LA HÁN TỌA LỘC

Ngài tên là Tân-đầu-lô-phả-la-đọa 賓頭盧頗羅墮 (Pindolabhāradvāja), xuất thân dòng Bà-la-môn, là một đại thần danh tiếng của vua Ưu Điền. Ngài thích xuất gia nên rời bỏ triều đình vào rừng núi nỗ lực tu tập, sau khi chứng Thánh quả cỡi hươu về triều khuyến hóa vua, nhân đó được tặng danh hiệu La-hán Cỡi Hươu.

Nhân một hôm Tôn giả dùng thần thông lấy cái bát quý treo trên cây trụ cao của một trưởng giả, bị Phật quở trách việc biểu diễn thần thông làm mọi người ngộ nhận mục đích tu học Phật pháp. Phật dạy Tôn giả phải vĩnh viễn lưu lại nhân gian để làm phước điền cho chúng sanh, vì thế trong các pháp hội Tôn giả thường làm bậc ứng cúng. Một lần ở thời Ngũ Đại, triều vua Ngô Việt thiết trai, có một Hòa thượng lạ, tướng mạo gầy ốm, lông mày dài bạc trắng bay đến ngồi vào chỗ dành cho khách quý mà ăn uống vui vẻ. Ăn xong Ngài tuyên bố Ngài là Tân-đầu-lô. Dưới thời vua A-dục và vua Lương Võ Đế, Ngài đích thân hiện đến giáo hóa, làm tăng trưởng lòng tin. Thời Đông Tấn ngài Đạo An là bậc cao tăng phiên dịch kinh điển thường lo buồn vì sợ chỗ dịch của mình sai sót. Ngài khấn nguyện xin chư Hiền Thánh hiển lộ thần tích để chứng minh. Tối hôm đó Ngài nằm mộng thấy một vị Hòa thượng lông mày trắng nói:

– Ta là Tân-đầu-lô ở Ấn Độ, lấy tư cách là một đại A-la-hán, ta bảo chứng những kinh điển ông dịch đều rất chính xác.

Tôn giả Tân-đầu-lô là một vị La-hán rất gần gũi nhân gian, Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ nhất, thường cùng 1.000 vị La-hán trụ ở Tây Ngưu Hóa Châu.

17. LA HÁN TRẦM TƯ

Ngài chính là La-hầu-la 羅喉羅 (Rāhula). Sau khi theo Phật xuất gia, nhờ sự giáo dưỡng của Thế Tôn, Ngài bỏ dần tập khí vương giả và thói xấu trêu ghẹo người, nỗ lực tu tập để chứng Thánh quả. Ngài luôn khiêm cung nhẫn nhục, không thích tranh cãi hơn thua, phòng của mình bị người chiếm ở, Ngài lẳng lặng dời vào nhà xí ngủ qua đêm. Đi khất thực bị bọn côn đồ ném đá trúng đầu chảy máu, Ngài lặng lẽ đến bờ suối rửa sạch rồi tự tay băng bó. Tín chủ cúng cho Ngài một tịnh thất, ít lâu sau đòi lại đem cúng người khác, Ngài cũng bình thản? dọn ra khỏi phòng.

Sau khi chứng quả A-la-hán, Ngài vẫn lặng lẽ tu tập. Đức Phật khen tặng Ngài là Mật hạnh đệ nhất và chọn Ngài vào trong số 16 La-hán lưu lại nhân gian. Với đức tánh lặng lẽ, Ngài được tặng danh hiệu La-hán Trầm Tư.

Sau Phật diệt độ, vua nước Câu-thi-na không tin Phật pháp, đập phá chùa viện, thiêu hủy kinh tượng, số người xuất gia giảm sút. Có một Hòa thượng ôm bát vào thành khất thực, nhưng cả thành chẳng ai để ý tới, khó khăn lắm Ngài mới gặp một gia đình tin Phật cúng cho bát cháo nóng. Hòa thượng hớp xong miếng cháo thở dài, thí chủ hỏi thăm thì được Hòa thượng kể lại thời Phật còn tại thế, Ngài cũng từng theo Phật đến đây khất thực, lúc ấy nhà nhà tranh nhau cúng dường, khác hẳn ngày nay. Hòa thượng tiết lộ thân thế mình chính là La-hầu-la, mấy trăm năm nay dốc lòng hoằng dương Phật pháp.

Theo Pháp Trụ Ký, Ngài là vị la-hán thứ mười một, thường cùng 1.100 vị A-la-hán trụ ở Tất-lợi-dương-cù châu.

18. LA HÁN TRƯỜNG MI

Tên của Ngài là A-thị-đa 阿氏多 (Ajita) thuộc dòng Bà-la-môn nước Xá-vệ. Theo truyền thuyết khi Ngài mới sanh ra đã có lông mày dài rủ xuống, điều báo hiệu kiếp trước Ngài là một nhà sư. Sau khi theo Phật xuất gia, Ngài phát triển thiền quán và chứng A-la-hán.

Ngài cũng là một trong những thị giả Phật, khi chứng quả xong vẫn thường du hóa trong dân gian. Một hôm đến nước Đạt-ma-tất-thiết-đế, nhân dân nước này không tin Phật pháp, chỉ thờ quỷ thần sông núi. Thái tử nước này bệnh nặng, vua cho mời danh y trị bệnh và thỉnh giáo các nhà tu ngoại đạo. Các vị ấy bảo: “Đại vương chớ lo, bệnh của Thái tử không cần uống thuốc cũng khỏi.” Khi gặp tôn giả A-thị-đa, vua hỏi thử thì Tôn giả bảo rằng bệnh không qua khỏi. Vua rất tức giận bỏ đi. Một tuần sau, Thái tử chết thật, vua tạm thời không tổ chức tang lễ, ngày hôm sau vua đi gặp tôn giả A-thị-đa, Ngài chia buồn với vua, còn khi vua gặp các ngoại đạo thì lại nghe chúc mừng Thái tử hết bệnh. Điều này chứng tỏ các ngoại đạo không có dự kiến đúng đắn. Nhà vua từ đó quy ngưỡng Phật pháp. Nhờ sự hoằng dương của Tôn giả mà Phật pháp hưng thịnh ở nước này.

Đã hơn 2.000 năm, nhưng tại Ấn Độ vẫn tin rằng tôn giả A-thị-đa còn đang trị bệnh cho người hay tọa thiền trên núi.

Pháp Trụ Ký xếp Ngài là vị La-hán thứ mười lăm, thường cùng 1.500 A-la-hán trụ trong Linh Thứu Sơn.

Tổng hợp từ http://www.thientongvietnam.net

Du lịch từ thiện – nét mới trên vịnh Hạ Long

Thời gian gần đây, một số đơn vị lữ hành đã quan tâm đến việc bảo vệ môi trường và làm từ thiện thông qua các tour du lịch văn hoá. Đây là một sản phẩm du lịch khá mới mẻ ở Quảng Ninh hiện nay. 

Tham gia tour du lịch này, ngoài việc tham quan các điểm du lịch, du khách còn tìm thấy ý nghĩa và mục đích thực sự của cuộc sống khi giúp đỡ, chia sẻ với những người gặp nhiều khó khăn.

Tại Quảng Ninh, đơn vị tiên phong khai thác các tour du lịch từ thiện là Công ty du thuyền Bhaya Cruise. Cách đây 3 năm, Công ty bắt đầu hình thành tour và tổ chức giới thiệu, quảng bá đến du khách. Tính đến nay, Công ty đã đưa hàng chục đoàn khách (trung bình khoảng 20 khách/đoàn) đến vịnh Hạ Long du lịch kết hợp từ thiện. Cuối tháng 9 vừa qua, Công ty đã tổ chức đưa 24 học sinh và 3 giáo viên của Trường Trung học Killara (Úc) tới tham quan vịnh Hạ Long và làm từ thiện tại làng chài Cửa Vạn. Tại đây các em học sinh và các giáo viên của trường Killara đã được trực tiếp tham gia các hoạt động sửa chữa nâng cấp lớp học, giao lưu văn hoá, tặng sách giáo khoa, cặp, đồng phục  cho học sinh làng chài Cửa Vạn với tổng số tiền cho hoạt động trên là 5.000 USD do các em tiết kiệm từ các chương trình làm thêm tại trường trước đó. Đây là năm thứ 3 liên tiếp Công ty Bhaya Cruises kết hợp với trường Killara tổ chức các hoạt động ý nghĩa này. Ngày 24/9, Công ty tiếp tục tổ chức một tour du lịch từ thiện tại làng chài Vung Viêng với 20 du khách là học sinh Trường Trung học Kambana (Úc) với những hoạt động tương tự.

Là một du khách đã từng 3 năm liền tham gia tour du lịch từ thiện tại Hạ Long, cô giáo Jessica Lambright, Trường Trung học Killara (Úc), cho biết: “Tôi rất thích những tour du lịch ý nghĩa như thế này. Chúng tôi muốn đưa các học sinh của mình tới đây để các em có cơ hội tiếp xúc với môi trường thực tế, tìm hiểu về văn hoá, tập quán sinh hoạt của những người dân làng chài mà chỉ có ở vịnh Hạ Long. Bên cạnh đó, đây cũng là cơ hội để các em đóng góp một phần công sức trong việc giúp đỡ những người kém may mắn hơn mình”.

Ngoài những tour du lịch từ thiện, Công ty du thuyền Bhaya Cruises còn tổ chức nhiều chương trình từ thiện có ý nghĩa khác cho người dân sinh sống trên các làng chài và trên các đảo trong vịnh Hạ Long như: Dự án Tầm nhìn Việt Nam (là dự án của tổ chức từ thiện Canada) liên kết với các bệnh viện mắt tại Việt Nam và cơ quan chức năng tại các địa phương để tiến hành khám và đo mắt cho những người nghèo, dự án trồng rau sạch trên các đảo tạo việc làm cho người dân địa phương… Ngoài ra, Công ty Bhaya Cruises còn lập được quỹ “The Au Co Forundation” nhằm kêu gọi sự ủng hộ từ nội bộ công ty và các tổ chức trong và ngoài nước với mục đích làm sạch môi trường vịnh và giúp đỡ người dân sinh sống trên các làng chài. Ông Trần Thành Nam, Chủ tịch HĐQT Công ty Bhaya Cruise cho biết: “Những tour du lịch từ thiện tại vịnh Hạ Long luôn được chúng tôi quan tâm và ưu tiên tổ chức. Bởi lẽ, hình thức du lịch này tạo điều kiện cho du khách tự tay giúp đỡ người dân nghèo chứ không phải chỉ ủng hộ bằng hiện vật, đến nay đã có nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong thời gian sắp tới chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện thêm nhiều những chương trình tương tự”.

Dù chưa thực sự phát triển nhưng du lịch từ thiện ở vịnh Hạ Long đã nhận được nhiều sự quan tâm và ủng hộ của cộng đồng. Với ý nghĩa nhân văn cao đẹp, tour du lịch đặc biệt này vừa thể hiện văn hoá kinh doanh của doanh nghiệp, vừa mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương, đồng thời cũng tạo thêm nhiều ý nghĩa, tính hấp dẫn cho sản phẩm du lịch ở kỳ quan vịnh Hạ Long.

(Nguồn: Báo Quảng Ninh)

Những con đường độc đáo

1. Đường Lombard St (Mỹ) – Con đường quanh co nhất thế giới

Đường Lombard là một đường phố đông – tây ở San Francisco, California, Mỹ. Con đường này nổi tiếng vì mức độ dốc và ngoằn ngoèo. Phố Lombard bắt đầu ở The Presidio và chạy về phía đông, qua khu vực Cow Hollow.

Được thiết kế hình sin để giảm độ dốc theo đề nghị của chủ đất Carl Henry, đường Lombard được làm năm 1922 và tốc độ lưu thông trên đường là 5km/h, một chiều từ trên xuống dưới.

2. Spreuerhofstrae (Đức) – Con đường hẹp nhất thế giới

Spreuerhofstraße là con đường hẹp nhất thế giới, nằm trong lòng thành phố Reutlingen, Baden-Württemberg, Đức.

Theo số liệu chính thức, đoạn hẹp nhất của đường rộng 30cm còn rộng nhất là 50cm. Nó được xây dựng năm 1727 trong một nỗ lực tái thiết sau khi toàn khu vực bị thiêu rụi trong một vụ hỏa hoạn quy mô lớn năm 1726.

3. Đường Ebenezer (Scotland) – con đường ngắn nhất thế giới

Ebenezer Place, ở Wick, Caithness, Scotland, được ghi nhận là con phố ngắn nhất thế giới trong Sách Kỷ lục Guinness. Đường này chỉ có duy nhất một địa chỉ: số 1 Bistro thuộc Khách sạn Mackays được xây dựng từ năm 1883.

Chủ khách sạn được yêu cầu ghi địa chỉ ở cạnh ngắn nhất của tòa nhà. Con đường này chính thức được công nhận năm 1887.

4. Yonge St (Canada) – con phố dài nhất thế giới

Con phố kéo dài từ hồ Ontario ở Toronto đến hồ Simcoe ở Ontario tiếp giáp với bang Minnesota của Mỹ. Yonge St được ghi danh trong sách kỷ lục thế giới Guinness là Con phố dài nhất thế giới với chiều dài… 1.896 km, tức là còn dài hơn đường bộ từ Hà Nội vào TP.HCM.

5. Con đường tuyết ở Nhật Bản

Người dân ở đây gọi là những ngọn núi tuyết, cao 300m so với mực nước biển. Mùa đông thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với lớp tuyết phủ dày tới 20m. Sự kỳ diệu của thiên nhiên đã thu hút nhiều khách du lịch đến tham quan và chiêm ngưỡng…

6. Baldwin Street (New Zealand) – con đường dốc nhất thế giới

Đường Baldwin, nằm ở khu vực ngoại ô yên tĩnh của thành phố Dunedin, New Zealand, nổi tiếng là con đường dốc nhất thế giới. Là một con đường thẳng dài 350m, đường Baldwin chạy theo hướng đông từ thung lũng Lindsay Creek lên sườn đồi Signal. Đoạn thấp của nó có độ dốc trung bình nhưng đoạn phía trên dốc hơn nhiều với bề mặt được lát bê tông để dễ bảo trì và an toàn trong mùa đông giá lạnh.

Tại điểm dốc nhất, độ dốc của đường là khoảng 1:2,86 (19° hay 35%), có nghĩa là cứ mỗi 2,86m theo chiều ngang thì độ cao tăng thêm 1m.

7. The Magic Roundabout (Anh) – Con đường “ma thuật”

Được mệnh danh là con đường ma thuật tại Anh bởi với tổng cộng 5 đường vành đai thông với nhau theo chiều kim đồng hồ, “vòng quay ngựa gỗ” này khiến không ít tài xế cừ khôi ở Anh phải bối rối, còn khách du lịch lần đầu đến đây có cảm giác như lạc vào “mê cung”.

 

8. Atlanterhavseien – Con đường độc đáo ở Đại Tây Dương

Atlanterhavseien còn được gọi là con đường Đại Tây Dương. Dài 9km, con đường nối đảo và đô thị Averoy với đô thị Eide, nằm ở bờ Tây của Na Uy, khánh thành vào năm 1989.

Con đường gồm 8 cây cầu nhỏ bắc qua 8 hòn đảo; các cây cầu đều được thiết kế với dáng cong độc đáo, có khả năng chịu được tác động của bão. Được bầu chọn là “Công trình thế kỷ của Na Uy” vào năm 2005, con đường độc đáo này cũng được Tạp chí Pravda của Nga bình chọn là một trong những con đường đẹp nhất thế giới năm 2009.

 

-st-

Việt Nam tham dự hội chợ triển lãm du lịch ở Paris

Việt Nam tham gia Hội chợ triển lãm du lịch quốc tế IFTN Top Resa 2012, lần thứ 34 diễn ra từ ngày 18 đến 21/9 tại Trung tâm triển lãm Versailles, Pháp.

Tại hội chợ, Việt Nam có bốn gian trưng bày các sản phẩm giới thiệu các chương trình du lịch, các danh lam thắng cảnh và các điểm đến của Vietnam Airlines, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Pháp, Travel Tonkin và Saigontourist.

Triển lãm do chi nhánh Reed expositions France của tập đoàn nổi tiếng Reed exhibitions (reed), công ty hàng đầu thế giới trong việc tổ chức sự kiện này, tổ chức thường vào khoảng tháng Chín hàng năm.

Hội chợ triển lãm du lịch quốc tế IFTN Top Resa năm nay thu hút sự tham dự của khoảng 6 triệu người với 500 gian trưng bày của các doanh nghiệp, tập đoàn du lịch lớn, các đối tác đến từ 39 nước từ các châu lục khác nhau như Á, Phi, Mỹ, châu Âu…

Các sản phẩn trưng bày tại triển lãm lần này tập trung trên 14 lĩnh vực khác nhau như hàng không dân dụng, nghệ thuật, xây dựng, đồ trang sức, nhà hàng, khách sạn, thương mại, công nghiệp, tin học, thể thao, giải trí…

Riêng công ty Reed expositions Pháp đã có 60 gian trưng bày tại triển lãm lần này.

Việt Nam tham gia hội chợ lần này với điểm nhấn là giới thiệu với du khách Pháp và quốc tế các chương trình của các loại hình du lịch khác nhau như thư giãn, khám phá, thể thao, hội thảo, ẩm thực…với các danh thắng kỳ thù và điểm đến hấp dẫn của Việt Nam, nhất là tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long-miền Nam và nhiều khu lăng tẩm, đền đài, miếu mộ ở Huế-miền Trung.

Trao đổi với phóng viên TTXVN tại Pháp, ông Lê Trung Dũng, chuyên viên phụ trách du lịch tại Trung Tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp cho biết, Trung tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp Việt Nam tham Hội chợ IFTN Top Resa 2012, với mục đích tăng cường tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch Việt Nam tại Pháp nói riêng và tại Châu Âu nói chung vì đây là những thị trường truyền thống của Việt Nam từ nhiều năm nay.

Nhất là đối với Pháp, là một nước có nhiều thế hệ người Pháp trước đây cũng như hiện nay sống và làm việc ở Việt Nam, đến nay các thế hệ con cháu của họ luôn nhắc đến và hướng về Việt Nam. Cho nên theo ông, nhu cầu và tiềm năng của du khách Pháp đối với Việt Nam là “rất lớn.”

Chia sẻ với ý kiến đánh giá Pháp và châu Âu luôn là thị trường du lịch truyền thống và tiềm năng, ông Võ Anh Tài, Giám đốc và phó Chủ tịch Hội đồng thành viên công ty du lịch Saigontourist tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhấn mạnh để phát huy hơn nữa tiềm năng của thị trường “quan trọng hàng đầu” này, nhiều sản phẩm mới đa dạng và các tiềm năng thế mạnh của du lịch Việt Nam về văn hóa, lich sử, du lịch biển đã được giới thiệu, đặc biệt là sản phẩm liên kết “Bốn quốc gia một điểm đến” (Lào, Campuchia, Myanmar và Việt Nam).

Sản phẩm này nhằm kết nối với các sản phẩm du lịch khác của nước bạn góp phần khơi dậy niềm đam mê tìm hiểu về đất nước và con người Việt Nam. Sản phẩm này đã thu hút sự quan tâm của nhiều du khách Pháp và quốc tế tại Hội chợ.

Ngoài ra theo ông Tài, một chiến lược quảng bá ưu tiên đẩy mạnh các hoạt động khơi dậy tiềm năng du lịch thu hút ngày càng nhiều du khách của khu vực này được chú trọng.

Ông Lê Dũng, Trưởng văn phòng đại diện Vietnam Airlines khu vực Châu Âu cho rằng qua hội chợ IFTN Top Resa 2012, du khách Pháp sẽ cùng Vietnam Airlines đến Việt Nam và đến với Đông dương.

Với những nét văn hóa tương đồng giữa hai nước, Pháp luôn là khách hàng tiềm năng của Việt Nam hơn là các nước khác, lượng du khách quan tâm đến Việt nam vẫn tăng.

Tuy nhiên, theo ông Dũng, số lượng khách Pháp gần đây có giảm do khủng hoảng kinh tế tài chính, nhưng sẽ tăng trở lại sau khủng hoảng, nếu như Việt Nam tăng cường hơn nữa việc quảng bá, tuyên truyền tiềm năng của các khu du lịch biển.

Với vai trò “bạn đồng hành” cùng các công ty và tập đoàn du lịch, Vietnam Airlines thường tổ chức tăng chuyến trong các mùa cao điểm để giúp đẩy mạnh thông thương và giao lưu của du khách châu Âu đến Việt Nam.

Một đường bay mới từ London đến việt Nam vừa được mở góp phần khai thác tốt hơn nữa “tiềm năng rất lớn” của du khách khu vực này. Vietnam Airlines sẽ là “cầu nối để thúc đẩy du lịch.”

Trong thời gian tới Vietnam Airlines sẽ phối hợp với các cơ quan đại diện, cơ quan ngoại giao nhất là Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, giới thiệu tiềm năng du lịch của Việt Nam tới các tỉnh, vùng miền khác của Pháp, mà lâu nay chưa được chú trọng.

Vietnam Airlines vừa ký một hiệp định mới trong việc liên kết với tập đoàn vận chuyển đường sắt của Pháp SNCF cũng nhằm tiêu này./.

Lê Hà- Nguyễn Tuyên (Vietnam+)

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì nhận Bằng Di tích Quốc Gia

Tối 16/9, tại huyện lỵ Hoàng Su Phì, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang đã tổ chức trọng thể Lễ đón nhận Bằng Di tích quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì.

Đại diện lãnh đạo một số cơ quan Trung ương, tỉnh, thành trong nước; lãnh đạo các sở, ban, ngành và các huyện thành trong tỉnh và đông đảo nhân dân địa phương tới dự.

Đặc biệt, tham dự Lễ tôn vinh những giá trị văn hóa và sức lao động cần cù sáng tạo của cộng đồng bà con các dân tộc thiểu số đã làm nên Di sản cấp Quốc gia Ruộng bậc thang Hoàng Su phì còn có trên 2.000 người là đại diện của cộng đồng 17 dân tộc anh em cùng chung sống làm ăn ở Hoàng Su Phì.

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì – Di tích quốc gia là hệ thống ruộng bậc thang trên địa bàn các xã Bản Luốc, Sán Sả Hồ, Bản Phùng, Hồ Thầu, Nậm Ty, Thông Nguyên. Bà con các dân tộc La Chí, Dao đỏ, Dao áo dài, Nùng là chủ nhân của những thửa ruộng bậc thang trên địa bàn sáu xã nói trên.

Hoàng Su Phì là một trong ba huyện vùng cao núi đất, nằm ở phía Tây tỉnh Hà Giang. Điều kiện tự nhiên không thuận lợi nên đã tác động không nhỏ đến phát triển kinh tế xã hội của địa phương. Sản xuất nông nghiệp là chính với người dân các dân tộc trên địa bàn.

Bà con chủ yếu cấy trồng lúa nước trên ruộng bậc thang và canh tác nương rẫy; mang tính phổ biến là nền kinh tế tự cung tự cấp. Trên 60.700 người của 17 dân tộc anh em cùng chung sống, bà con các dân tộc vùng cao ngày nay đang chung sức, lao động cần cù làm thay da đổi thịt cả một vùng đất khó khăn, nghèo khổ.

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì nhận Bằng Di tích QG

Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì xuất hiện từ vài ba trăm năm trước. Việc làm nương rẫy, canh tác trên những mảnh đất hẹp bìa rừng, ven sông suối không mang lại nhiều thóc gạo và ngô, người dân địa phương đã tìm đến hình thức canh tác ruộng bậc thang trên các sườn đồi.

Trải qua nhiều thế hệ, con người tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc canh tác cũng như bảo tồn và phát triển ruộng bậc thang từ các khâu lựa chọn đất, khai phá ruộng, làm bờ ruộng, lấy nước tưới tiêu…

Ngày nay, mỗi năm, ruộng bậc thang đem lại từ 25.000-27.000 tấn thóc; trên 3.000ha đậu tương và hàng nghìn ha ngô, đậu các loại khác làm tăng tổng sản lượng lương thực của địa phương đạt con số từ 37-38.000 tấn. Ruộng bậc thang góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an ninh lương thực cho trên 60.000 người dân trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì.

Ruộng bậc thang, một hình thức canh tác mang đặc trưng riêng của đồng bào vùng cao trong khu vực Đông Nam Á. Ruộng bậc thang Hoàng Su phì ở Hà Giang nói riêng hay ở một số địa phương vùng cao phía Bắc Việt Nam nói chung mang ý nghĩa lịch sử, minh chứng rõ nét nhất về lịch sử định cư lâu đời và tập quán lao động sản xuất nông nghiệp của bà con các dân tộc thiểu số trong vùng.

Giá trị văn hóa của ruộng bậc thang được thể hiện ở kinh nghiệm canh tác, tập quán sản xuất, hình thành các thửa ruộng bậc thang của mỗi dân tộc in đậm những nét đặc trưng khác nhau, tạo nên văn hóa canh tác trên ruộng bậc thang của cộng đồng bà con các dân tộc.

Ruộng bậc thang còn mang lại giá trị cảnh quan mà không phải là kết quả lao động trong một thời gian nhất định là có được. Những thửa ruộng bậc thang là một bức tranh kỳ vĩ, một vẻ đẹp hoang sơ trên nền không gian thiên nhiên hùng vĩ của núi đồi vùng cao. Ruộng bậc thang, một bức tranh thiên nhiên đẹp có giá trị phát triển du lịch bền vững.

Thừa ủy quyền Bộ văn hóa Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Giang Đàm Văn Bông đã trao Bằng Di tích quốc gia ruộng bậc thang Hoàng Su Phì cho đại diện lãnh đạo chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Hoàng Su Phì.

Nhân dịp này, huyện Hoàng Su Phì đã tổ chức ngày hội văn hóa thể thao các dân tộc, giới thiệu với cộng đồng, du khách gần xa về những sinh hoạt văn hóa đặc trưng của mỗi dân tộc trên địa bàn trong canh tác sản xuất nông nghiệp, thờ cúng thần linh, lấy vợ, lấy chồng…, khát vọng về một ngày mai tuơi sáng trên quê hương của ruộng bậc thang.

Theo Công Hải

Đưa hoạt động kinh doanh du lịch về vùng quê nghèo: Giúp đồng bào dân tộc phát triển kinh tế

Đối với những vùng quê nghèo như hai xã Tà Lài, Đăk Lua (thuộc huyện Tân Phú, Đồng Nai), việc người dân được tham gia kinh doanh du lịch thật sự rất có ý nghĩa.

Người dân nghèo nơi đây không những được tiếp cận cách phát triền kinh tế mới, mà qua đó còn được giáo dục nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường sống và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương. Những hình thức kinh doanh của họ tuy mới bắt đầu khởi động nhưng hứa hẹn một sự phát triển bền vững.

Rất nhiều tiềm năng

Tà Lài, Đăk Lua được biết đến là hai xã nghèo, khó khăn so với các xã khác của tỉnh Đồng Nai. Nhưng bù lại, hai xã vùng đệm áp sát Vườn Quốc gia Cát Tiên này lại có nhiều ưu thế để phát triển du lịch cộng đồng. Nhất là khi Vườn Quốc gia Cát Tiên đang trở thành địa điểm được du khách ưa thích.

Xã Tà Lài là nơi tập trung 11 dân tộc: Kinh, S’Tiêng, Châu Mạ, Tày, Choro, Xray, Ê Đê, Khme… chung sống. Trong đó, đồng bào dân tộc S’Tiêng, Châu Mạ và Tày lưu giữ được nhiều những bản sắc dân tộc mình như các lễ hội đâm trâu, cúng thần linh (Yang), lễ hội cầu mưa… Đồng bào dân tộc S’Tiêng, Châu Mạ đã sớm hình thành cộng đồng và tồn tại cùng với rừng Cát Tiên từ hàng nghìn đời. Rừng gắn bó với dân và là môi trường hình thành và phát triển những phong tục tập quán, những phẩm chất tốt đẹp của cộng đồng. Năm 1978, sau khi khu rừng cấm được thành lập, UBND tỉnh Đồng Nai đã vận động và đưa các hộ này đang sống rải rác trong rừng ra sống định canh định cư tại ấp 4 của xã Tà Lài. Bên cạnh đó, người Tày di cư từ các huyện Trùng Khánh, Hạ Lang (Cao Bằng), Ngân Sơn (Bắc Kạn) vào sinh sống tại ấp 7 từ năm 1984 đến năm 1994. Người Tày ở ấp 7 còn duy trì lễ Lồng Tổng, lễ Tung Còn được tổ chức vào những dịp đầu năm. Mỗi dân tộc có phong tục tập quán khác nhau, tạo nên sự phong phú hấp dẫn du khách.

Còn xã Đăk Lua – vốn là nơi đóng quân của Trung đoàn I (Sư đoàn 600) từ những năm 1970. Do vậy, dân cư ở đây phần lớn là các cựu chiến binh đến từ các tỉnh phía Bắc. Họ mang theo cả những nét văn hóa truyền thống, ẩm thực của các địa phương này.

Ngoài ra, sông Đồng Nai đoạn chảy qua địa phận xã Đắk Lua uốn khúc bao quanh một phần diện tích và hình thành ranh giới tự nhiên cho xã. Trên vùng đất bằng phẳng là các cánh đồng lúa nối tiếp nhau rộng lớn, tạo thành cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Đắk Lua còn có vị trí nằm giáp ranh với Vườn Quốc gia Cát Tiên và trong vùng giáp ranh giữa 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, tạo thuận lợi trong phát triển các tour du lịch kết nối giữa VQG Cát Tiên với các điểm du lịch lân cận như khu di chỉ khảo cổ học của huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, các điểm du lịch của tỉnh Bình Phước.

Thế mạnh của Tà Lài là văn hóa truyền thống và dựa vào rừng nên sản phẩm du lịch cộng đồng của Tà Lài khá đa dạng. Du khách có thể đi bộ tham quan ấp 4, trường học, nhà văn hóa và phòng truyền thống, cầu treo và tượng đài Ngục Tà Lài; hoặc tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất cùng với người dân (trồng lúa); hoặc tìm hiểu về dệt thổ cẩm, đan lát, rèn, và giao lưu văn nghệ, ẩm thực địa phương. Du khách có thể đi bộ hay ca nô từ Tà Lài theo các tuyến trong Vườn Quốc gia Cát Tiên (Đồi Xanh – Bầu Sấu hay Tà Lài – Đồi Đất Đỏ – Sa Mách).

Trong khi đó, mô hình homestay (ngủ tại nhà dân địa phương) được cho là thế mạnh của xã Đắk Lua. Mô hình homestay phát triển ở xã Đắk Lua vì hai lý do. Thứ nhất homestay là xu hướng mới của ngành du lịch, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Xã Đắk Lua là địa điểm gần rừng cấm nhất với nhiều đường dạo thanh bình, nhiều cửa hàng địa phương và con người thân thiện, mến khách sẽ mang lại nhiều trải nghiệm cho du khách. Thứ hai, khi đi bộ tham quan hết rừng cấm du khách không thể quay lại ngay tại điểm khởi đầu trong ngày mà cần một nơi để nghỉ ngơi, thư giãn.

Người dân được hưởng lợi

Với mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng bền vững, Ban quản lý dự án phát triển du lịch sinh thái của Vườn Quốc gia Cát Tiên đã xây dựng các mô hình liên kết giữa các công ty du lịch, chính quyền và người dân địa phương. Nhờ vậy, quyền lợi của người dân khi tham gia kinh doanh du lịch được đảm bảo.

Bà Phạm Thị Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Tà Lài cho biết, khi triển khai dự án du lịch cộng đồng, Ban quản lý dự án đã xác định phải thành lập được một tổ hợp tác liên kết người dân địa phương để đứng ra quản lý tài sản, nhân lực và thực hiện công tác liên kết với các đơn vị du lịch. Số tiền đóng góp thấp nhất là 100.000 đồng/người để tất cả mọi người dân đều có thể tham gia đóng góp, tránh tình trạng lợi nhuận chủ yếu tập trung vào một số người có khả năng kinh tế đóng góp nhiều thì được hưởng lợi nhiều. Hiện tại, Tổ hợp tác có 19 người và đang ký kết với Công ty Du lịch Lữ hành Viet Adventure. Công ty sẽ đưa khách du lịch các địa điểm trong hai ấp. Từ đấy, người trong tổ hợp tác với tư cách là hướng dẫn viên sẽ hướng dẫn khách tham quan, ăn uống. Lợi nhuận thu được chia theo hình thức 50/50 và được chia đều cho các xã viên.

Ông Nguyễn Văn Hanh, ở ấp 4 tổ 3, xã Đăk Lua, một trong ba hộ đang tham gia dịch vụ homestay phấn khởi chia sẻ: Mô hình homestay là mô hình mới và cần nhiều điều kiện mới có thể tham gia được. Do vậy, Ban quản lý dự án mới triển khai cho một số hộ sau đó sẽ triển khai dần cho tất cả các hộ trong xã. Thông qua UBND xã Đăk Lua, các hộ đã liên kết được với công ty Inno Việt. Cũng với hình thức phân chia lợi nhuận như xã Tà Lài, ước tính trong năm 2012 thu nhập bình quân hàng tháng của mỗi hộ là khoảng 6,9 triệu đồng. Ngoài ra, một phần nhỏ sẽ được trích ra để hỗ trợ cho các lễ hội văn hóa, trẻ em nghèo hiếu học, người già không nơi nương tựa, trồng cây xanh… nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong hai xã đều được hưởng lợi từ du lịch.

Không chỉ thế, điều được hơn cả là thông qua hình thức liên kết này, người dân địa phương được học hỏi kinh nghiệm quản lý, thiết kế tour du lịch, các kỹ năng cần thiết khác để hướng dẫn khách nước ngoài. Từ đó, sẽ hình thành nên nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh du lịch sau này. Anh K’Yên, người Châu Mạ, Tổ trưởng Tổ hợp tác cho biết: “Hầu hết đồng bào trong Tổ hợp tác chưa học hết cấp I, nên việc học cách thức kinh doanh, ngoại ngữ… là điều vô cùng khó khăn. Nhiều người đã từng nghĩ sẽ bỏ cuộc. Nhưng nghĩ lại, nếu mình bỏ thì ai sẽ làm, và người dân mình sẽ chỉ mãi lên rừng hái măng, săn bắn. Do vậy, mọi người lại động viên nhau cùng học, cùng làm. Hơn nữa, học hỏi để sau ba năm hết hợp đồng với công ty du lịch, Tổ hợp tác sẽ đủ sức để điều hành mọi hoạt động từ thiết kế tour, tiếp thị sản phẩm du lịch”.

“Không những giáo dục tuyên truyền bà con bảo vệ rừng, mục đích phát triển du lịch cộng đồng tại hai xã còn góp phần giúp người dân hiểu được sự cần thiết của việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Vì nhiều lý do, các lễ hội, các hoạt động dệt thổ cẩm, đan lát, gùi… của đồng bào dân tộc nơi đây đã mai một dần; nhất là nghề dệt thổ cẩm, dù đã được Nhà nước đầu tư xây dựng nhà xưởng để làm nơi bà con tập trung nhau lại dệt, tuy nhiên, vì không có đầu ra (chỉ bán các sản phẩm dệt trong dịp lễ hội), nên hoạt động trong nhà xưởng hiện gần như đã ngừng hẳn. Cho nên, nếu các sản phẩm dệt được tiêu thụ thông qua việc bán cho khách du lịch, sẽ góp phần không nhỏ trong việc khôi phục nhà xưởng cũng như một làng nghề truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số” – anh K’Yên chia sẻ.

Lan Phương

Nguồn: Báo Tin tức

Vĩnh Long qua các thời kỳ lịch sử

280 năm thành lập dinh Long Hồ (1732-2012)

 

I. Sự hình thành và phát triển dinh Long Hồ- đơn vị hành chính đầu tiên của tỉnh Vĩnh Long

1. Quá trình hình thành dinh Long Hồ

Nam Bộ nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, vốn có bề dày lịch sử lâu đời, trong các thư tịch cổ vẫn còn ghi chép lại những tư liệu về vùng đất này. Từ dinh Long Hồ xưa kia đến Vĩnh Long ngày nay là một thời kỳ lịch sử oai hùng với bao mồ hôi, nước mắt cùng những chiến công hiển hách của nhiều thế hệ tạo nên giá trị vật chất và tinh thần của người dân Vĩnh Long từ khi đến vùng đất này khai hoang lập làng cho đến ngày nay

Từ thế kỷ XVII, chế độ phong kiến nước ta và các nước lân cận trong khu vực Trung Hoa, Chân Lạp lâm vào khủng hoảng, xã hội rơi vào cảnh rối ren, loạn lạc đã đẩy nông dân vào cảnh bần cùng, buộc họ phải bỏ quê hương đi tìm vùng đất mới yên bình để sinh sống. Và, những nông dân bị bần cùng ấy đã đến với Đồng bằng sông Cửu Long, cùng chung sống, cùng khai phá vùng đất này.

Từ đó, Đồng bằng sông Cửu Long đã đón nhận từng đoàn người đến sinh sống và làm ăn. Người Việt đến vùng đất này từ trước thế kỷ XVII, tiếp theo là người Khmer rồi người Hoa… Trong đó, dân cư người Việt chiếm đa số nên có ưu thế lớn và sớm khẳng định ví trí hàng đầu của mình trong việc khai phá vùng đất mới. Đó là cơ sở khách quan để Chúa Nguyễn chủ động triển khai tổ chức di dân người Việt vào Nam Bộ. Đồng thời, tạo điều kiện cho một số người Hoa đến cộng cư với người Việt, người Khmer trên vùng đất đang được khai phá. Mặt khác, Chúa Nguyễn cũng tiến hành thiết lập bộ máy hành chính ở đây.

Sau khi đặt phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn (1698), Chúa Nguyễn Phúc Trú (1725- 1738) thiết lập ở phía Nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ (1732). Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tên Long Hồ dinh được xuất hiện. Đó là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử vùng đất thuộc lưu vực sông Tiền. Dinh Long Hồ sau khi được thành lập đã từng bước ổn định và phát triển.

Lỵ sở của dinh Long Hồ lúc đầu đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là đình Cái Bè (huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang hiện nay). Năm 1757 chuyển đến xứ Tầm Bào (nay thuộc địa phận TP Vĩnh Long).

2. Từ dinh Long Hồ đến tỉnh Vĩnh Long

Ngay từ khi mới thành lập, dinh Long Hồ và vùng phụ cận (địa phận Vĩnh Long ngày nay) luôn ở vị trí đặc biệt quan trọng. Dinh Long Hồ là thủ phủ của toàn vùng đất phía Nam sông Tiền đương thời; đồng thời là đại bản doanh của quân đội Chúa Nguyễn làm nhiệm vụ phòng thủ đất nước, giữ vị trí, vai trò trọng yếu trong sự nghiệp bảo vệ ổn định và phát triển đất nước.

Đến cuối thế kỷ XVIII, dinh Long Hồ tập trung được nhiều thế mạnh: đất đai màu mỡ, nguồn lao động được bổ sung, tổ chức quản lý hành chính được kiện toàn, trật tự xã hội được thiết lập, an ninh quốc phòng được chuẩn bị chu đáo… Từ đây, dinh Long Hồ ngày càng thể hiện vị trí chiến lược quan trọng về các mặt kinh tế, văn hóa, quân sự.

Quá trình phát triển dinh Long Hồ luôn chịu chi phối bởi diễn biến lịch sử nên có nhiều thay đổi. Cuối năm 1779, Chúa Nguyễn Ánh quyết định thay tên gọi dinh Long Hồ bằng tên gọi mới là dinh Hoằng Trấn và dời lỵ sở về bãi Bà Lúa (thuộc huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh ngày nay). Năm 1780, Chúa Nguyễn Ánh lại dời lỵ sở về xứ Tầm Bào và đổi tên thành Vĩnh Trấn. Sau khi Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế (lấy hiệu là Gia Long), đến năm 1806 dinh Vĩnh Trấn được gọi là trấn Vĩnh Thanh. Ngày 22 tháng 2 năm Gia Long thứ 12 (1813) triều đình sai Lưu thủ Lưu Phước Tường đắp thành trấn Vĩnh Thanh trên đất 2 ấp Bình An và Trường Xuân, thôn Long Hồ, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn.

Đến năm 1832, vua Minh Mạng cắt 2 huyện Vĩnh Định và Vĩnh An của trấn Vĩnh Thanh vào đạo Châu Đốc thuộc trấn Hà Tiên, đổi thành các tỉnh. Vùng đất Nam Bộ chia thành 6 tỉnh (gọi là Nam kỳ lục tỉnh). Trấn Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long.

Từ năm 1867 đến năm 1900, người Pháp chia Vĩnh Long là một trong ba hạt của miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh). Từ năm 1900 đến năm 1945, Vĩnh Long và 1 trong 21 tỉnh của Nam Kỳ.

Ngày 27/6/1951, theo Nghị định số 174/NĐ-51 của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ, hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Trà thuộc Phân liên khu miền Tây. Đến tháng 10 năm 1954, Xứ ủy Nam Bộ và Liên Tỉnh ủy miền Tây họp tại Chắc Băng, Cà Mau, quyết định chia lại địa bàn các tỉnh. Trong đó, tỉnh Vĩnh Trà được tách ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Từ năm 1976, 2 tỉnh Vĩnh Long- Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Cửu Long. Từ ngày 5/5/1992, tỉnh Cửu Long lại được chia tách thành 2 tỉnh Vĩnh Long- Trà Vinh cho đến nay.

Sự thành lập dinh Long Hồ (1732) đã trở thành mốc lịch sử đặc biệt quan trọng đối với tiến trình lịch sử vùng đất phía Nam sông Tiền nói chung và lịch sử tỉnh Vĩnh Long nói riêng. Như vậy, tỉnh Vĩnh Long được khai sinh với tên gọi đầu tiên là dinh Long Hồ.

Thời chúa Nguyễn, dinh Long Hồ bao gồm các phần đất tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh.

Trước 1948, huyện Chợ Lách (Bến Tre) thuộc tỉnh Vĩnh Long, sau đó giao cho Bến Tre.

Đến năm 1957- 1965, huyện Chợ Lách giao về cho Vĩnh Long.

Năm 1966, tách huyện Chợ Lách về Bến Tre (theo sự phân chia địa giới hành chính của chính quyền Sài Gòn thì huyện Chợ Lách vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Long).

Trước năm 1948, hai huyện Cầu Kè và Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ; từ năm 1948- 1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long; từ năm 1951- 1954 thuộc tỉnh Vĩnh Trà; từ năm 1954- 1971, thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ năm 1971- 1975, Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Từ năm 1957- 1974, các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, Sa Đéc nhập vào Vĩnh Long.

Từ 1957 về trước, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long; từ giữa năm 1957 đến 1971 thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ năm 1972 đến nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Trải qua quá trình phát triển lâu dài Vĩnh Long đã xây dựng nên những giá trị văn hóa vật chất tinh thần to lớn. Có được một Vĩnh Long giàu đẹp, thiên thời, địa lợi nhân hòa như ngày nay là kết quả của bao thế hệ đã đổ mồ hôi, công sức, trí tuệ và máu xương chống chọi với thiên nhiên, với đói nghèo, với ngoại xâm, để bảo vệ và xây dựng quê hương, để trường tồn và phát triển nhanh, bền vững.

Hiện nay, Vĩnh Long là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai nhánh của sông Tiền và sông Hậu, có diện tích tự nhiên là 1.487,37km2. Phía Bắc giáp với tỉnh Tiền Giang; phía Đông giáp tỉnh Bến Tre; phía Đông- Nam giáp tỉnh Trà Vinh; phía Tây giáp TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây- Bắc giáp với tỉnh Đồng Tháp.

Là một tỉnh nằm giữa đồng bằng, không có rừng, không có núi và cũng không có biển, chỉ có đồng ruộng và vườn cây ăn trái, nước ngọt quanh năm, có hàm lượng phù sa lớn bồi đắp ruộng đồng luôn màu mỡ, trù phú. Vĩnh Long có nhiều sông rạch chằng chịt liên thông với nhau tạo nên một hệ thống giao thông thủy thuận lợi cho việc đi lại chuyên chở hàng hóa. Hiện nay, sông Tiền và sông Hậu đã được nối liền bằng hai cây cầu dây văng Mỹ Thuận và Cần Thơ nối liền Quốc lộ 1A đi qua tỉnh Vĩnh Long. Sông Mang Thít xuyên qua tỉnh, nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu, là đường giao thông thủy huyết mạch giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Dân cư Vĩnh Long là một cộng đồng đa dân tộc, mà truyền thống và sự giao lưu văn hóa là nguồn nội lực tạo ra tiềm năng to lớn cho tỉnh Vĩnh Long trên con đường phát triển.

Nói tóm lại, Vĩnh Long là một tỉnh được thiết lập đơn vị hành chính sớm nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dinh Long Hồ xưa là thủ phủ của vùng đất miền Tây. Vì vậy, trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, đồng thời là căn cứ quân sự trấn giữ phía Nam của Chúa Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn chống giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Cũng là nơi Chúa Nguyễn đặt bộ máy cai trị sớm nhất của vùng đất này.

Vùng đất rộng lớn của dinh Long Hồ từ khi mới thành lập (1732) cho đến nay, trải qua quá trình lịch sử lâu dài, đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và tên gọi. Sự thay đổi địa giới hành chính là do yêu cầu quản lý hành chính của các triều đại. Trong thời gian nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước và sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cũng có sự thay đổi địa giới và tên gọi. Chính vì vậy đã để lại trong lịch sử có sự chồng lấn trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, nên về mặt lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Vĩnh Long không thể tách rời với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, là những tỉnh vừa có mối quan hệ lịch sử về mặt địa giới hành chính (tách, nhập) vừa có mối quan hệ về thành tích kháng chiến và những nhân vật lịch sử.

 

 

I. Chặng đường lịch sử vẻ vang 280 năm thành lập Long Hồ dinh đến Vĩnh Long ngày nay (1732- 2012)

1. Dinh Long Hồ dưới các triều đại phong kiến

Sau khi dinh Long Hồ được thành lập, dưới thời Chúa Nguyễn vùng đất này lấy khai hoang làm hoạt động hàng đầu, sản xuất nông nghiệp giữ trung tâm trong các hoạt động kinh tế. Sản lượng lúa của dinh Long Hồ vào thời kỳ này không chỉ thỏa mãn nhu cầu đời sống của dân cư tại chỗ mà còn dư thừa cung cấp cho miền Trung và đưa vào kho dự trữ của quốc gia hoặc trở thành hàng hóa trao đổi với các nơi khác. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa ngày càng thêm phát triển. Mặt khác, Chúa Nguyễn còn thiết lập quanh lỵ sở và trên địa bàn dinh Long Hồ nhiều điểm đồn trú của binh lính nhằm làm nhiệm vụ phòng thủ đất nước. Nhờ sự quan tâm của Chúa Nguyễn nên dinh Long Hồ thời kỳ 1758 đến 1771 là thời kỳ bình yên.


Đến những năm cuối thế kỷ XVIII, sản xuất lương thực đã đạt được bước tiến quan trọng, dân không còn bị đói, giá lúa ở thị trường tương đối thấp. Chúa Nguyễn Ánh cũng tăng cường kiểm soát, phát triển thương mại, chú ý đến ngoại thương. Chợ Long Hồ là chợ trung tâm được mở rộng quy mô.

Đến tháng 7/1802, chúa Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long, lên ngôi Hoàng đế (lấy hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân- Huế) và tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành chính trên toàn quốc.

Đến 22/2/1813 (năm Gia Long thứ 12), thành trì và công thự được xây dựng tại lỵ sở trấn Vĩnh Thanh trên phần đất thuộc thôn An Bình và thôn Trường Xuân của làng Long Hồ (nay Phường 1, TP Vĩnh Long) còn được gọi là thành Long Hồ. Thành Long Hồ có 5 cầu bắc qua hào lũy để vào cửa thành là cửa Đông, cửa Tây, cửa Bắc, cửa Đông Nam, của Tây Nam.

Khi vua Gia Long mất, vua Minh Mạng nối ngôi và tiếp tục tiến hành cải cách hành chính, trấn Vĩnh Thanh có nhiều thay đổi. Năm 1932, toàn bộ vùng đất Nam Bộ được chia thành 6 tỉnh. Từ đây, trấn Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long. Dưới triều các vua Minh Mạng- Thiệu Trị- Tự Đức, tổ chức hành chính đã được kiện toàn; địa giới hành chính của tỉnh Vĩnh Long được phân định rạch ròi và quản lý chặt chẽ. Về kinh tế, Vĩnh Long có nhiều đồn điền và nhiều chợ nhất Nam Kỳ lục tỉnh và phôi thai nền kinh tế có cơ cấu: nông- thương- thủ công nghiệp. Về xã hội, dân số tăng nhanh, tầng lớp địa chủ phát triển. Về giáo dục đã hình thành học xá, nền tảng của nền giáo dục và tinh thần hiếu học của người dân Vĩnh Long. Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần có những chuyển biến đáng ghi nhận. Nhưng cũng từ đây, tình hình xã hội ngày càng phức tạp, xuất hiện mâu thuẫn ngày càng rõ nét hơn.

Ngày 20 tháng 5 năm 1862, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long với 11 tàu chiến và hơn 1.000 binh lính. Thành Vĩnh Long thất thủ. Triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp.

Ngày 20 tháng 7 năm 1867, quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long lần thứ hai; sau đó là An Giang, Hà Tiên. Toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh trở thành thuộc địa của Pháp.

2. Truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng của các tầng lớp nhân dân ở Vĩnh Long

Vĩnh Long là vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc: Việt, Khmer, Hoa… Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng nhưng đồng thời có sự giao thoa, tiếp biến, hài hòa, bổ sung cho nhau, tạo nên nét văn hóa đặc trưng của vùng đồng bằng sông nước; làm cho đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư ở đây ngày thêm phong phú, đa dạng. Các dân tộc đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, cùng sống chung, cùng khai phá và gìn giữ mảnh đất này. Đó là nét văn hóa được lưu truyền từ đời này sang đời khác, được gìn giữ và đã trở thành truyền thống của nhân dân từ bao đời nay.

Yêu nước là truyền thống quý báu của người dân Vĩnh Long. Từ những ngày đầu khai hoang, lập ấp, chống quân Xiêm La, cho đến thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhờ phát huy tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã lập nên những chiến công, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân chống lại bọn cường hào ác bá, chống lại triều đình phong kiến áp bức của nhà Nguyễn và thực dân Pháp đã diễn ra nhiều nơi.

Cửa Hữu xưa…

… và nay


Khi thực dân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, phong trào nông dân, sĩ phu yêu nước nhất tề đứng lên chống Pháp ở nhiều địa phương trong tỉnh. Từ năm 1867, Phan Tôn, Phan Liêm, Lê Công Thành, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ, Âu Dương Lân, Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Bửu, đô đốc Lê Cẩn và phó tướng Nguyễn Giao, Lê Tấn Kế, Trần Bình lần lượt lãnh đạo các phong trào chống Pháp ở Vĩnh Long, điển hình là trận phục kích do đô đốc Lê Cẩn và phó tướng Nguyễn Giao tổ chức tại Cầu Vông (Vũng Liêm) giết chết tên chánh tham biện Pháp Salicetty và một số binh lính của chúng (1872).

Sau các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương bị thất bại và các phong trào khởi nghĩa vũ trang khắp nơi lắng xuống thì ở Vĩnh Long vào đầu thế kỷ XX xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước như phong trào “Duy Tân”, phong trào “Đông Du cầu học”… được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng tích cực. Đồng thời với các hoạt động trên, nhiều tổ chức yêu nước chống Pháp khác cũng được thành lập ở Vĩnh Long theo chủ trương của các tổ chức: “Phục Việt”, “Quốc dân đảng”, “Thiên địa hội”…, tiêu biểu là phong trào đi theo con đường cách mạng vô sản tháng Mười Nga. Đầu năm 1928, Chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập tại ngã tư Long Hồ, kế đó là Vĩnh Xuân, Ba Chùa (Trà Ôn), Mỹ Lộc (Tam Bình).

Tháng 3 năm 1930, ông Châu Văn Liêm, Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ được cử đến Vĩnh Long, tổ chức hội nghị tại ngã tư Long Hồ triển khai việc chuyển đổi các chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở Vĩnh Long thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Các chi bộ Đảng Cộng sản (tiền thân của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long) được thành lập vào thời gian này. Các cơ sở Đảng Cộng sản vừa mới ra đời đã nhanh chóng tập hợp và lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh. Tháng 6 năm 1930, trên 2.000 quần chúng của 3 quận Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm tập hợp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động (1 tháng 5), sau đó kéo vào tỉnh lỵ Vĩnh Long đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ…

Đến cuối năm 1930, có thêm các chi bộ Mỹ Hưng, An Hưng, Phú Lộc Cựu, Phú Lộc Đồng (Tam Bình),… Trên cơ sở đó, tháng 2 năm 1931, Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Vĩnh Long được thành lập.

Sau khi được thành lập, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã lãnh đạo các chi bộ tập hợp nhân dân vào các hội tương tế, các nông hội đỏ,… nhằm đoàn kết nông dân và xây dựng khối liên minh công nông; giác ngộ, hướng dẫn và tổ chức quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế trước mắt, chống sưu thuế, thu tô quá nặng, kết hợp với khẩu hiệu chống thực dân, phong kiến với nhiều hình thức như tuyên truyền, mít tinh, rải truyền đơn,..

Dưới sự tuyên truyền vận động, giáo dục và lãnh đạo của Đảng, quần chúng được giác ngộ cách mạng, tinh thần ngày được nâng cao. Nhiều cuộc đấu tranh, cao trào cách mạng liên tiếp nổ ra ở Vĩnh Long.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, thực hiện lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Long, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh như: Vũng Liêm, Tam Bình, Cái Ngang… đã nổi dậy cướp chính quyền. Tuy cuộc khởi nghĩa chưa đạt yêu cầu đặt ra, bị địch đàn áp dã man nhưng có ý nghĩa chính trị rất to lớn, nó là nguồn cổ vũ cho sức mạnh quật khởi và tinh thần chiến đấu ngoan cường của những đảng viên Đảng Cộng sản và quần chúng cách mạng. Đó thực sự là cuộc tổng diễn tập, bằng bạo lực cách mạng, tiền đề của cuộc tổng khởi nghĩa giành được chính quyền về tay nhân dân vào ngày 25 tháng 8 năm 1945.

Thực dân Pháp trở lại xâm chiếm nước ta lần thứ hai. Sau khi phá vỡ được phòng tuyến phía Nam Sài Gòn, quân Pháp tiến đánh Tân An, Mỹ Tho và Gò Công, vượt qua sông Tiền đánh chiếm các tỉnh miền Tây.

Sáng ngày 29 tháng 10 năm 1945, chúng đổ bộ lên tỉnh lỵ Vĩnh Long. Quân và dân Vĩnh Long đánh trả quyết liệt, gần một tuần lễ chúng mới chiếm được. Để bảo tồn lực lượng, ta vừa chống địch, vừa rút lui về nông thôn để củng cố, xây dựng lực lượng cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp giành thắng lợi.

Đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào thay thế, dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, phá hoại hiệp định Genève. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Vĩnh Long một lần nữa cùng với nhân dân miền Nam tiếp tục kháng chiến chống Mỹ cứu nước và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam và ngày 30 tháng 4 năm 1975.

3. Những dấu son trong xây dựng hệ thống chính trị của tỉnh Vĩnh Long từ năm 1975 đến nay

Thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/TW, ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 19/NQ, ngày 20/12/1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Tháng 2/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Theo Nghị định này ở miền Nam có 21 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh được sáp nhập lại thành tỉnh Cửu Long. Ủy ban Nhân dân lâm thời tỉnh Cửu Long được thành lập vào đầu năm 1976 do đồng chí Nguyễn Ký Ức làm Chủ tịch; Tỉnh ủy lâm thời Cửu Long, do đồng chí Hồ Nam làm Bí thư.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống chính quyền các cấp, công tác xây dựng Đảng được chú trọng, từng bước nâng dần trình độ Đảng lãnh đạo ngang tầm với tình hình mới.

 

A. Giai đoạn tỉnh Cửu Long

1. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ I (1976- 1980)

Được diễn ra gồm 2 vòng: Vòng 1 khai mạc vào ngày 26/11/1976; vòng 2 từ 18/3- 8/4/1976, có 296 đại biểu dự, thay mặt cho 10.000 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội đã bầu ra 35 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đáng (Năm Trung) được bầu là Bí thư, đồng chí Nguyễn Ký Ức, Trịnh Văn Lâu được bầu làm Phó Bí thư.

Đại hội đề ra mục tiêu chủ yếu là: “…Tập trung cao độ lực lượng toàn tỉnh thực hiện kế hoạch 5 năm (…) Ra sức khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, đẩy mạnh công tác y tế, giáo dục, thực hiện tốt chính sách thương binh liệt sĩ, giải quyết triệt để các tệ nạn văn hóa xã hội cũ, xây dựng nếp sống mới, con người mới. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh (…) đẩy mạnh phong trào làm ăn tập thể (…) tạo điều kiện đi nhanh lên hợp tác hóa nông nghiệp…”.

2. Đại hội Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ II (1980- 1983)

Tiến hành từ ngày 3/1- 9/1/1980; có gần 400 đại biểu thay mặt cho hơn 11.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 43 đồng chí và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đáng- ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng- tái đắc cử Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Ký Ức và đồng chí Trịnh Văn Lâu tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản (…) là vừa phải đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân, (…) ra sức đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; đồng thời phải xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội…”.

3. Đại hội Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ III (1983- 1985)

Đại hội triệu tập 422 đại biểu, đại diện cho hơn 12.000 đảng viên trong toàn tỉnh về dự. Đại hội diễn ra hai vòng. Vòng 1 khai mạc ngày 29/3 và bế mạc ngày 1/4/1983. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh ủy khóa III gồm 43 đồng chí là ủy viên chính thức và 2 đồng chí là ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đáng (Năm Trung) – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng- tiếp tục được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Nguyễn Ký Ức và đồng chí Trịnh Văn Lâu tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư.

Đại hội đã xác định nhiệm vụ chủ yếu là: …Đẩy mạnh cải tạo XHCN đối với các ngành kinh tế, nỗ lực phấn đấu đến năm 1985 hoàn thành cơ bản hợp tác hóa nông nghiệp, đưa 70% nông dân vào làm ăn tập thể, kết hợp sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp…

– Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế, văn hóa. Củng cố và tăng cường hệ thống chuyên chính vô sản, trước hết xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thường xuyên đề cao cảnh giác, không ngừng tăng cường quốc phòng toàn dân, tăng sức chiến đấu phòng thủ ở các vùng xung yếu.

– Tăng cường công tác vận động quần chúng, nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy truyền thống anh hùng, nâng cao ý thức tự lực vươn lên, chủ động sáng tạo, nhằm thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

4. Đại hội Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ IV (1986-1990)

– Đại hội lần thứ tư là đại hội của ”Đoàn kết và thắng lợi”. Đại hội đã triệu tập 600 đại biểu, thay mặt cho hơn 17.300 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đại hội khai mạc ngày 6/10 và bế mạc ngày 8/10/1986.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành mới gồm 45 đồng chí là ủy viên chính thức (trong đó có 3 đồng chí nữ) và 15 đồng chí là ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí (có 1 đồng chí nữ). Đồng chí Nguyễn Ký Ức được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Đức Toàn và đồng chí Hồ Minh Mẫn được bầu giữ chức Phó Bí thư.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của tỉnh trong giai đoạn này là: “Nắm vững phương hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phấn đấu thực hiện kỳ được 3 mục tiêu kinh tế then chốt, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt bộ mặt kinh tế- xã hội, nhằm ổn định và nâng cao một bước đời sống của nhân dân, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng…”.

B. Giai đoạn tỉnh Vĩnh Long


1. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ V (1991- 1995)

Đại hội khai mạc ngày 27/8 và bế mạc ngày 29/8/1991. Về dự đại hội có 199 đại biểu đại diện cho hơn 11.000 đảng viên của 7 đảng bộ huyện, thị và 3 đảng bộ khối trực thuộc Tỉnh ủy.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành mới gồm 39 đồng chí là ủy viên chính thức (trong đó có 4 đồng chí nữ). Đồng chí Trịnh Văn Lâu- Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng- được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Phan Tấn Tài và đồng chí Nguyễn Văn Cương được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra mục tiêu chủ yếu cho giai đoạn 1991- 1995 là: “… tập trung sức thực hiện trọng tâm phát triển kinh tế- xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện cho bước phát triển sau nhanh hơn. Đổi mới và chỉnh đốn Đảng nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, nâng cao vai trò tiên phong và ý chí chiến đấu của đảng viên…”.

2. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ VI (1996- 2000)

Đây là đại hội “Đẩy mạnh công cuộc đổi mới và bước vào thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế” của tỉnh. Đại hội triệu tập 300 đại biểu, đại diện cho gần 12.000 đảng viên về dự. Đại hội khai mạc ngày 6/5 và bế mạc ngày 10/5/1996.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm 47 đồng chí là ủy viên chính thức (trong đó có 9 đồng chí nữ). Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí (trong đó có 2 đồng chí nữ). Đồng chí Nguyễn Văn Quân được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Võ Công Lý, Phan Tấn Tài và Nguyễn Văn Cương được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra mục tiêu chủ yếu là: “Từ nay đến năm 2010, Vĩnh Long ra sức đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước nhất là công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn, biến Vĩnh Long thành một tỉnh có nền nông nghiệp phát triển toàn diện và tương đối hiện đại, có công nghiệp và dịch vụ phát triển vững chắc. Thực hành tiết kiệm, tăng tích lũy để tái đầu tư sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cùng với chính sách hợp lý thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thu hút chất xám và khoa học tiên tiến, chuyển dịch nhanh cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung, đẩy mạnh xây dựng cơ sở kinh tế hạ tầng đồng bộ với phát triển kinh tế- xã hội bền vững. Tránh nguy cơ tụt hậu so với khu vực và cả nước. Tăng tưởng kinh tế găn với tiến bộ và công bằng xã hội, tạo việc làm, chăm lo phát triển văn hóa- giáo dục- đào tạo nâng cao chất lượng lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là vùng nông thôn sâu, vùng căn cứ kháng chiến, vùng đồng bào Khmer. Bảo đảm quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội trong quá trình phát triển”.

 

3. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2001- 2005)

Đại hội đã triệu tập 349 đại biểu đại diện cho hơn 14.700 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đại hội khai mạc ngày 1/1 và bế mạc ngày 4/1/2001.


Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm 43 đồng chí (trong đó có 5 đồng chí nữ). Đồng chí Nguyễn Văn Quân- Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng- được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phan Đức Hưởng và đồng chí Trương Văn Sáu được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra mục tiêu chủ yếu trong giai đoạn 2001- 2005 là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, đồng thời đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đầu tư theo hướng phát triển công nghiệp và thương mại- dịch vụ. Khắc phục những tồn tại yếu kém trong nền kinh tế, nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn nhiệm kỳ qua. Tranh thủ thời cơ, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế và lợi thế so sánh, phát huy tối đa các nguồn lực trong, ngoài tỉnh và nước ngoài để phát triển kinh tế- xã hội, tạo bước chuyển biến mới về xã hội, chuẩn bị tốt các điều kiện theo lộ trình hội nhập của cả nước. Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo, phát huy nhân tố con người, chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về việc làm, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và tạo các tiền đề cần thiết khác, tạo đà cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Bảo đảm quốc phòng an ninh”.

4. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (2005- 2010)

Đại hội đã triệu tập 295 đại biểu đại diện cho hơn 18.000 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đại hội khai mạc ngày 21/12 và bế mạc ngày 23/12/2005.


Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII (2005- 2010) gồm 49 đồng chí và bầu đoàn đại biểu dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng gồm 12 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết. Đồng chí Trương Văn Sáu được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Phan Đức Hưởng và đồng chí Phạm Văn Đấu được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra phương hướng chủ yếu trong giai đoạn 2005- 2010 là: “Huy động mọi nguồn lực, tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế để có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, chất lượng cao, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa. Phát triển nền văn hóa tiên tiến, lành mạnh làm nền tảng tư tưởng xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”.

5. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (2010- 2015)


Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ IX được tiến hành từ ngày 18- 20/10/2010, Tại TP Vĩnh Long. Đại hội đã bầu ra 54 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX. Đồng chí Đặng Thị Ngọc Thịnh được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức vụ Bí thư, các đồng chí Phạm Văn Lực và Nguyễn Văn Diệp được bầu làm Phó Bí thư.

III. Những thành tựu nổi bật sau 280 năm hình thành và phát triển

Trải qua gần ba thế kỷ, cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất Vĩnh Long đã nỗ lực khai phá, biến rừng hoang, đầm lầy thành đất sản xuất; chống chọi với thiên tai, ác thú, vượt qua nghèo khó, thiếu thốn, đói rách, bệnh tật, sự hà khắc của chế độ phong kiến; chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm để bảo vệ, xây dựng tỉnh Vĩnh Long ngày càng tươi đẹp.

Sau 280 năm hình thành và phát triển, tỉnh Vĩnh Long đã đạt được những thành tựu nổi bật:

1. Về đất nước- con người

Xưa, Vĩnh Long đã sản sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng như: nhà thơ Phan Văn Trị, Nhiêu Tâm, Học Lạc, nhà bác học Trương Vĩnh Ký, quan đại thần Phan Thanh Giản,…

Thời cận đại có cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng; cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt; Thiếu tướng- Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa,…

Nhân dân Vĩnh Long đã sáng tạo ra và phát triển nhiều loại hình văn học nghệ thuật dân gian như: nói thơ Vân Tiên, hát tuồng, vè, cải lương,…

Sáng tạo, xây dựng và để lại nhiều công trình, kiến trúc văn hóa độc đáo như: thành xưa Long Hồ; Văn Thánh Miếu; Văn Xương Các; miếu Quốc công; miếu Công Thần; đình Tân Giai; chùa Tiên Châu…

Ngày nay, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long đang tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa để xây dựng các công trình mới như Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng; Khu tưởng niệm đồng chí Võ Văn Kiệt; Khu di tích cách mạng Cái Ngang; Công viên Tượng đài Chiến thắng Mậu Thân; Công viên sông Tiền; Quảng trường TP Vĩnh Long và nhiều công trình kiến trúc hiện đại khác. Đồng thời ra sức xây dựng con người mới Vĩnh Long vừa hiện đại vừa mang tính nhân văn, đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.

2. Về kinh tế

Xưa, những người đi mở cõi đã biến vùng hoang hóa, đầm lầy, nhiều cọp beo, thú dữ,… trở thành một vùng đồng bằng trù phú, màu mỡ với những cánh đồng lúa và vườn cây ăn trái bạt ngàn. Phố xá, làng mạc cùng các ngành nghề truyền thống cùng với nền văn minh lúa nước cũng được hình thành. Đó là tiền đề, vốn liếng quan trọng để các thế hệ con cháu nối tiếp nhau xây dựng và phát triển.


Bước vào thế kỷ XXI, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với việc hội nhập kinh tế quốc tế. Tập trung huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng và lợi thế để có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, chất lượng cao; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,… Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đạt 28,24 triệu đồng (1.346 USD) năm 2011.


Thành tựu quan trọng là sản xuất nông nghiệp tăng nhanh và toàn diện. Vĩnh Long đạt được thành tựu quan trọng về thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm. Đến nay tỉnh đã hình thành được một số vùng sản xuất chuyên canh, đa canh, luân canh với chất lượng, hiệu quả cao. Mặt khác, do thực hiện tốt công tác thủy lợi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phòng trị kịp thời dịch bệnh nên sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng. Đời sống của nông dân được nâng lên, bộ mặt nông thôn không ngừng được đổi mới. Giá trị trồng trọt và nuôi trồng thủy sản bình quân đến năm 2010 đạt trên 92 triệu đồng/ha/năm. Đóng góp vào sự tăng trưởng chung của kinh tế tỉnh còn có lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.


Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Long chưa phải là ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng rất đa dạng bao gồm nhiều ngành như: cơ khí, kỹ thuật điện, điện tử, gia công kim loại hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt, da, may… được hình thành và phát triển dựa trên nguồn nguyên liệu và lao động địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh như: công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất và dược liệu…

Một số cơ sở xí nghiệp nhà máy được cải tiến, trang bị đầu tư đi vào sản xuất như: Nhà máy thuốc lá Cửu Long, Nhà máy cơ khí; Xí nghiệp liên hiệp chế biến hàng xuất khẩu;… và Xí nghiệp liên hợp dược (Công ty CP Dược phẩm Cửu Long ngày nay) và còn có hơn 10 ngàn hộ sản xuất kinh doanh cá thể. Riêng giai đoạn 2005- 2010, tỉnh đã thành lập được các khu, tuyến công nghiệp của tỉnh (Khu công nghiệp Hòa Phú; Bình Minh; tuyến công nghiệp Cổ Chiên). Năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 5.766,78 tỷ đồng, tăng 19,2% góp phần đáng kể trong tăng tỷ trọng bình quân GDP của tỉnh nhà hàng năm trong nhiệm kỳ VIII trên l1%.

Ngành thương mại- dịch vụ đã có bước chuyển biến đáng kể, làm cầu nối gắn kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng; hệ thống bán buôn, bán lẻ phát triển mạnh, hàng hóa phong phú và đa dạng, lưu thông thông suốt và đáp ứng được nhu cầu của người dân, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

 

3. Về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội

Phát triển điện

Hiện nay nguồn lưới điện đã được phủ khắp từ thành thị đến nông thôn góp phần thay đổi diện mạo đời sống kinh tế của tỉnh, các nguồn lực đầu tư xây dựng

cải tạo không ngừng tăng cường nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp, nông nghiệp của tỉnh theo hướng hiện đại. Đến nay toàn tỉnh đã có 100% số xã có lưới điện quốc gia và trên 98,5% hộ dân có điện sử dụng.

Phát triển hạ tầng giao thông

Trong những năm qua Vĩnh Long đã tập trung huy động nhiều nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông trên phạm vi toàn tỉnh và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Đặc biệt khi cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ đưa vào sử dụng cùng với việc đầu tư nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ đã giúp cho giao thông đường bộ của tỉnh với các tỉnh trong khu vực và cả nước được thông suốt, là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế- xã hội cho các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy hiệu quả và tăng cường năng lực vận tải, góp phần bảo đảm tăng trưởng kinh tế, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.

Đến nay hệ thống giao thông đã được đầu tư khá toàn diện và đồng bộ, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa, vận tải hành khách, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển sản xuất, thương mại và dịch vụ, góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đảm bảo quốc phòng an ninh.

Phát triển hệ thống thủy lợi

Hệ thống thủy lợi của tỉnh Vĩnh Long được đánh giá khá nhất so với 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long: thủy lợi thực sự là yếu tố quyết định đến tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và các biện pháp kỹ thuật quan trọng thâm canh tăng năng suất cây trồng, thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Cung cấp nước sạch

Sau 20 năm đầu tư và phát triển, mạng lưới trạm cấp nước tập trung và đường ống phân phối đến các hộ dân sử dụng, góp phần đưa tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch từ các trạm cấp nước tập trung khu vực thành thị đạt 78% hộ khu vực đô thị và 32% hộ khu vực nông thôn sử dụng nước từ các nhà máy nước tập trung.

Phát triển đô thị

Hai trung tâm đô thị lớn của tỉnh là TP Vĩnh Long và thị trấn Cái Vồn được nâng cấp, chỉnh trang về nhiều mặt, đây là hai trung tâm được tỉnh tập trung quy hoạch và đầu tư phát triển tạo sự đột phá và lan tỏa cho cả tỉnh, để xứng đáng với vai trò là những đô thị trung tâm và động lực phát triển của toàn tỉnh.

Các trung tâm xã, thị trấn khác cũng được quan tâm đầu tư, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

4. Về văn hóa- xã hội

Sự nghiệp giáo dục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, 100% trường lớp được ngói hóa thay cho tre lá tạm bợ. Trên 99% học sinh trong độ tuổi các bậc học đều được huy động đến trường. Quy mô các bậc học, ngành học, số học sinh ngày càng tăng lên. Toàn tỉnh hiện có 494 trường, số lượng giáo viên đảm bảo đủ về số và chất lượng.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có Trường Đại học Cửu Long, Trường Đại học Xây dựng Miền Tây và các trường cao đẳng, trung cấp- góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

– Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân không ngừng phát triển, tất cả các trạm y tế xã đều được xây dựng kiên cố và đều có bác sĩ phục vụ. Công tác khám chữa bệnh được thực hiện từ các cơ sở y tế công lập và các dịch vụ y tế tư nhân.

Mạng lưới y tế của tỉnh đã trải rộng khắp địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh. Đội ngũ cán bộ, công chức, y bác sĩ thuộc ngành y tế thực hiện khá tốt 12 điều quy định về y đức, tạo được sự tin tưởng của nhân dân. Trên địa bàn tỉnh, hiện có 9 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa, 102 trạm y tế với tổng số giường bệnh là 1.780 giường, đạt 18 giường/1 vạn dân. Trong đó Bệnh viện đa khoa tỉnh với 600 giường bệnh là tuyến điều trị đầu ngành của tỉnh, có đội ngũ cán bộ và thầy thuốc chuyên sâu và phương tiện điều trị hiện đại.

– Công tác xây dựng nếp sống mới luôn được Đảng bộ và các cấp chính quyền quan tâm lãnh chỉ đạo. Nhất là từ sau năm 1996, thực hiện Chỉ thị số 01/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng. Đến cuối năm 2010 toàn tỉnh đã có 81,75% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa.

– Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh có bước phát triển vượt bậc và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ ngày càng phong phú, thiết thực như: tổ chức biểu diễn nghệ thuật, họp mặt, lễ kỷ niệm, hội diễn, liên hoan, sinh hoạt câu lạc bộ…, đóng góp quan trọng vào việc giữ gìn, nâng cao mức hưởng thụ, sáng tạo văn hóa trong nhân dân. Nổi rõ là phong trào văn nghệ quần chúng đã thể hiện vai trò chuyển tải thông tin, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi và cuộc sống. Hoạt động thể dục, thể thao có nhiều tiến bộ, các giải thể thao phong trào như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông được tổ chức thường xuyên, nhất là vào các dịp lễ hội, kỷ niệm ngày truyền thống của các ngành, địa phương trong tỉnh. Hoạt động bảo tàng và công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được quan tâm, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc và địa phương.

– Các cơ quan báo chí đảm bảo nhu cầu thông tin, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nhìn chung, hoạt động thông tin và truyền thông tỉnh Vĩnh Long đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu hưởng thụ thông tin, tuyên truyền, giải trí, thực hiện dân chủ xã hội, góp phần nâng cao dân trí, giáo dục truyền thống, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và quốc phòng an ninh của tỉnh thông tin và truyền thông đã trở thành công cụ hỗ trợ trên tất cả các lĩnh vực phát triển của xã hội, góp phần giảm chi phí, tăng sản lượng trong các ngành sản xuất kinh doanh, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

– Công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được kết quả khả quan. Ban chỉ đạo giảm nghèo của tỉnh, phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể đã lồng ghép xây dựng kế hoạch với nhiều giải pháp triển khai thực hiện tốt các chính sách, các dự án như hỗ trợ trực tiếp đến người nghèo, hộ nghèo, xã khó khăn… tạo cơ hội cho người dân tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục,… từng bước cải thiện và nâng cao đời sống các tầng lớp dân cư. Đến cuối năm 2011 tỉnh hoàn thành việc chủ trương xây dựng nhà cho hộ nghèo trên địa bàn. Hộ nghèo và cận nghèo, gia đình chính sách, hộ đồng bào dân tộc được hỗ trợ và cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn học phí, cứu tế đột xuất, cứu trợ thường xuyên… góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội ở địa phương.

5. An ninh- quốc phòng

Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, lực lượng công an, quân sự tỉnh nhà phát huy truyền thống trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm đã luôn vượt qua mọi khó khăn thử thách, dũng cảm kiên cường, tiên phong trong mọi nhiệm vụ, xứng đáng là công cụ tin cậy của Đảng và nhân dân, đã không ngừng xây dựng lực lượng ngày càng lớn mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại địa phương.

6. Xây dựng hệ thống chính trị

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long luôn tập trung cho công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức làm cho đảng bộ tỉnh ngày một trưởng thành và vững mạnh, ngang tầm với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và đã đạt được những thành tựu quan trọng.

Hệ thống chính trị không ngừng được củng cố, kiện toàn và phát triển; khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng củng cố, tạo được sự đồng thuận xã hội cao, góp phần đưa kinh tế- xã hội của tỉnh tiếp tục tăng trưởng cao, toàn diện, hiệu quả và đúng hướng. Đội ngũ cán bộ đảng viên không ngừng được đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, chất lượng ngày được nâng cao; bộ máy chính quyền và các đoàn thể nhân dân đảm bảo đủ sức gánh vác sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn, mới; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Theo baovinhlong