Chuyện làng phượt: Gian nan thử thách tuổi xế chiều

Nhìn những bức ảnh phượt đẹp mê ly với thiên nhiên thơ mộng, kỳ vỹ, những nụ cười tươi mới trên môi, ít người biết rằng đằng sau nó là những chặng đường gian nan, không ít những hiểm nguy và cạm bẫy.

Có những cung đường mà ngay cả những tay phượt trẻ nhiều kinh nghiệm cũng phải ngả mũ cúi chào nói chi đến các cụ “phượt già” mắt kém, tay run. Thế nhưng một vài cú ngã đau, những trận ốm quay cuồng, những đợt huyết áp lên lên, xuống xuống cũng không đủ sức đánh bật bất cứ cụ “phượt già” nào ra khỏi cuộc chơi.
Già nhưng tinh thần phượt không bị… lão hoá

 

Chuyện làng phượt: Gian nan thử thách tuổi xế chiều

Họ xông xáo vào những con đường chưa được bê tông hóa với những: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”. Trời nắng thì bụi tung mù mịt, trời mưa thì ngập ngụa trong bùn. Nhưng dường như chính những khó khăn, thử thách đó đã mang một thứ khoái cảm chinh phục mà chỉ những người trong cuộc mới hiểu hết giá trị của nó, nhất là với người không còn trẻ. 

Cảm giác về sự chiến thắng lại càng trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết khi họ thực sự cần một niềm tin vào sức mạnh của chính mình ở cái thời điểm mà người ta rất sợ phải thừa nhận bất cứ một sự giảm sút phong độ nào. Và để có được những trải nghiệm quý báu ấy, không ít cụ đã phải trả giá bằng một vài phen hút chết bởi cái thú thích phiêu lưu của mình.

 

Chuyện làng phượt: Gian nan thử thách tuổi xế chiều

Trong một chuyến phượt Tây Bắc, lên Mù Cang Chải ngắm ruộng bậc thang, săn mây Y Tý, đi chợ vùng cao uống rượu ngô ăn thắng cố, chẳng hiểu vì nhớ rượu Than Uyên hay vẫn còn hoa mắt bởi những váy xòe, váy hoa rực rỡ núi đồi của các thiếu nữ người Mông mà trên đường về, bác Thắng “thuộc”, một tay phượt 65 tuổi đã bị “xòe” một vố đau khi đổ đèo qua Ô Quy Hồ. Mặc dù cú ngã không quá nặng nề nhưng vì tuổi đã cao, gân cốt không được dẻo dai như các bạn trẻ nên ông bị gãy tay trái.

Đúng lúc đang nằm nhà dưỡng thương, cái tin bọn trẻ chuẩn bị phượt Cao Bằng, vi vu đèo Giàng, đèo Gió, ngắm thác Bản Dốc hùng vĩ, nguyên sơ khiến ông ngứa ngáy không yên. Ông chỉ muốn được giải thoát ngay khỏi mớ bông băng vướng víu để lên đường cùng chiếc Su 125 bất khả chiến bại. 

 

Chuyện làng phượt: Gian nan thử thách tuổi xế chiều

Không chấp nhận ngồi nhà nghe ngóng tin tức để rồi phải chịu cảnh thèm thuồng, ghen tị, ông đòi đi theo đoàn cho bằng được, mặc kệ hết người nọ ngăn cản đến người kia níu kéo. Cuối cùng, với một cánh tay vẫn còn bó bột và chỗ ngồi khá ổn trên chiếc sidecar của một thành viên trẻ trong đoàn, ông đã không bỏ lỡ chuyến đi mình hằng mong đợi. Đi đến đâu ông cũng khoe: “Nếu là ngày xưa, tôi sẵn sàng một tay lái con Su 125 lên Cao Bằng chứ ngán gì. Bây giờ có tuổi rồi, con cháu chúng nó phản đối quá nên mới phải làm “ôm” thế này chứ không phải tôi không dám solo đâu đấy nhé!”. 

Trên đường từ Quảng Bình về Hà Nội, đoạn qua biển Diễn Thành (Nghệ An), một bác phượt khác có biệt danh là Hoàng “CD” cũng bị một phen hút chết. Khi chiếc xe đang bon bon trên đường với vận tốc 60km/h bỗng đâm sầm vào barie phân làn khiến cả người và xe bị hất văng ra lề đường. Cả đoàn phượt đang tà tà bám theo sau chỉ còn biết nín thở giữ cho tim khỏi “văng” ra ngoài lồng ngực. Cánh phụ nữ sụt sịt bảo nhau: “Cụ ấy đi chuyến này là để mừng thọ 70 tuổi, vậy mà…” rồi òa khóc. Mọi người vừa gọi xe cấp cứu thì cụ tỉnh dậy, quay ngang quay ngửa tìm một điếu thuốc lào.

 

Chuyện làng phượt: Gian nan thử thách tuổi xế chiều

Trưởng đoàn lập tức hét lớn: “Thuốc lào! Anh em mau tìm ngay cái điếu về đây kẻo cụ không chết vì ngã mà sẽ chết vì thèm thuốc!”. 

Hai chục con người trong đoàn chạy tán loạn tìm chiếc điếu cày mà cụ vẫn giắt trong chiếc túi đôi vắt ngang xe. Nhưng chiếc điếu đã bị văng ra ngoài, lăn xuống cống và ngập 2/3 trong dòng nước đen xì, bốc mùi thum thủm. May sao, một thành viên trong đoàn đã kịp thời mượn được chiếc điếu khác ở quán bia bên đường.

Rít xong điếu thuốc, ngửa cổ thả khói lên trời kiêu hãnh như một đế vương, cụ cười khề khà: “Leo đồi thả dốc quen rồi, xuống đường thành phố đi êm quá cho nên tớ buồn ngủ, mắt nhắm mắt mở nhìn cái chắn đường tưởng cái cổng chào…”. Cả đoàn ôm bụng cười nghiêng ngả sau một vố thót tim. Không ai có thể tin được thành viên 70 tuổi của họ chỉ bị xây xước nhẹ sau cú ngã “ngoạn mục” như trong phim, trừ tổn thất nặng nề nhất là chiếc điếu cày và một vài hư hỏng nhỏ trên chiếc CD. Trước những lời tán tụng, cụ chỉ tủm tỉm: “Các bạn cứ thần tượng quá! Giòn nhưng không dễ vỡ thôi mà!”.

Đổ đèo, vượt suối, ăn núi, ngủ rừng

Là một người đã có nhiều năm tháng bôn ba đây đó với vô số những trải nghiệm quý báu trong cuộc sống nhưng “bô lão” phượt Tùng “ngất ngưởng” vẫn bị “bắt nạt” như thường khi đi cùng 20 chiến hữu khác trong một chuyến phượt sang nước bạn Lào. Trên đường trở về Việt Nam, khi đi qua cửa khẩu Na Mèo, Tùng “ngất ngưởng” bỗng dưng bị cơ quan an ninh tạm giữ vì phát hiện trên chiếc xe 3 càng của ông có ma túy.

Trong khi mọi người còn đang ngơ ngác nhìn nhau thì với bản lĩnh của một người đã có hơn 60 năm lăn lộn giữa cuộc đời, ông đã hiểu ngay ra vấn đề. Trước khi qua cửa khẩu, đoàn phượt của ông đã dừng chân nghỉ lại một quán giải khát gần biên giới. Đã quen với việc những chiếc xe kỳ quái của mình được chú ý cho nên trong khi đông đảo người dân xúm xít lại xem thì cả đoàn vẫn vô tư uống nước, chuyện trò. Lợi dụng sơ hở đó, một vài phần tử xấu đã lén dính những gói ma túy nhỏ xíu vào gầm chiếc sidecar của ông vì nghĩ rằng chiếc xe sẽ dễ dàng qua mắt lực lượng an ninh ở cửa khẩu.

Sau đó, họ sẽ bám theo đoàn qua biên giới, đợi đến khi đoàn xe dừng chân nghỉ giải lao thì gỡ những gói đó ra để lấy. Cũng may cho ông là bị bắt ở cửa khẩu Việt Nam nên bằng tài ứng biến nhanh nhạy, khả năng thuyết phục tuyệt vời cùng sự hỗ trợ của hàng chục loại giấy tờ “phòng thân” chưa kể đến hai chục gương mặt ngây thơ, vô tội đang trông đợi phía ngoài, sau gần nửa ngày làm việc với cơ quan chức năng, cuối cùng ông đã được minh oan. Nhiều tháng sau, ông vẫn còn bị ám ảnh bởi chuyện này nhưng tinh thần phượt trên từng cây số cao hơn tất cả đã lấn áp mọi nỗi sợ hãi nên ông lại lên đường theo tiếng gọi của những miền đất mới.

Luôn phải chiến đấu với căn bệnh hen suyễn kinh niên nhưng ông Hội “hen” với tinh thần của một người đàn ông U60 yêu Vespa đã không ngần ngại tham gia những chuyến phượt đường dài cung Tây Bắc cùng với chiếc xe yêu quý của mình. Với những chiếc Vespa đã quá nổi tiếng về vẻ đẹp tinh tế, lịch lãm cũng như thói đỏng đảnh “vừa đi vừa đẩy” của mình, các xe trong đoàn thay nhau hỏng hóc dưới trời mưa tầm tã.

Tốc độ của đoàn bị chậm lại quá nhiều so với kế hoạch vì đã 11h đêm mà đoàn vẫn đang loay hoay đánh vật với những chiếc xe chết máy trên đoạn đường đất nhoã nhoét sình lầy dẫn tới một bản nhỏ, nơi các phượt thủ có thể dừng chân xin nghỉ qua đêm. Có ai ngờ những chiếc Vespa “cành vàng lá ngọc” như vậy thế mà giờ đây xe nào xe nấy đều tắm trong bùn đen cùng phân trâu thối hoắc.

Theo DLG

Chuyện trấn yểm long mạch ở Sài Gòn

Con rùa lớn yểm đuôi rồng
Hồ Con Rùa có tên chính thức là Công trường Quốc tế (trước là Công trường Chiến sĩ trận vong). Đây là nút giao của 3 con đường Võ Văn Tần, Phạm Ngọc Thạch và Trần Cao Vân. Tuy không chính thức được xác nhận, nhưng rất nhiều giai thoại cho rằng hồ Con Rùa được thiết kế thêm hồ phun nước hình bát giác, con rùa đội bia. Và trụ đứng vươn lên cao ở giữa hồ chính là biểu tượng bát quái đồ, Kim Quy cùng chiếc đại đinh đóng xuống đất là để yểm đuôi rồng.
Các vị cao niên kinh qua nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của vùng đất này đã kể những giai thoại rằng, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vốn là người đa nghi và cuồng tín. Bởi vậy, sau khi nhậm chức tổng thống, ông luôn trong tâm trạng bất an, lo lắng cho vị thế của mình. Vào năm 1967, nghe tin có thầy địa lý cao tay ở Hong Kong, Thiệu liền cho người mời sang Việt Nam để trấn yểm Dinh Độc Lập.

Thầy địa lý nghiên cứu đến mấy ngày sau rồi phán: “Dinh Độc Lập được xây trên long mạch, trấn ngay vị trí đầu rồng. Đuôi rồng nằm cách đó non 1 km, rơi vào vị trí Công trường Chiến sĩ trận vong. Cần phải dùng một con rùa lớn trấn yểm đuôi rồng lại thì sự nghiệp của tổng thống mới mong bền vững”.

 Hồ Con Rùa năm 1972.

Vợ chồng Nguyễn Văn Thiệu lập tức tin theo, cho xây hồ nước theo hình bát giác, phỏng theo bát quái đồ, một biểu tượng phong thủy thường dùng để trấn yểm của người xưa. Hồ có 4 đường đi bộ xoắn ốc đều hướng đến khu vực trung tâm là đài tưởng niệm và hình tượng con rùa bằng hợp kim đội bia đá.

Ngoài ra, khu vực trung tâm còn có một cột cao mang hình cánh hoa xòe phía trên. Cột cao này được xem như một chiếc đinh lớn đóng xuống giữa hồ để ghim đuôi rồng lại. Năm 1972, Công trường Chiến trị trận vong được đổi thành Công trường quốc tế. Vào đầu năm 1976, tấm bia và con rùa bị phá hủy trong một vụ nổ. Tuy con rùa không còn nhưng người dân vẫn quen gọi là hồ Con Rùa, thay cho tên gọi chính thức.

Lại có giai thoại khác liên quan đến việc hồ Con Rùa là sản phẩm trấn long mạch Sài Gòn. Giai thoại này gắn liền với nguồn gốc xây Dinh Độc Lập do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, lấy núi giả trong Thảo Cầm Viên làm bình phong, sông Thị Nghè làm lưu thủy, tạo thế long chầu, hổ phục.

Người Pháp biết rõ điều này, liền cho xây nhà thờ Đức Bà mặt trước bên phải Dinh, hòng phá vỡ thế chữ Vương (gồm đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa – Pastuer – Phạm Ngọc Thạch hiện nay), thêm một chấm thành chữ Chủ nhằm phá luôn long mạch của Dinh. Do vậy phải xây thêm hồ Con Rùa để phá thủy, làm nước phun lên.

Nhưng còn một điều rất huyền diệu về hồ Con Rùa mà rất ít người bình thường để ý đến, chỉ có các thầy phong thủy và các kiến trúc sư học thêm bộ môn trấn yểm mới hiểu tận tường những bí ẩn trong thiết kế tổng quan của Sài Gòn xưa. Đó là Bảo tàng Chứng tích chiến tranh nằm ngay giữa ngã tư Võ Văn Tần – Lê Quý Đôn xưa chính là chùa Khải Tường. Chùa Khải Tường là nơi chúa Nguyễn Phúc Ánh trên đường bôn tẩu tránh sự truy đuổi của Tây Sơn có ghé qua tá túc. Và hoàng tử Đảm – sau này trở thành vua Minh Mạng – đã được sinh tại nơi đây.

Tương truyền, khi hoàng tử Đảm – chân mệnh đế vương – ra đời, chùa Khải Tường đã phát ra hào quang đến 3 đêm liền. Nếu nhìn trên bản đồ chụp từ vệ tinh thì chùa Khải Tường thẳng trục với Dinh Độc Lập và vuông góc với hồ Con Rùa. Việc trấn yểm này còn liên quan đến ngũ hành, âm dương, phá thủy, giả sơn mà các thầy chiêm tinh, địa lý nào cũng phải biết.

Do đó, không phải ngẫu nhiên mà hồ Con Rùa nằm thẳng trục với nhà thờ Đức Bà trên đường Phạm Ngọc Thạch, còn chùa Khải Tường thẳng trục Dinh Độc Lập. Bốn công trình nổi tiếng này đều được xây dựng tại những địa điểm mà xưa kia ít nhiều đều dính dáng đến long mạch của Sài Gòn và càng không phải ngẫu nhiên mà tạo thành một hình vuông, nếu chiếu bóng sẽ trở thành một đường thẳng.

Bát quái trận giam giữ linh hồn người đã khuất

Một kiến trúc khác được cho là biểu tượng phong thủy thứ hai của Sài Gòn là trại giam Chí Hòa, mà người dân vẫn thường gọi là khám Chí Hòa. Toàn bộ khu trại giam này rộng khoảng 7 ha, được người Pháp xây dựng từ những năm 1943.

Sở dĩ người ta cho rằng khám Chí Hòa là một biểu tượng phong thủy dùng để trấn yểm Sài Gòn là bởi kiến trúc của nó khá đặc biệt. Trại giam này được một kiến trúc sư người Nhật thiết kế và xây dựng theo thuyết ngũ hành, bát quái. Khám Chí Hòa cao 3 tầng lầu, có hình bát giác với 8 cạnh đều nhau, 8 góc A, B, C, D, E, F, G, H, tượng trưng cho 8 quẻ: càn, khôn, chấn, tốn, cẩn, khảm, đoài, ly.

Đây là công trình được đánh giá khá cao, bởi nó hòa hợp được những đặc trưng cơ bản của kiến trúc Pháp, vừa mang nét huyền bím âm dương ngũ hành của phương Đông.

 Khám Chí Hòa nhìn từ trên xuống.

Một vài tài liệu nghiên cứu cho rằng, khám Chí Hòa được xây dựng dựa trân bát quái trận đồ của Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Mỗi cạnh của bát quái trận đồ là một khu, lưng xây bịt kín phía ngoài, còn phía trong toàn song sắt. Toàn khu trại giam chỉ có một cửa vào, người ta gọi đó là cửa Tử. Qua cửa này là hệ thống đường hầm.

Điều đặc biệt nhất của khám Chí Hòa là tất cả các lối di chuyển bên trong đều được thiết kế theo cung vị. Chính vì thế, người bình thường khi bước qua cửa Tử sẽ mất hết phương hướng, như lạc vào một mê cung trận đồ, không thể tìm thấy lối ra. Chính giữa hình bát giác là một sân rộng cũng được thiết kế theo hình bát quái đồ, với 8 khu hình tam giác chụm vào nhau.

Ngay tâm của bát quái trận đồ cũng có một đài phu nước như cột cao của hồ Con Rùa đã nói ở phần trên. Nhìn từ trên cao, đài phun nước này có hình dáng như một thanh gươm đâm thẳng xuống đất. Những giai thoại về khám Chí Hòa đều ghi lại vai trò mấu chốt của thanh gươm này và gọi tên nó là “tru tiên kiếm”.

Tru tiên kiếm trấn yểm khám Chí Hòa, khiến những tên tội phạm dù có xảo quyệt, tinh ranh đến đâu cũng không thể trốn được. Nếu tru tiên kiếm bị nhổ lên thì toàn bộ bát quái trận đồ được thiết kế công phu sẽ tự vỡ.

Chính lối kiến trúc áp dụng bát quái trận đồ nhuốm màu sắc huyền linh này mà người ta gọi lối vào duy nhất của khám Chí Hòa là cửa Tử. Nghĩa là đã vào rồi thì không có cách nào để nhận biết đường ra nếu không thông lý số, kinh dịch vốn là môn khoa học không phải bất kỳ ai cũng nghiên cứu và tiếp nhận được.

Người ta xem khám Chí Hòa là một bát quái trận đồ giữa lòng Sài Gòn, bởi lịch sử khám Chí Hòa chỉ có 2 trường hợp vượt ngục thành công. Một là của người tù cộng sản vào năm 1945, và hai là của tên giang hồ khét tiếng Phước “tám ngón” sau đó 50 năm.

Hiện tại, bát quái trận đồ đã bị san bằng một nóc nhà cũng bởi tính quá hoàn hảo của nó. Trước kia, các nhà nghiên cứu kinh dịch, lý số khi nhìn vào khám Chí Hòa đều lắc đầu bởi âm binh, chướng khí tại nơi này quá nặng. Vì những tù nhân chẳng may qua đời ở đây thì linh hồn bị bát quái trận đồ giam giữ, không tài nào thoát ra được.

Không biết thật giả ra sao, nhưng chính tổng thống Ngô Đình Diệm cũng tin vào điều này. Ông Diệm đã cho mời một thầy địa lý cao tay nhằm hóa giải một phần trận đồ. Và sau đó, nóc nhà khu GF của bát quái trận đồ vô cùng hoàn hảo đã bị san bằng. Thuận theo ý trời, lòng người, ngoài cửa Tử, cửa Sanh đã được mở để cho các linh hồn được bay đi và sớm siêu thoát.

Có thể những truyền thuyết, giai thoại nhuốm màu huyền linh, kỳ bí nhưng xét về khía cạnh khoa học ngày nay thì không có thật. Nhưng cũng phải thừa nhận, khám Chí Hòa là một bát quái trận đồ hoàn hảo, ở đó giống như một mê cung đồ khiến ta mất hết mọi khái niệm về phương hướng lẫn không gian và thời gia

Cấm khách du lịch ăn nhậu để bảo vệ di sản

Thị trưởng thành phố Rome vừa ra quy định cấm ăn uống tại trung tâm thành phố, đặc biệt là khu vực quanh đấu trường La Mã, đài phun nước Trevi, Spanish Steps – địa chỉ nổi tiếng gồm 137 bậc thang có từ thế kỷ 18… Ai vi phạm sẽ bị phạt lên tới 650 USD (khoảng 13 triệu đồng).

Đấu trường La Mã là địa danh thu hút nhiều khách du lịch nhất nước Ý.

Quyết định trên được ông Giovanni Alemanno đưa ra với lý do bảo vệ những di sản nổi tiếng của Rome bởi đồ ăn và thức uống rơi rớt ra đang góp phần phá hủy những công trình nổi tiếng này.

Rome chỉ có 2,7 triệu dân nhưng riêng năm ngoái đã hút lượng khách du lịch gấp hơn 4 lần. Trong số 11 triệu người đến thành phố cổ kính này năm 2011 thì có tới một nửa chỉ tới thăm Colosseum, biến đấu trường La Mã thành địa danh đón nhiều khách du lịch nhất.

Du lịch là nguồn thu lớn của Rome bởi khách du lịch thường phải trả phí cao cho phòng khách sạn, đồ ăn, cũng như nhiều chi phí khác khi lưu trú tại đây. Mới đây, một loại thuế mới vừa được áp cho những người nghỉ qua đêm tại thành phố nổi tiếng nhất nước Ý này.

Cuộc chiến giữa “Thành phố vĩnh cửu” với đồ ăn và thức uống không phải là chuyện mới. 6 năm trước, chính quyền Rome cũng như các thành phố cố khác của Ý như Venice, Bologna, Florencecũng đã từng áp dụng 1 chính sách tương tự để tăng cường ý thức bảo vệ di sản của khách thăm quan. Năm 2010, một cặp đôi đã bị phạt hơn 400USD chỉ vì đã ngồi trên lối đi vào một đài kỷ niệm ở Vigevano gần Milan.

Các thành phố ở Ý cũng đã từng áp dụng những lệnh cấm khác nhau để bảo vệ các di sản và thắng cảnh đẹp.

Chính quyền Eraclea, thành phố biển nằm gần Venice cũng đã từng ra lệnh cấm khách du lịch tạo những lâu đài cát trên bãi biển. Các trò chơi bóng chuyền trên bãi biển cũng bị cấm tiệt. Và nếu đến Cesena, một thành phố ở phía Nam, bạn có thể bị phạt tới 650USD nếu cho mèo ăn. Kể từ năm 1960, những đôi guốc gỗ đã bị cấm sử dụng đối với toàn bộ khách du lịch đến với hòn đảo xinh đẹp Capri.

Nếu chẳng may cho những chú chim bồ câu ở Venice ăn, bạn sẽ phải nộp phạt 65USD.

Hồi đầu hè, rất nhiều người đã lên tiếng phản đối chính quyền Roma vì thông báo họ sẽ gỡ hàng ngàn ổ khóa trên cây cầu Ponte Milvio. Từ năm 2006, các cặp đôi yêu nhau đã tới cây cầu này lưu lại những ổ khóa và ném chìa xuống sông. Chính quyền Rome cho hay họ sẽ cử người gác ở đây cả ngày lẫn đêm để ngăn không cho những hành động phá hoại thành phố tương tự diễn ra.

Linh Anh – Theo TIME, Telegraph

Du lịch Việt Nam: 3S, 4S hay du lịch SOS

Cái khó khi viết về du lịch nội địa Việt Nam thì muôn vàn; bởi thực tế, nếu bất cứ ai đã tham gia tối thiểu một ngày-một đêm vào cái chỉnh thể du lịch ấy thì cũng thấy hàng ngàn thứ bất cập. Nhưng tôi không đề cập vào những cái khó chi li, thuộc chuyện bên ngoài, và nằm trong mối quan hệ giữa dịch vụ du lịch và khách hàng du lịch. Cái bên trong tôi muốn nói, tựu trung lại có 3 cái khó: Thứ nhất, đến từ cơ chế quản lý của nhà nước, quan niệm và cung cấp đối xử, làm việc với du lịch còn quá sơ sài, lạc hậu, thậm chí ấu trĩ… nên ngăn trở sự phát triển. Thứ hai, đến từ chính những người khai thác du lịch, quan niệm về mối quan hệ với khách hàng còn rất nhiều quan liêu, xem như chủ tớ, thậm chí ban phát ân huệ; và hiểu biết của họ về văn hoá, địa lý, lịch sử… thì quá yếu kém nên các cảnh quang, địa điểm du lịch bị phá huỷ, hư hỏng nặng nề. Thứ ba, đây là điều thảm hại nhất, lại đến từ chính những khách hàng, họ cứ xem địa điểm du lịch như là một cái chợ trời, bỏ vài hào tiền lẻ ra là mặc sức phá phách, lấy cắp và phóng uế bừa bãi; điều này ban đầu chỉ đến với khách nội địa, sau lan sang cả khách Việt kiều và nước ngoài, những người vốn có tiền nhiều hơn, muốn chứng minh sự hiện diện của mình ghê gớm và dữ dội hơn…

Để diễn giải về 3 cái khó này, thiết nghĩ cũng không khó và không còn cần thiết nữa, bởi lâu nay, rải rác trên các báo đài trong và ngoài nước đã đề cập nhiều lần; và cũng đã không thiếu những chi tiết được dẫn chứng, những sự việc được phân tích. Đó là nói về tính nóng của thông tin báo chí, còn về tính thực tiễn của vấn đề, nhắc lại những điều này [một cách giẫm chân tại chỗ] cũng không có ích gì. Việc của những người còn quan tâm, nhận diện và phân tích du lịch nội địa Việt Nam phải làm là gọi tên được hiện trạng của vấn đề, phải nhìn ngắm nó trong một viễn cảnh đang và sẽ xảy ra. Làm được điều này, thì tự nhiên các cái khó bị dồn chân vào mép tường, được phán xét và thay đổi, hay bị triệt tiêu nhanh chóng hơn.

Và vì vậy, cái dễ khi viết về du lịch nội địa Việt Nam cũng là ở điểm này: đụng vào vấn đề nào, nắm lấy chuyện gì, phân tích chi tiết ra sao… cũng được; vì giống như một mảnh đất khai hoang đã lâu nhưng chưa cày cấy, trồng trọt. Bất cứ cái gì hay điểm nhìn nào với du lịch nội địa Việt Nam cũng là thoả đáng và cần thiết. Bởi tất cả còn trong giai đoạn chưa bắt đầu, tươi nguyên và bề bộn nhiều thứ. Trong bài viết ngắn, mà tôi xem là những điều tản mạn này, tôi sẽ tập trung đề cập 2 vấn đề: Một, về kỳ quan du lịch Mỹ Sơn. Hai, về quan niệm du lịch 3S hay 4S của Việt Nam.

1.

Việt Nam chưa có được chục kỳ quan thuộc di sản thế giới, thì 2 trong số ấy nằm trong tỉnh nghèo Quảng Nam, một tỷ lệ rất cao và rất đặc biệt so với 64 tỉnh thành còn lại. Mỹ Sơn, và Hội An [giống như cố đô Huế] là kỳ quan thuộc về con người, do con người tạo ra. Nghĩa là không có tính hên-xui-may-rủi của địa lý trong chuyện này, rủi chăng là do chiến tranh liên miên, do chế độ độc tài xem thường di sản cha ông, xem thường du lịch-dịch vụ nên khiến cho lụi tàn nhanh chóng mà thôi.

Về mặt lịch sử và địa lý, Mỹ Sơn nằm ở một ví trí gần như là trung tâm của đất nước; nơi đây là chứng tích của một thời đại huy hoàng, thánh địa của người Chămpa, mà bước chân thiên di của họ vào tận Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bà Rịa Vũng Tàu… và xa hơn nữa. Điều này là một sức hấp dẫn với các khách du lịch văn hoá, vì không bị tính đứt quãng trên đường đi thăm quan, tìm hiểu. Mỹ Sơn cũng là chứng tích cho ý đồ quảng nam [mở rộng về phương Nam] của cư dân miền Bắc, điều đã diễn ra trước cả thời Lý -Trần và đến tận cả ngày nay, năm 2005. Đi du lịch Mỹ Sơn cũng có nghĩa là đi du lịch Hội An [một sự liên đới], Huế và động Phong Nha… kế cận bên nhau. Chưa nói, với những người có am hiểu và sành điệu, thì khi đến Quảng Nam rồi, ai lại chỉ đi 2 kỳ quan, bởi suối Tiên ở Quế Sơn, đập nước Phú Ninh, suối Mơ ở Đại Lộc, vườn trái cây Đại Bường, suối Đá, Bà Nà, Ngũ Hành Sơn ở Đà Nẵng… cùng với biển Non Nước, Cửa Đợi, Hà Mi, Bàn Thạch… cũng có sức hấp dẫn của nó. Rồi cả chuyện bơi thuyền sông Thu lên Hòn Kẽm Đá Dừng, ăn trái Lòn Bon, dạo chơi các làng nghề, ăn đặc sản… cũng đủ thứ để chọn lựa. Đó là nói về chuyện nội tại, chứ nhìn từ tổng quan của du lịch đất nước, thì Mỹ Sơn cũng giống như phần Nhã Ca [Diễm Ca] tươi mát trong Kinh Thánh, nằm gần chính giữa, giúp người đọc-người thưởng lãm dừng chân thư giãn.

Sau khi xuống sân bay Tân Sơn Nhất, lòng vòng Sài Gòn và các tỉnh lân cận, đi một quãng đường cũng khá dài [khoảng 1000km] thì đến nơi đây, sau đó đi các tỉnh lân cận, rồi cũng một quãng tương tự nữa thì đến Hà Nội, đi loanh quanh, ra sân bay Nội Bài, vào Sài Gòn hoặc rời khỏi Việt Nam, cũng được… Phải nói là các kỳ quan phân bổ cũng khá hợp lý, miền Nam nhộn nhịp, nhiều sức sống thì không cần có kỳ quan, khách vẫn đến, miền Trung khô cằn, bảo thủ thì cần nhiều kỳ quan hơn, nó cũng là cách để nối miền Nam trẻ trung, năng động với miền Bắc già nua, ấu trĩ…; đó cũng là cách để miền Trung nhà quê có thể ngồi chung bàn với hai đồng liêu, một là gã độc tài, một là tên tư bản.

Thế nhưng, Mỹ Sơn đã thực sự còn lại gì, đã làm gì để xứng đáng với tầm vóc và ý nghĩa của mình. Về mặt tâm linh, có thể nói ngay, Mỹ Sơn coi như vứt đi. Tại sao thế? Bởi theo nhiều nhà nghiên cứu tâm linh, sở dĩ vương quốc Chămpa đang hùng mạnh như thế, bỗng chốc thành suy tàn là do Cao Biền [nhà Đại Đường] đã yểm một lá bùa phong-bế [phong toả & bế quan] vào sau lưng núi Quắp, phá đi thế “hổ ngồi” của đất thánh địa, khiến đất “rồng cuộn” phải bay lên, Đại Việt hết rơi vào thế “chó cùng thúc giậu”, Trung Hoa dễ bề thôn tính đất đai và xâm lược, vì có phương Nam để Đại Việt lui về. Dù chuyện này, sử Việt Nam không còn lại gì nhiều nên có phần tranh chấp, và cho dù chúng ta không chấp nê vào chuyện này, nhưng khi nói về tâm linh [nghĩa là có tin vào tâm linh] thì Mỹ Sơn ngày trước, đã một lần bị tổn thương nặng nề. Lần thứ 2 là việc những bức tượng, phù điêu bị đục đẽo, cưa cắt để chuyển ra Cổ Viện Chàm tại Đà Nẵng. Lần thứ 3 [năm 2005] là việc xây dựng Nhà trưng bày Nhật Bản ngay cổng vào Mỹ Sơn, bên Khe Sẻ, và chuyển hết phần tượng, cột đá và phù điêu còn lại vào để trong ấy. Nói như vậy là đã bỏ qua những năm tháng chiến tranh Việt-Mỹ với bao nhiêu bom đạn đã trút xuống; bỏ qua sự thờ ơ, lòng tham và cả sự huỷ diệt của con người, thời gian. Để có thể nói việc làm của Cao Biền là tội đồ của một dân tộc này với một dân tộc-một quốc gia khác, thời trung cổ, chuyện muôn đời, rất khó tránh khỏi. Còn hai việc làm sau, là biểu hiện của một sự xuống cấp trong nhận thức, trong tư tưởng, trong quan niệm, có thể nói là kết quả của một hành động phản động và dốt nát thời hiện đại.

Mỹ Sơn sở dĩ trở thành Mỹ Sơn, là vì ở đó nó có cấu trúc độc đáo về văn hoá, tâm linh, kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật… và cả bối cảnh tự nhiên đặc biệt. Tâm linh và văn hoá đã mất từ lâu, nay kiến trúc thì còn một vài đống gạch, điêu khắc và phù điêu thì chui vào những nơi nhảm nhí như các địa điểm kể trên và bán ra nước ngoài. Nếu bảo tàng và các bộ sưu tập mà có thể thay thế được quang cảnh thật của một khu đền tháp, một thánh địa thì UNESCO công nhận di sản tại xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam để làm gì; khách du lịch tìm đến nơi đây để làm gì. Tại Pháp, vẫn có thể xem qua bảo tàng, Internet hoặc tivi cũng được vậy.

Tình trạng này không chỉ diễn ra với Mỹ Sơn mà còn với tất cả các di sản còn lại tại Việt Nam; Chỉ riêng Hội An là ít thê thảm, bởi ở đây kỳ quan chính là cuộc sống, văn hoá, cách sinh hoạt của người dân, chẳng lẽ phải di cư hay giết hết dân để chiếm di sản làm của riêng, cho vào các bộ sưu tập và bảo tàng. Nếu làm được, tôi e rằng, Hội An cũng đã không tránh khỏi điều này. Tôi cho rằng việc biến di sản lịch sử, di sản công cộng thành của sở hữu cho một cơ quan, một tổ chức hay cho cả tư nhân là hành động của những kẻ hoạn quan và bệnh hoạn, không sử dụng được nhưng vẫn muốn chiếm làm của riêng… Mà thành tựu về tâm linh, văn hoá và mỹ học của một dân tộc, là kết quả tịnh tiến của cả một quá trình bồi đắp, chung sức và ít nhiều hi sinh những thứ thuộc về cá nhân. Hành động của những gã hoạn quan này [mà hiện nay rất phổ biến trên thế giới] là biểu hiện của một nhận thức phản động, một hành động đi ngược về phía man di-mọi rợ. Với lối nhận thức như thế, thử hỏi từ đây về sau, thế giới có còn tạo ra được di sản nữa hay không? Tôi tin là không, và càng không có cơ hội cho các nước nghèo, nơi luôn bị các nước giàu dòm ngó, ngay cả đến một cái trinh tiết mới sinh ra, có thể tạo ra được di sản cho chính mình. Mua bán, chiếm dụng di sản công cộng cũng như chiếm một cái bao cao su xài rồi, tinh trùng thì quý thật, nhưng khi tinh trùng đã đi vào trong bao su và ung huỷ, thì chiếm dụng để làm gì cơ chứ.

Từ sự tư hữu hoá vừa kể, cho chúng ta thấy một hình ảnh về chảy máu di sản, chảy máu chất xám về nhận thức di sản. Nó dường như là một hệ luỵ, tôi không muốn nói là kết quả tất yếu của xã hội hậu thực dân, hậu thuộc địa. Các cá nhân giàu trong nước, trong giới lãnh đạo, các nước giàu bên ngoài vẫn nuôi giữ trong tâm thức mình tư thế của một tên thực dân; với phần nghèo còn lại, không còn cách nào khác, bị đẩy vào tư thế thuộc địa hoá bị động, và cả chủ động. Với đồng tiền, với nghệ thuật… thì đã lấy một số nước làm trung tâm; nay đến văn hoá, tư tưởng và tâm linh, cũng lấy một số nước ấy làm trung tâm, thật là lạ. Lạ hơn cả, là tập nhìn di sản của chính mình qua lăng kính, qua con mắt của người khác. Từ rất lâu rồi, người ta nhìn về Mỹ Sơn và các di sản trong nước qua con mắt của người Pháp, Nga, Nhật và phần phương Tây còn lại. Không có mấy người Quảng Nam hay Việt Nam muốn nhìn Mỹ Sơn trong con mắt của người Chămpa, người Quảng Nam hay người Việt. Thật là, không còn gì lạ hơn, lạ một cách kỳ khôi.

2.

Với một thực trạng như vừa nêu, thì câu hỏi, liệu đi du lịch Việt Nam trong thời buổi này có gì hấp dẫn? Nếu nói có, thì cũng dễ dàng được chấp nhận, vì an ninh tốt, khách mỗi ngày mỗi đông; chưa kể là có hàng tỷ cái nghịch lý và buồn cười, mà ngay một người khách thờ ơ nhất cũng có thể nhận thấy được. Còn nếu nói không, thì không còn gì để bàn thêm.

Vì vậy, trong phần hai bài viết này, tôi sẽ giả định là có rất nhiều hấp dẫn cho nhận thức về du lịch nội địa Việt Nam! Tôi xin lưu ý, ở đây đang nói về nhận thức, chứ không phải là dịch vụ, hay giải trí. Bởi nếu nói về dịch vụ, hay giải trí, thì không có nghĩa lý gì cả, bởi khi đồng tiền xâm nhập vào, dịch vụ tất yếu phải ngày càng chuyên nghiệp hơn, giải trí phải ngày càng sinh động, đa dạng và nhiều khả năng quảng cáo cao hơn.

Tôi muốn nói về quan niệm du lịch của người Việt Nam, họ đang theo tiêu chí 3S hay 4S. Nếu 3S thì chỉ gồm Sea [biển], Sand [đất-cát], và Sun [mặt trời]; nếu 4S thì phải có thêm Sex [tình dục]. Nhiều nước, nhiều nơi như London, Hawaii, Thái Lan, Singapore… còn gia tăng thêm See [tầm nhìn-nhận thức], Soul [tâm linh-sự vi tế], và cả Save [lưu giữ-cứu hộ].

Khi nói về một chữ S nào đấy, nghĩa là chúng ta đang nói về một từ chìa khoá, mà ở đó là một cánh cửa, để liên đới tới nhiều vấn đề có quan hệ chặt chẽ và mang tính hữu cơ khác. Ví dụ khi nói đến Sea, không có nghĩa chúng ta chỉ nói đến bờ biển, tắm biển hay bãi biển, mà chúng ta còn nói tới các món ăn hải sản, các nhà hàng chuyên đồ biển danh tiếng, các resort ven biển, các trò chơi và cả các con sông đổ ra biển… Chưa nói, với những khách cao cấp hơn về nhận thức, người ta còn làm một so đo về lối sống, về văn hoá của một xứ có biển với xứ không có biển, hay vùng núi cao, hoang mạc. Nếu nhìn với tiêu chí và sự quán chiếu rộng lớn như thế này, thì người Việt Nam, mà cụ thể là những người làm du lịch Việt Nam chưa thông suốt và chưa làm đúng với bất kỳ chữ S nào.

Để thấy rõ hơn, vì đang nói về Sea, chúng ta chỉ cần đặt ra câu hỏi, du lịch Sea có đi đôi với Save, hay được Save hỗ trợ chu toàn chưa? Thì câu trả lời sẽ cho ta biết Việt Nam có đạt được trình độ du lịch Sea chưa? Sông ngòi và bờ biển thì ngày càng ô nhiễm, các đặc sản thì kiệt quệ, các phương tiện để thưởng thức Sea thì không đủ an toàn, hay chưa có cả phương tiện an toàn. Có gì làm nấy, như kiểu của trong kho xài dần, vô lo vô nghĩ; đâu biết rằng, kho thì rất nhỏ, chẳng bao lâu thì sẽ sạch nhẵn. Nguy hiểm hơn là chuyện trong tâm thức, những người làm du lịch cứ nghĩ rằng, Việt Nam vĩ đại lắm, đẹp lắm, hấp dẫn lắm… cần gì phải lo chu toàn, tôn tạo, khách sẽ tự khắc tìm đến. Tạo điều kiện chính quy cho khách được đến là ban ân huệ cho họ rồi. Đâu biết rằng đó là suy nghĩ cực kỳ quan liêu, thậm chí, ấu trĩ-ngu xuẩn. Bởi một thực tế cho thấy rằng, ví dụ như Mỹ Sơn, số lượng khách đến tham quan ngày một nhiều, nhưng trong số khách đó, thì có được mấy phần trăm đến lần thứ hai, chứ đừng nói nhiều lần sau nữa. Bởi hai lý do: Một, như ở phần đầu bài viết, đó là do họ biết rằng mình đã bị lừa, cái cần xem đâu còn để mà xem. Hai, điều này cũng thực tế hơn, là yếu tố Sun đã không được khai thác và phục vụ đúng-đủ nhu cầu tối thiểu. Khách du lịch xa phải đi từ các khách sạn ở Hội An, Đà Nẵng là gần nhất, để đến một nơi mà cái nóng và oi bức thật kinh khủng, [ngay cả mùa mưa cũng oi vì nằm trong thung lũng] vậy mà trong bán kính khoảng 15-20 cây số, không có một điểm dừng chân nào tỏ ra đủ chất lượng tương xứng để giải nhiệt, để xả hơi, thư giãn… chứ chưa nói ngủ qua đêm. Đúng, Mỹ Sơn là thánh địa, những chẳng lẽ xung quanh đó hàng chục cây số cũng phải chịu áp lực thánh địa, mà đâu phải khách nào cũng đến để hành hương, chẳng lẽ họ không được quyền nhận được những nhu cầu tối thiểu, dù từ xa, cách thánh địa 10-15 cây số. Đó là chưa nói, Mỹ Sơn là nơi nhất thiết phải kết hợp tối thiểu thêm 3S: Sun, Sand và Save… thì mới hi vọng giữ được khách qua đêm, đến lần thứ hai và có thể giới thiệu cho nhiều người khác cùng đến. Điều này có thể được chứng thực bởi Hội An, cách Mỹ Sơn khoảng 1 giờ đi xe thôi, vậy mà khách đến đây lần thứ 2, thứ 3, thậm chí nhiều lần… rất nhiều. Bởi ở đây, dù cũng chưa được quan niệm đúng về tiêu chí các S, nhưng do điều kiện tự nhiên và lịch sử, nó có những cái S vô hình. Cảm nhận được cái S vô hình này nên người ta đến. Đến để biết thế nào là Sea, Sand, Sun ở Hội An, và cả Sex “mờ” [không công khai] nữa. Và tất nhiên, do quy luật kéo theo, 4S này cũng được hỗ trợ chu đáo hơn của Soul và Save.

Người Hội An, có lẽ do truyền thống giao lưu nhiều thế kỷ, nên ứng xử có phần tinh tế, nhã nhặn với du khách hơn phần Quảng Nam thộ kệch và quá thật thà còn lại. Điều này làm cho du khách có cảm tưởng người dân Hội An có hồn [Soul] và sự vi tế [Soul] hơn nhiều nơi khác. Khi nói về điều này, hiển nhiên tôi đang nói về sức mạnh bản năng tiềm tàng của mỗi địa điểm du lịch, chứ không phải nói về trình độ vươn tới các đẳng cấp hay tôn chỉ của từng chữ S. Nhiều người sẽ khó đồng ý với quan điểm này, nhưng thực tế cho thấy, đâu phải người ta chỉ đi du lịch vì dịch vụ; mà yếu tố kích thích hơn, là tìm đến những nơi mình chưa biết, yếu yố See trong du lịch luôn rất quan trọng, và giữ vai trò tiên phong… Đến để thoả mãn See [tầm nhìn] và đến để xem nơi mình đến có được chiến lược về nhận thức tầm nhìn không… luôn là câu hỏi trong vali của mỗi người khách, khi quyết định mình sẽ đi đâu đó. Bởi du lịch, ban đầu, được sinh ra từ yếu tố tìm đến để thoả mãn See, và See sinh ra các dịch vụ để thoả mãn các nhân tố tìm đến. Một sự phản ứng dây chuyền, có tính vòng tròn và một cách ứng xử rất tự nhiên. Tuy nhiên, ngày nay, sự ứng xử tự nhiên không còn tỏ ra phù hợp và có thể chấp nhận được với những địa điểm du lịch đã có lịch sử dịch vụ của mình. Ví dụ như Mỹ Sơn, hay Hội An. Tại sao không? Bởi dễ hiểu một điều là, người ta có thể đi du lịch sa mạc với một cái lều cùng những vật dụng thiết yếu khác để ngủ bên một ốc đảo, chứ không thể đến một nơi như Hội An cùng với những thứ đó. Đến với Hội An, không phải chỉ thoả mãn với yếu tố See [nhìn], mà còn phải có Sea, Sun, Sand, Save, và cả Sex nữa. Còn đến với Mỹ Sơn, mỗi yếu tố See thôi, cũng chưa chu toàn được…; vì thế, Mỹ Sơn luôn là câu chuyện cần được kể và là điều đáng để nói nhất.

***

Nói ra những điều như vậy, không phải để phủ nhận hay xua đuổi lượng khách đến Mỹ Sơn nói riêng, và Việt Nam nói chung, ngày một đông. Mà là, để kích thích nhận thức của những du khách khi tìm đến Việt Nam, nhất là người Việt ở hải ngoại, ngày càng có nhiều điều kiện và cơ hội để trở về. Khi là du khách, hãy nhớ một điều là, chính bạn là nhân tố quyết định đến trình độ và chất lượng của những nơi bạn đến. Đừng để rơi vào tình trạng khẩn cấp như Save Our Sea, Save Our Sun, Save Our Sand, Save Our See, Save Our Space, Save Our Sex, Save Our Sin, Save Our Soul… như nhiều nơi khác trên thế giới; rồi mới lên tiếng, và tìm cách khắc phục. Nếu bạn không lên tiếng, mọi sự sẽ băng hoại và đổ vỡ.

Với Mỹ Sơn, hay bất kỳ địa điểm du lịch nào khác cũng vậy, trong bối cảnh mới, tôi tin rất khó để tránh khỏi tình trạng vực thẳm trong ý thức đầu tư và thực thi tiêu chí du lịch, bởi vực thẳm ấy đang nằm ngay dưới chân.

Đừng để tình trạng thờ ơ, tự nhiên chủ nghĩa xô chúng ta xuống vực thẳm sẵn có. Hãy cứu lấy sự buồn rầu trong nhận thức và hành động.

Với du lịch nội địa Việt Nam, tôi tin chúng ta đã qua giai đoạn để tranh cãi 3S hay 4S; qua giai đoạn lấp liếm và từ chối một S nào đó, như Sex chẳng hạn; để đồng thanh kêu lên: HÃY CỨU LẤY SỰ BUỒN RẦU CỦA CHÚNG TA [Save Our Sorrow]… , vì nó đang xâm chiếm từng giây từng phút môi trường du lịch.

 

Lý Đợi

Xin lỗi

“Hãy để cám ơn và xin lỗi trở thành hai từ thông dụng trong cuộc sống hàng ngày của ta.”
“Có một món trang sức rất giản dị nhưng vô cùng quá giá, làm tăng thêm nét duyên dáng, thanh lịch cho những ai luôn mang nó bên mình. Đó là lời cảm ơn. Sức mạnh bí ẩn của lời cảm ơn chân thành chính là sự thanh thản, niềm vui bé nhỏ từ cuộc sống. Lời cảm ơn còn là một toa thuốc để trị bệnh lo âu, hồi hộp…”
– Dè sẻn lời cảm ơn
Vậy mà có một thời, lời cảm ơn đựoc dùng rất dè sẻn, thậm chí còn bị coi là biểu hiện của tính cách tiểu tư sản trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Ngày nay, xã hội phát triển, phép xã giao đựoc coi trọng, lời cảm ơn là biểu hiện của sự văn minh trong giao tiếp. Không ai có thể thống kê đuợc, ở những nước văn mình, một ngày có bao nhiêu từ cảm ơn được nói ra…Nhưng chắc chắn, đó là từ thông dụng nhất.
Ở ta, từ cảm ơn được nghe rất nhiều trong các cuộc họp: cảm ơn sự có mặt của cấp trên, của quý vị đại biểu, cảm ơn sự chú ý của mọi người…Nhưng đó chỉ là những lời cửa miệng, khô cứng, sáo mòn và không có cảm xúc. Chỉ có lời cám ơn chân thành, xuất phát từ đáy lòng, từ sự tôn trọng nhau bất kể trên dưới mới thực sự là điều cần có cho một xã hội văn minh. Người ta có thể cám ơn vì những chuyện rất nhỏ như được nhường vào cửa trước, được chỉ đường khi hỏi… Ấy là chưa kể đến nhưng chuyên lớn lao như cám ơn người đã cứu mạng mình, những người thân đã chìa tay giúp đỡ mình trong cơn hoạn nạn … Những lúc đó, lời cám ơn còn có nghĩa là đội ơn.
– Vắng bóng từ Xin Lỗi
Nhưng còn một từ nữa cũng thông dụng không kém ở các xứ sở văn minh là Xin lỗi. Ở những nơi công cộng, người ta hết sức tránh chen lấn, va chạm nhau. Nếu cò ai đó vô ý khẽ chạm vào người khác, lập tức từ xin lỗi được bật ra hết sức tự nhiên. Từ xin lỗi còn được bật ra hết sức tự nhiên. Từ xin lỗi còn được dùng cả khi không có lỗi. Xin lỗi khi xin phép nhường đường, xin lỗi trước khi dừng ai đó lại hỏi đường hay nhờ bấm hộ một kiểu ảnh. Tóm lại, khi biết mình có thể làm phiền đến người khác dù rất nhỏ, người ta cũng đều xin lỗi.
Hiển nhiên, xin lỗi còn được thốt ra trong nhữnhg lúc người nói cảm thấy mình thực sự có lỗi. Từ xin lỗi ở đây đi kèm với một tâm trạng hối lỗi, mong được tha thứ hơn là một cử chỉ văn minh thông thường. Đôi khi, lời xin lỗi được nói ra đúng nơi, đúng lúc còn có thể xóa bỏ biết bao mặc cảm, thù hận, đau khổ…Người có lỗi mà không biết nhận lỗi là có lỗi lớn nhất. Bởi vậy, Công giáo mới có lễ xin tội. Xem ra sức mạnh của từ Xin lỗi còn lớn hơn Cám ơn. Vậy mà Xin lỗi trong xã hội ta còn ít thông dụng hơn cả Cám ơn. Sở dĩ như vậy vì nhiều người còn có tâm lý cho rằng xin lỗi là hạ mình. Chỉ có kẻ dưới mới xin lỗi người trên (con cái xin lỗi cha mẹ, cấp dưới nhận lỗi với cấp trên) chứ ít khi ngược lại. Đó là tàn dư của xã hội phong kiến, một xã hội mà vua, quan không bao giờ xin lỗi dân. Nếu có làm chuyện sai trái, thì hãy để vua quan tự sửa mình, tự rút kinh nghiệm chứ không có chuyện hạ mình xin lỗi dân. Từ xin lỗi chỉ có thể thông dụng trong một xã hội dân chủ, văn minh, nơi con người biết tôn trọng nhau.
Nếu toa thuốc Cám ơn có thể trị bệnh lo âu, hồi hộp, sộ sệt thì toa thuốc Xin lỗi có thễ trị được bệnh tự cao tự đại, coi thường người khác. Vì thế, hãy để Cám ơn và Xin lỗi trở thành hai từ thông dụng trong ngôn ngữ hàng ngày của chúng ta.

Bí ẩn mộ cổ Hàng Gòn

 

Di tích Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, TX.Long Khánh, Đồng Nai) được phát hiện và khai quật từ những năm 1927. Xoay quanh về ngôi mộ cổ này vẫn đang thu hút sự quan tâm của giới khảo cổ học.

Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn do Jean Bouehot (Kỹ sư người Pháp) phát hiện vào năm 1927 khi đang chủ trì công trình mở đường số 2 từ tỉnh Long Khánh (cũ) đi Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là quốc lộ 56). Ngay sau đó, nhiều nhà nghiên cứu của trường Viễn Thông Bác Cổ đã khai quật, thu được nhiều hiện vật đưa về lưu trữ tại Bảo tàng Mossee Blanchard de la Brosse (nay là Bảo tàng lịch sử Việt Nam – TP.HCM).

Mộ của nhân vật quyền uy?

Nhìn từ bên ngoài, mộ cổ có chiều dài 4,2m, ngang 2,7m, cao 1,6m, hình hộp chữ nhật được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương nguyên khối (giống như quan tài bằng đá). Các nhà khoa học đánh giá đây là một di tích độc đáo về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.

 Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn
Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn – Ảnh: Đức Khánh

Vào năm 2006, các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội vùng Đông Nam bộ và Ban quản lý di tích – danh thắng Đồng Nai phối hợp mở đợt điều tra nghiên cứu. Qua đó, các nhà khoa học phát hiện nhiều dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại, các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện 2 chiếc tù và bằng đồng; 2 chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo… Tiếp đến năm 2007, đoàn khảo sát khai quật, tiếp tục tìm thấy nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro. Đặc biệt, trong xưởng chế tác đá (đã tìm thấy trước đó-PV) đoàn khảo sát phát hiện những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động. Qua đó, các nhà khoa học cho rằng, người xưa đã vận chuyển những khối đá lớn về Hàng Gòn để gia công tạo ra những tấm đan, cột đá sử dụng cho kiến trúc mộ. Các nhà nghiên cứu đưa ra dự đoán cho rằng, chủ nhân của Mộ Cự thạch là một nhân vật quyền uy, là thủ lĩnh của một bộ lạc hay liên minh các bộ lạc hùng mạnh về kinh tế và quân sự; niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.

Vẫn còn nhiều bí ẩn

Theo các nhà địa chất, 6 tấm đá hoa cương được sử dụng làm mộ chỉ có ở Đà Lạt hoặc Phan Rang (ngày nay). Để di chuyển những khối đá lớn hàng chục tấn đi quãng đường xa trên 100km trong điều kiện không có đường thủy lẫn đường bộ là một kỳ tích của những người xây mộ. Sau khi mộ cổ được phát hiện, ông H.Parmentier (Chủ sự Sở Khảo cổ) đã 3 lần khảo sát hiện trường và nhận định rằng đã có một hệ thống ròng rọc để nâng và hạ nắp mộ… Tấm nắp đậy dày khoảng 30 cm, hơi cong, phủ ra khỏi mép các tấm vách (dày và to hơn các tấm đá khác), người ta ước lượng chỉ riêng tấm nắp đậy đã nặng hơn 10 tấn!. “Chiếc hộp bằng 6 tấm đá” này được ghép chặt với nhau bằng hệ thống rãnh đục dưới nắp mộ và tấm đáy. Chỉ bằng những mộng ghép đơn giản như thế nhưng ngôi mộ đã bền vững qua hàng thiên niên kỷ. Hai bên mộ còn có 2 hàng trụ bằng đá hoa cương và sa thạch (2 trụ đá hoa cương có tiết diện hình chữ nhật cao 7,5m và 10 cột sa thạch có tiết diện hình chóp cao từ 3m đến 10m), trên đầu các trụ đá đều được khoét lõm hình yên ngựa.

Một giả thuyết được các nhà khoa học đưa ra là: Người Việt cổ đã biết tập hợp nhau lại tạo thành sức mạnh phi thường mới có thể vận chuyển được những cấu kiện bằng đá lớn như vậy, ngay cả đền Angkor (Campuchia) cũng không thấy những tảng đá nặng như thế. Đây là một công trình giống như “thạch tự tháp” của miền văn hóa sông Đồng Nai. Tuy nhiên, điều thú vị là loại đá hoa cương của ngôi mộ này không hề có ở Đồng Nai.

Ngoài sổ sách ghi chép của ông Trần Tử Oai (người 20 năm bảo vệ mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn) và ghi nhận của ngành bảo tàng, khảo cổ học Việt Nam cho thấy: “Từ sau  1975 đến nay, có hàng trăm đoàn khảo cổ học từ các nước đến Hàng Gòn để tìm hiểu, nghiên cứu về quần thể di tích Mộ cổ Cự Thạch độc đáo này. Cũng như có hàng trăm triệu lượt du khách tham quan là học sinh, nhân dân, trong và ngoài nước đến tìm hiểu di tích còn ẩn chứa nhiều điều chưa biết này…”

 

Vào năm 1928, di tích đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử ”mộ Đông Dương – mộ Dolmen Hàng Gòn”. Năm 1984, Bộ VH-TT (Nay là Bộ VH-TT-DL) xếp hạng Mộ Cự Thạch Hàng Gòn vào di tích Quốc gia.

Đức Khánh

Hà Nội và Hội An lọt top 10 điểm đến hấp dẫn nhất châu Á

Đây là bình chọn mới nhất của tạp chí Smart Travel Asia (Hong Kong), một tạp chí uy tín về du lịch. Trong đó Hà Nội xếp thứ 6 còn Hội An xếp thứ 7.

 

%post title% title
Smart Travel Asia bình chọn ở rất nhiều hạng mục khác nhau.

Đứng đầu danh sách này là bãi biển Bali nổi tiếng của Indonesia. Hà Nội xếp ở vị trí thứ 6 – đồng hạng với Kerala (Ấn Độ) và Seoul (Hàn Quốc), trong khi đó Hội An cùng xếp thứ 7 với thành phố Thượng Hải (Trung Quốc).

So với bảng xếp hạng năm ngoái, bảng xếp hạng năm nay cũng không có nhiều thay đổi. Năm ngoái, Hà Nội và Hội An vẫn xếp vị trí lần lượt là 6 và 7.

Mặc dù đây là bảng xếp hạng do độc giả bình chọn nhưng rất đáng tin cậy. Ngoài hạng mục điểm đến hấp dẫn nhất, độc giả còn tiến hành bình chọn, đánh giá khách sạn tốt nhất, thành phố kinh doanh tốt nhất, sân bay tốt nhất, hãng hàng không tốt nhất… của khu vực châu Á.

%post title% title
1. Bali, Indonesia.
%post title% title
2. Phuket, Thái Lan.
%post title% title
3. Hong Kong.
%post title% title
4. Đền Angkor, Campuchia.
%post title% title
5. Thủ đô Bangkok, Thái Lan.
%post title% title
6. Thủ đô Hà Nội, Việt Nam.
%post title% title
7. Phố Cổ, Hội An.
%post title% title
8. Rajasthan, Ấn Độ.
%post title% title
9. Bãi biển Goa, Ấn Độ.
%post title% title
10. Bãi biển Koh Samui, Thái Lan.

 

Nguồn: Infonet