Sổ tay hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam

Trong bối cảnh du lịch sinh thái đang ngày càng phát triển và nhận được nhiều sự quan tâm, cuốn “Sổ tay hướng dẫn phát triển du lịch sinh thái tại Việt Nam” ra đời sẽ giúp các nhà quản lý và điều hành du lịch sinh thái trong việc nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ; giúp các đơn vị quản lý điểm du lịch hiểu biết đầy đủ hơn về các tiêu chí, qui trình và thủ tục hành chính để công nhận danh hiệu điểm du lịch sinh thái. Đây còn là nguồn tài liệu tham khảo bổ ích cho việc khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên tại các điểm du lịch, các nhà nghiên cứu, giáo viên, sinh viên ngành du lịch…

Tài liệu này được hoàn thành với sự hỗ trợ tài chính của Cơ quan hợp tác phát triển Quốc tế Tây Ban Nha (AECID) và chỉ đạo về chuyên môn của Tổng cục Du lịch (VNAT), Viện Nghiên cứu phát triển du lịch Việt Nam (ITDR) và Công ty Cổ phần Viện du lịch bền vững Việt Nam (ART VIET NAM). Nội dung cơ bản (tóm tắt) được đề cấp trong cuốn Sổ tay này:

Tổng quan về du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái (DLST) là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hoá địa phương, có sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững (Theo Điều 4, Chương I của Luật Du lịch).

Du lịch sinh thái cần đáp ứng ít nhất 2 trong 4 nguyên tắc sau:

1. Diễn ra trong các khu vực thiên nhiên được bảo vệ hay ít bị tác động, với những hệ sinh thái đặc sắc, tính đa dạng sinh học cao và tồn tại ít nhất một loài sinh vật quý hiếm, nguy cấp, có trong danh mục Sách Đỏ Việt Nam hoặc thế giới.

2. Gắn với mục đích bảo tồn, vì vậy thường được tổ chức cho các nhóm nhỏ; sử dụng cơ sở vật chất hạ tầng kỹ thuật, phương tiện, tiện nghi quy mô nhỏ và thân thiện với môi trường; không làm thay đổi tính toàn vẹn và quá trình diễn tiến tự nhiên của hệ sinh thái hay không làm suy giảm đa dạng sinh học; khuyến khích các cơ chế tạo nguồn thu từ DLST và sử dụng chúng để đầu tư cho công tác bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường.

3. Có tính giáo dục cao, không chỉ đối với du khách mà cả với ngành du lịch và cộng đồng địa phương.

4. Góp phần phát triển kinh tế địa phương, thu hút sự tham gia tích cực và đem lại lợi ích tối đa cho cộng đồng dân cư bản địa nơi diễn ra các hoạt động DLST.

Đa dạng sinh học là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái đại dương và các hệ sinh thái thủy vực khác cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó. Như vậy, đa dạng sinh học được xem xét theo 3 mức độ:

1. Đa dạng sinh học ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn đến các loài động, thực vật và các loài nấm.

2. Ở cấp quần thể đa dạng sinh học bao gồm sự khác biệt về gen giữa các loài, các quần thể sống cách ly nhau về địa lý và các cá thể cùng chung sống trong một quần thể.

3. Đa dạng sinh học còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã, nơi các loài sinh sống và các hệ sinh thái nơi các loài cũng như các quần xã sinh vật tồn tại, và sự khác biệt của các mối tương tác giữa chúng với nhau.

Khu bảo tồn thiên nhiên là một vùng đất hay vùng biển chỉ dành cho mục đích bảo vệ và duy trì sự đa dạng sinh học, các tài nguyên tự nhiên và văn hóa kèm theo, và được quản lý bởi các công cụ pháp lý hay tương đương khác. Có 6 nhóm khu bảo tồn thiên nhiên gồm:

1. Khu bảo vệ nghiêm ngặt, khu dự trữ nghiêm ngặt và khu thiên nhiên hoang dã

2. Khu bảo tồn và bảo vệ hệ sinh thái

3. Khu bảo tồn các đặc điểm thiên nhiên

4. Khu bảo tồn bằng biện pháp quản lý tích cực

5. Khu bảo tồn cảnh quan và giải trí

6. Khu sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên

Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế – xã hội và môi trường.

Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch.

Khu du lịch sinh thái là một đơn vị lãnh thổ có quy mô nhất định, có hoặc tổ chức khai thác tài nguyên du lịch sinh thái, có định hướng, quy hoạch phát triển, có cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phù hợp để phát triển du lịch sinh thái, thỏa mãn được nhu cầu chuyên biệt của khách du lịch sinh thái.

Điểm du lịch sinh thái  là nơi có tài nguyên du lịch tự nhiên đặc sắc, có tính đa dạng sinh học cao, thường nằm trong các khu bảo tồn thiên nhiên, có khả năng khai thác phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu học tập và nâng cao nhận thức về môi trường thiên nhiên của khách du lịch.

Sức chứa = Diện tích khu vực/Tiêu chuẩn trung bình cho mỗi cá nhân. Sức chứa sẽ khác nhau tùy theo mối quan hệ của nó với du lịch, bao gồm:

– Sức chứa tâm lý: là mức độ hài lòng của du khách với những trải nghiệm của mình và tạo ý muốn quay lại.

– Sức chứa sinh học: là khả năng không ảnh hưởng đến các hệ sinh thái, đến sự tồn tại và phát triển bình thường, bền vững của các loài động, thực vật và con người tại điểm du lịch sinh thái.

– Sức chứa xã hội: là mức độ đồng ý của cộng đồng với hoạt động du lịch và chấp nhận du khách.

– Sức chứa hạ tầng: là điều kiện của cơ sở hạ tầng nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch sinh thái.

Tác động của du lịch sinh thái

– Đối với kinh tế: thị trường không ngừng được mở rộng, doanh thu tăng; chất lượng thị trường cao; tăng trưởng ổn định, bền vững; tạo công ăn việc làm, cải thiện đời sống cộng đồng; nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, qua đó giảm thiểu những thiệt hại về tài nguyên môi trường, giảm gánh nặng khắc phục hậu quả cho xã hội; góp phần phát triển các ngành nghề khác.

– Đối với văn hóa: bảo tồn sự nguyên vẹn các giá trị văn hóa, góp phần gìn giữ, tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống của điểm đến.

– Đối với môi trường: bảo vệ, giữ gìn sự trong sạch của môi trường tại các điểm du lịch; nâng cao nhận thức của các thành phần xã hội trong việc bảo vệ môi trường chung.

Vai trò của các bên liên quan trong hoạt động du lịch sinh thái

– Đối với cơ quan quản lý:

+ Chính phủ: điều phối chung; ban hành các chính sách ở tầm vĩ mô; xây dựng chiến lược, quy hoạch; hỗ trợ địa phương, cộng đồng; hỗ trợ doanh nghiệp; xây dựng quỹ quốc gia về du lịch sinh thái.

+ Chính quyền địa phương: có chính sách và định hướng phát triển rõ ràng; lập và quản lý thực hiện quy hoạch phát triển; có cơ chế hỗ trợ các nhà đầu tư, các doanh nghiệp trên địa bàn; cam kết và xác lập cơ chế rõ ràng đối với việc tham gia của cộng đồng, hỗ trợ phát triển cộng đồng; kiểm tra, giám sát sự phát triển.

+ Các ban quản lý khu du lịch: quản lý bảo vệ tài nguyên môi trường điểm du lịch; lập quy hoạch phát triển điểm/khu du lịch trên nguyên tắc công khai, minh bạch và có sự tham gia của cộng đồng; quản lý thực hiện nghiêm túc quy hoạch; xây dựng quy chế, quy định rõ ràng về trách nhiệm của các đối tượng tham gia hoạt động du lịch sinh thái.

– Đối với doanh nghiệp: có phương án kinh doanh phù hợp; có năng lực thật sự về vốn và nguồn nhân lực; có cam kết trách nhiệm rõ ràng về đóng góp bảo tồn và hỗ trợ phát triển cộng đồng.

– Đối với cộng đồng địa phương: cam kết tuân thủ pháp luật, các chủ trương của chính quyền trung ương và địa phương; chủ động tham gia vào quá trình phát triển du lịch sinh thái từ khâu quy hoạch cho đến khâu quản lý vận hành khu du lịch; có trách nhiệm trong việc bảo tồn gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống địa phương; có thái độ thân thiện, giúp đỡ khách du lịch.

– Đối với du khách: tôn trọng tập quán truyền thống văn hóa địa phương; có ý thức trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường của điểm đến; tham gia các hoạt động hỗ trợ đóng góp cho bảo tồn và phát triển cộng đồng tại điểm/khu du lịch.

Hệ thống tiêu chí thẩm định, công nhận điểm du lịch sinh thái tại Việt Nam

Nhóm tiêu chí tài nguyên

– Có đa dạng sinh học cao

– Cảnh quan môi trường hấp dẫn

– Các điều kiện khí hậu thích hợp

– Các di tích có giá trị đặc sắc

– Văn hóa bản địa đặc sắc

– Vị trí thuận lợi, tiếp cận thuận tiện.

Nhóm tiêu chí cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật

– Giao thông thuận tiện

– Hệ thống cấp điện, nước bền vững, an toàn

– Hệ thống thu gom, xử lý rác, nước thải phù hợp với quy mô điểm du lịch.

– Các công trình dịch vụ du lịch thân thiện, hài hòa

Nhóm tiêu chí về môi trường

– Giáo dục môi trường

– Bảo vệ môi trường

Nhóm tiêu chí tổ chức quản lý bền vững

– Có chính sách hỗ trợ phát triển, bảo tồn du lịch sinh thái

– Có quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch

– Có bộ máy quản lý năng lực theo đúng chuyên môn

– Nguồn vốn phát triển công khai, minh bạch, đúng mục đích

Nhóm tiêu chí sản phẩm dịch vụ

– Dịch vụ tham quan

– Dịch vụ cắm trại

– Dịch vụ nghỉ dưỡng

– Dịch vụ hội nghị, hội thảo

– Phục vụ khách tìm hiểu, nghiên cứu

Quy trình thẩm định công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 1: xây dựng hồ sơ, đề án đề nghị công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 2: cấp quản lý có thẩm quyền tổ chức thẩm định công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 3: cấp quản lý có thẩm quyền tiến hành thẩm định đánh giá hồ sơ, đề án công nhận điểm du lịch sinh thái

– Bước 4: cấp quản lý có thẩm quyền quyết định điểm du lịch sinh thái

– Bước 5: cấp quản lý có thẩm quyền quyết định công nhận Ban quản lý điểm du lịch sinh thái.

Hướng dẫn xây dựng đề án công nhận điểm du lịch sinh thái

– Phần 1: giới thiệu (bao gồm: đặt vấn đề, căn cứ pháp lý, căn cứ khoa học)

– Phần 2: mục tiêu, phạm vi phân vùng chức năng điểm du lịch sinh thái

– Phần 3: cơ cấu tổ chức điểm du lịch sinh thái

– Phần 4: đánh giá hiện trạng hoạt động du lịch tại điểm du lịch

– Phần 5: đánh giá mức độ đạt được theo các nhóm tiêu chí của điểm du lịch sinh thái

– Phần 6: đánh giá hiệu quả của điểm du lịch sinh thái

– Phần 7: kết luận và kiến nghị

– Phần 8: phụ lục (các phụ lục kỹ thuật có liên quan)

Phạm Phương (TITC)

Người nước ngoài làm sạch Hồ Tây

Chui vào gốc cây, bụi rậm nhặt từng túi nilon, mẩu giấy, miếng kính vỡ, ống kim tiêm…, rất đông các vị phụ huynh và học sinh nước ngoài đã tích cực tham gia chiến dịch làm sạch Hồ Tây (Hà Nội) nhân Ngày Trái Đất 22/4.

Ngày làm sạch Hồ Tây là một hoạt động thường niên hưởng ứng Ngày Trái Đất do một trường quốc tế tại Hà Nội tổ chức. Ngoài các phụ huynh học sinh nước ngoài, cũng có nhiều tổ chức, sinh viên người Việt tham gia. Đây là năm thứ hai diễn ra hoạt động này. Năm ngoái, chương trình thu hút hơn 200 người. Năm nay, con số này đã lên đến hơn 400.
9h30 chủ nhật chương trình mới bắt đầu nhưng ngay từ sáng sớm rất nhiều người đã tập trung trước khuôn viên trường để chuẩn bị tư trang cần thiết. Hơn 10 đội, mỗi đội từ 15 đến 20 người dọn 10 điểm xung quanh hồ. Những điểm ở xa có xe đưa đón.
Ban tổ chức chuẩn bị hơn 500 đôi găng tay và túi nilon cho người tham gia. Bác sĩ một bệnh viện quốc tế trực tiếp hướng dẫn mọi người các biện pháp an toàn.
Anh ManFred (Đức) chui vào gốc cây nhặt rác. Cầm cái que nhỏ, anh đảo từng lớp lá lấy lên tất cả những rác khó phân hủy. Chỉ vài phút sau đó, anh đã gom được cả túi đầy.
“Con trai tôi học ở trường này nên bố con tôi nhiệt tình tham gia vào hoạt động này. Tôi phải chui vào gốc cây này để nhặt vì người ta vứt rất nhiều nilon”, anh Joy (New York) cho biết.
Các em học sinh cũng hăng hái gia nhập vào đội quân bảo vệ môi trường. Mặc dù còn rất nhỏ nhưng các em tự tay đeo găng, nhặt rác rồi tập kết về một điểm…
Chị FiliPa (Bồ Đào Nha) dẫn theo hơn 10 em nhỏ nhặt rác suốt dọc đường Tô Ngọc Vân. Có lúc thu được cái chai và mẩu sắt vụn, chị mang cho cửa hàng đồng nát gần đó.
Thậm chí, một mẩu giấy đã bám chặt vào đất, chị dùng chân đạp cho bung ra rồi vơ nó cho vào túi, đổ lên xe chở rác.
Mất gần nửa tiếng nhóm của chị mới nhặt xong những chai lọ, bóng đèn vỡ trong một bụi cây. “Cô Filida nói rằng những mảnh sành này sắc và rất nguy hiểm nên cần phải nhặt hết để tránh ai đó giẫm phải”, cậu học sinh Trần Nguyễn Anh Quân nói.
Ông MaRin và vợ (Anh) sống ở xóm Chùa, Hồ Tây tâm sự: “Năm nào tôi cũng tham gia vào ngày làm sạch Hồ Tây. Ai cũng biết Hồ Tây đẹp nhưng cũng như nhiều nơi khác, nó có rất nhiều rác”.
Không chỉ làm sạch ở vệ đường, nhiều người nước ngoài còn nhặt rác ven và dưới lòng hồ.
“Cả công ty tôi đều tham gia vào sự kiện này. Các phụ huynh nào đưa con mình đi để giúp các cháu năng động, sớm hình thành ý thức bảo vệ môi trường”, chị Nhung (nhân viên một công ty du lịch) chia sẻ.
“Năm ngoái, chúng tôi có 2 gia đình nhưng năm nay đã có 6 gia đình tham gia ngày này. Nhờ có chương trình mà các gia đình có thêm một hoạt động cuối tuần bổ ích. Các cháu nhỏ được giáo dục để yêu trái đất, yêu môi trường”, chị Doãn Minh Hoài (thành viên Câu Lạc Bộ EC2) cho biết.
Song song với hoạt động của sự kiện này còn có sự ra mắt Câu Lạc Bộ Bike Free – một tổ chức khuyến khích sử dụng xe đạp khi tham gia giao thông.

Phan Dương

Định hướng phát triển du lịch Cần Giờ đến năm 2015

Cần Giờ là vùng đất hội tụ nhiều đặc điểm để phát triển du lịch sinh thái và cũng là huyện duy nhất của thành phố Hồ Chí Minh có rừng ngập mặn với các khu, điểm du lịch kết hợp hai yếu tố rừng và biển thu hút du khách.Với thế mạnh đó, Huyện Cần Giờ xác định mục tiêu phát triển: Tập trung khai thác có hiệu quả các tiềm năng, thế mạnh để phát triển du lịch sinh thái trở thành ngành kinh tế quan trọng có tính đột phá của huyện; phát triển du lịch theo hướng bền vững, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường, giữ gìn sinh thái;nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ du lịch, tạo dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc có tình cạnh tranh cao.

     Đến năm 2015, du lịch sinh thái Cần giờ phấn đầu tổng doanh thu tăng trưởng bình quân hàng năm đạt trên 25%; mức tăng trưởng bình quân về số lượng khách từ 15-20%/ năm; phấn đầu hoàn thành đầu tư mới, nâng cấp và đưa vào khai thác các công trình trọng điểm để phát triển du lịch như: Công trình đầu tư hạ tầng Khu du lịch sinh thái biển Cần Thạnh; Công trình đầu tư hạ tầng Khu du lịch sinh tháo biền Cồng Hòa- Long Hòa; Công trình khu di tích lịch sử căn cứ Rừng sác; Khu di chỉ khảo cổ Giồng Cá Vồ; Bến tàu du lịch Dần Xây- Long Hòa, Tắc Xuất- Cần Thạnh; Công trình xây dựng tuyến đướng và bến tàu Lâm Viên- Đồng Đình; Hoàn thành giai đoạn 1 Khu đô thi lần biển Cần Giờ ( 600 ha).Huyện Cần Giở cũng qui hoạch du lịch trên địa bàn thành 3 khu bao gồm: Khu du lịch lấn biển Cần Giờ 821 ha tại xã Long Hòa; Khu du lịch đã ngoại, nghĩ dưỡng tại xã Long Hòa, quy mô 46.8 ha và Viện dưỡng lão tại xã Bình Khánh 05ha.
     Các sản phẩm du lịch chính của Cần Giờ sẽ là du lịch sinh thái, du lịch nhà vườn, du lịch đường sông, du lịch tín ngưỡng và phát triển mô hình làng nghề truyền thống đưa vào phục vụ du lịch.

Minh Trường

Du lịch trách nhiệm vì sự phát triển bền vững

Ngày nay, khái niệm “Du lịch có trách nhiệm” không là một loại hình du lịch mới, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Bản chất của loại hình du lịch này chứa đựng những đặc trưng của phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên nó mang tính phổ quát, định hướng cao hơn và thậm chí điều chỉnh tất cả các loại hình du lịch khác nhằm hướng mục tiêu phát triển ngành du lịch đạt tới sự hài hòa, đem lại lợi ích bình đẳng cho tất cả chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch. Đồng thời, nó góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ cho việc tạo dựng nên một môi trường lành mạnh vì lợi ích kinh tế-xã hội.

Du lịch có trách nhiệm gồm một số đặc trưng cơ bản: Giảm thiểu các tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường; mang lại nhiều lợi ích hơn cho người dân địa phương và tăng thu nhập cho các cộng đồng dân cư điểm đến, cải thiện điều kiện làm việc và tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho ngành du lịch; khuyến khích người dân tham gia vào quá trình quyết định những vấn đề có thể ảnh hưởng tới cơ hội mưu sinh của họ; góp phần tích cực vào việc bảo tồn các di sản tự nhiên và văn hóa, duy trì tính da dạng; mang lại nhiều trải nghiệm thú vị cho khách du lịch thông qua giao tiếp với cộng đồng địa phương, qua đó giúp họ hiểu sâu sắc hơn về văn hóa, xã hội và môi trường bản địa; tạo điều kiện cho mọi người có thể tiếp cận dễ dàng hơn các dịch vụ du lịch; tăng cường sự tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau giữa khách du lịch và cộng đồng điểm đến, tạo dựng niềm tin và tự hào của người dân tại các điểm du lịch. Theo đó, phát triển du lịch có trách nhiệm cần tuân thủ những nguyên tắc chủ yếu sau:

Trách nhiệm về kinh tế:

– Khi phát triển các dự án du lịch, cần phải đánh giá tác động kinh tế, xác định rõ ưu tiên loại hình nào phát triển phù hợp, sẽ mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương và giảm thiểu các tác động tiêu cực tới đời sống của họ, ví dụ: phát triển dự án du lịch có dẫn tới hậu quả  làm tổn hại và cạn kiệt các nguồn lực, tài nguyên? Đồng thời, cũng cần phải xác định rõ phát triển du lịch có phải là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương mình hay không?

– Tăng cường liên kết nhằm khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ hơn của các cộng đồng dân cư vào hoạt động du lịch; giảm thiểu sự thiệt hại trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực; phát triển du lịch gắn chặt với mục tiêu vì người nghèo và hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo.

– Chất lượng sản phẩm du lịch của điểm đến cần phải nêu bật được nét hấp dẫn đặc thù và chú trọng tới giá trị gia tăng.

– Xúc tiến quảng bá du lịch phải đảm bảo tôn trọng tính nguyên vẹn về văn hóa, kinh tế, tự nhiên và xã hội; khuyến khích phát triển các loại hình du lịch phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

– Tôn trọng phong tục, tập quán của cư dân bản địa, kinh doanh bình đẳng, xây dựng giá cả hợp lý và xây dựng mối quan hệ kinh doanh chia sẻ trách nhiệm cả trong rủi ro và thành công. Tuyển dụng và đào tạo nhân viên làm việc có tay nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế.

– Dành hỗ trợ đáng kể cho các doanh nghiệp nhỏ, vừa và cực nhỏ hoạt động trong các lĩnh vực liên quan tới du lịch phát triển theo hướng bền vững.

Trách nhiệm về xã hội:

– Tích cực thu hút cộng đồng dân cư địa phương tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và ra quyết định, nâng cao năng lực để cho họ hiện thực hóa các sáng kiến đề ra.

– Đánh giá tác động xã hội thông qua các chu kỳ vận động dự án, ngay từ khâu lập kế hoạch, thiết kế dự án nhằm giảm thiểu các tác động xã hội và tối đa hóa yếu tố tích cực.

– Biến du lịch là nhu cầu trải nghiệm chung của toàn xã hội, nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi người, đặc biệt la những nhóm người và cá nhân dễ bị tổn thương và thiệt thòi.

– Ngăn chặn lạm dụng tình dục trong du lịch, đặc biệt đối với trẻ em.

– Tôn trọng văn hóa bản địa, bảo tồn và phát huy tính đa dạng về văn hóa và xã hôi.

– Đảm bảo du lịch đóng góp đáng kể vào cải thiện y tế và giáo dục.

Trách nhiệm về môi trường:

– Cần đánh giá tác động môi trường trong quá trình hoạch định và thiết kế dự án du lịch.

– Sử dụng tài nguyên hợp lý và bền vững, giảm chất thải và tiêu thụ quá mức tài nguyên và năng lượng.

– Quản lý đa dạng tự nhiên, sinh thái theo hướng bền vững; phục hồi những khu vực tài nguyên tự nhiên bi xâm hại và xác định rõ các loại hình du lịch gắn với môi trường để có hướng bảo vệ, bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái dễ bị phá hủy và các khu phòng hộ.

– Tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức cho mọi chủ thể về phát triển bền vững.

– Nâng cao năng lực về du lịch cho mọi chủ thể và cần phải tuân thủ những mô hình phát triển du lịch lành mạnh và hiệu quả nhất. Để đạt được mục tiêu trên, cần phải thường xuyên tham vấn các chuyên gia môi trường và bảo tồn.

Phát triển bền vững là xu thế tất yếu của thời đại. Du lịch không những không nằm ngoài tiến trình trên mà còn đóng góp vai trò to lớn và quan trọng vào thực hiện mục tiêu đó. Hầu hết các quốc gia có ngành du lịch phát triển cũng như một số nước đang phát triển trên thế giới  đã và đang tập trung nhiều nỗ lực để phát triển mô hình du lịch này và gặt hái được nhiều thành công. Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nó là nhân tố phát triển và cũng là hệ quả để đảm bảo sự phát triển bền vững. Để có thể hiện thực hóa mục tiêu phát triển du lịch có trách nhiệm, đòi hỏi có tình thần trách nhiệm cao và sự phối hợp chặt chẽ từ mọi chủ thể, cả ngành du lịch lẫn các ngành liên quan. Trong đó, đặc biệt chú trọng mối quan hệ giữa 5 chủ thể chính đó là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cả trung ương và địa phương, cộng đồng dân cư địa phương, các hiệp hội nghề nghiệp trong đó hiệp hội du lịch là chủ đạo, doanh nghiêp du lịch và cuối cùng người khách du lịch. Đồng thời, vì sự nghiệp phát triển du lịch chung, cần phải xây dựng cam kết tập thể ở cấp cao thông qua việc hình thành cơ chế hợp tác chung, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đóng vai trò nòng cốt, với sự tham gia tích cực và thường xuyên của các cơ quan thẩm quyền liên quan, cần có trách nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với từng nhiệm vụ được phân công. Cần phải xây dựng một chiến lược quốc gia riêng về phát triển du lịch có trách nhiệm, từ đó làm cơ sở để thể chế hóa các sáng kiến, nội dung du lịch có trách nhiệm trong các chương trình xây dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, các kế hoạch, quy hoạch du lịch. Bên cạnh đó, việc huy động mọi nguồn lực để triển khai các hoạt động cụ thể cũng không kém phần quan trọng, trong đó đặc biệt là nhân lực và tài lực. Với những định hướng cơ bản trên, vận dụng và thực thi tốt chắc chắn sẽ là những nền móng quan trọng để thúc đẩy ngành du lịch phát triển theo hướng chất lượng, bền vững, có trách nhiệm.

Phương Linh RMIT

Long An bỏ quy hoạch 6 sân golf

UBND tỉnh Long An cho biết trong 8 dự án có mục tiêu sân golf trước đây, đến nay chỉ còn quy hoạch 2 sân golf tại H.Cần Giuộc và H.Đức Hòa.

Trong đó dự án của Công ty CP Việt Hàn tại H.Cần Giuộc, Hội đồng đầu tư tỉnh thống nhất chủ trương thu hồi do chủ đầu tư không triển khai trong thời gian quy định. Đối với dự án này, UBND tỉnh sẽ rà soát lại quy hoạch, nếu còn nhu cầu thì giữ lại quy hoạch để tiếp tục kêu gọi đầu tư, nếu không thì xóa. 6 dự án còn lại, tỉnh Long An đã thu hồi 1 dự án (Công ty Tân Thành Long An liên doanh với Genuwin D&C), chuyển đổi mục tiêu đầu tư 5 dự án (không có sân golf); trong đó tỉnh đã thống nhất chủ trương thu hồi 3 dự án do nhà đầu tư không triển khai trong thời gian quy định (Công ty TNHH một thành viên phát triển Hyoil, Công ty CP đầu tư khu đô thị mới Phú Quang, Công ty TNHH DM LEE).

M.Vọng

Giữ rừng nguyên sinh bên biển

Ai đến làng Lương Nông (xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi) cũng ngạc nhiên khi thấy một cánh rừng rậm rạp bên đồng ruộng và những khu dân cư trên nền cát dọc dài theo bờ biển. Bài học từ cha ông truyền lại đã giúp cư dân Lương Nông giữ được một di sản không dễ có giữa thời biến đổi khí hậu.

 

Một góc rừng Nà đoạn kề đường liên xã Đức Thạnh – Đức Minh – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Ông Phan Văn Tiến với cây trâm to ở rừng Nà – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

Từ thị trấn Thi Phổ trên quốc lộ 1A đi thêm chừng 2km về hướng nam rồi rẽ xuống hướng đông theo đường liên xã Đức Thạnh – Đức Minh chừng 3km là chạm mắt rừng Nà. Cánh đồng lúa xanh tươi được cung rừng dài hàng cây số đứng che bóng, tạo nên một cảnh quan duyên hải hiếm có. Những người chăm lúa, chăn bò bên đồng ruộng chốc chốc lại hướng mắt vào rừng như để nhận ở đó phần nào sự yên lành, mát mẻ.

Rừng đất thấp, ẩm ướt

 

“Xã Đức Thạnh mong có được nguồn vốn trồng thêm những loại cây bản địa vào vùng rìa cũng như những chỗ còn trống trong lòng rừng Nà. Cần phải chăm sóc hơn nữa bởi nói gì thì nói, rừng Nà nay không thể rậm rạp như thời xưa. Rồi phải có cách bảo vệ nghiêm hơn nữa, bởi vẫn có một ít người đêm hôm lẻn vào săn bắt các loài chồn, đào các loại cây làm cảnh như sanh, lộc vừng, làm suy giảm đa dạng sinh học của rừng Nà. Chưa nói đến chuyện làm du lịch, chỉ chuyện rừng Nà cho dân mình nguồn nước, không khí trong lành, mát mẻ, ngăn đón bớt gió bão cũng đã là vô giá rồi” – ông Nguyễn Văn Năm, chủ tịch UBND xã Đức Thạnh, cho biết.

“Cái lạ của rừng Nà này là nằm ở chỗ thấp, bằng phẳng, chỉ cao hơn mặt ruộng chừng một mét. “Nà” là tiếng người ở đây gọi những chỗ đất thấp, ẩm ướt. Bởi vậy nên giữa mùa nắng mà rừng Nà vẫn ẩm ướt, cây cối xanh tươi, có đem lửa đốt cũng không cháy được…” – ông Phan Văn Tiến, cư dân làng Lương Nông, nói khi chỉ vào những ao nước. Vị lão làng 73 tuổi cho rằng rừng Nà có từ rất lâu đời, được cha ông truyền lại như một nguồn của quý, có lợi ích rất lớn với cư dân sống bên rừng.

Cách bờ biển Đức Minh chừng 2km về hướng tây, khu rừng nguyên sinh này là loại hình rừng trên cát ẩm với các chủng loại cây cối khá đa dạng. “Các loại rừng ven biển thường có các loài cây dại thấp chồi, mọc từng lùm. Nhưng ở rừng Nà lại là các loài cây cao chồi, thân to, có loài là gỗ quý, dùng làm nhà, đóng đồ nội thất đều tốt” – phó chủ tịch UBND xã Đức Thạnh, ông Trần Quang Thanh, vừa nói vừa choàng tay ôm một cây trâm to có thể dùng làm cột nhà được. Bên cạnh các loài cây gỗ quý, rừng Nà còn nhiều cây gỗ tạp, phần lớn là cây cao chồi, đặc biệt có nhiều loài dây leo, tầm gởi đeo bám vào cây, gia tăng thêm độ che phủ của tán rừng.

“Dân mình thời trước cậy vô rừng Nà kiếm cành khô nhánh mục làm củi chụm. Rừng hồi đó rộng hơn giờ, dân lại thưa hơn, san sẻ nhau nhà nào cũng có được ít củi dùng trong mùa mưa tháng gió…” – ông Tiến nói.

Rừng Nà cũng là “bãi cá” của người Lương Nông. Lớp bùn tạo từ mùn lá hàng trăm năm là môi sinh của các loài lươn, lạch, cua, cá sống trong bùn. Những ao, lạch nước trong rừng cũng là nơi sinh trưởng của nhiều loài cá nước ngọt, rùa, ba ba. “Mùa mưa cá ngoài đồng, ngoài sông vô ở trong ao, lạch của rừng Nà nhiều có lẽ do mùa đông trong rừng ấm hơn. Còn mùa nắng như bây giờ vẫn có người vô rừng đào lươn, lạch. Nền đất ẩm này chỉ đào xuống chừng vài ba tấc là có nước. Lươn, lạch làm khô ăn ngon lắm…” – ông Thanh giải thích.

Vào sâu trong rừng Nà có cảm giác như đang ở phòng lạnh. Giữa thẳm sâu tịch mịch, dưới tán rừng ken kín, mênh mông, tiếng hót của nhiều loài chim như chào mào, cu gáy, chích chòe, bìm bịp vọng đến. “Ở đây còn nhiều loài chim có quanh năm như két, cò, diệc, chúc huê. Còn mấy loài như vịt nước, cúm núm thì mùa đông mới bay về ở. Rừng Nà có nhiều chim, đêm ngày đều có tiếng chim kêu làm làng xóm thêm vui” – ông Huỳnh Văn Hùng, cán bộ tư pháp xã Đức Thạnh, nhà ở sát bên rừng Nà, kể.

 

Bắt cá ao ở rừng Nà – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

Hương ước bảo vệ rừng

Rừng Nà trông thẳm xanh, tươi đẹp không phải không trải những thăng trầm. Ông Thanh cho hay khu rừng từng được ông cha gọi là “cấm” này có khoảng 7ha bị mất sau ngày hòa bình. Phần rừng bị mất chủ yếu là vùng rìa, bị một số dân làng lấn chiếm lấy đất làm nhà ở, làm đất sản xuất thời kinh tế khó khăn. Nhưng xót xa nhất trước “chuyện đã rồi”, theo ông Thanh, ấy là khi xã ra nghị quyết khai thác cây gỗ rừng Nà để có kinh phí làm chợ Thi Phổ hồi năm 1980. Trước đó xã cũng đã cho lấy gỗ ở rừng cấm này dùng làm trường học, đóng bàn ghế học sinh. “Nếu không bị khai thác, nay rừng Nà còn rậm rạp hơn nhiều lần. Cũng may là nhờ đất rừng này ẩm ướt nên số cây bị chặt hồi ấy đã tái sinh từ lâu, có cây nay có thể tái khai thác được…” – ông Thanh nói tiếp.

Tạm gác nỗi buồn rừng Nà vào thời rừng ở đâu cũng được mở tung cửa cho khai thác, điều đáng mừng là khu rừng nguyên sinh độc đáo này cơ bản được cư dân xưa nay hết lòng bảo quản. “Cũng là nhờ dân mình có quy định giữ rừng nghiêm ngặt từ thời cha ông. Đến thời tui lớn lên, tuy bản hương ước ghi chuyện giữ rừng Nà không còn thấy, nhưng ai ở đây cũng một bề tuân theo lệ xưa, không dám xâm phạm rừng Nà. Bởi vậy nên đến khi chiến tranh nổ ra rừng Nà còn rậm như rừng Trường Sơn, làm chỗ cho dân làng, cán bộ, bộ đội nương náu, ẩn nấp mãi cho đến ngày hòa bình…” – ông Tiến nhớ lại.

Để ngăn cấm triệt để việc xâm phạm đất Rừng Nà, ông Thanh cho hay năm 1995 xã đã giao cho hội cựu chiến binh xã trồng cọc ranh giới bằng trụ ximăng và đắp bờ bao nơi rừng Nà tiếp giáp khu dân cư, cho trồng các loại cây keo, bạch đàn vào diện tích đất mà một số cư dân đã xâm lấn.

“Chính quyền xã cũng giao cho các thôn có rừng Nà phải đưa việc bảo vệ rừng Nà vào hương ước thôn văn hóa của mình, ai vi phạm sẽ bị xử phạt thích đáng. Nhưng nói là vậy chứ từ đó đến nay xã vẫn chưa xử lý ai. Cái chính là nhờ ý thức bảo vệ rừng Nà của bà con có tính tự giác, tính truyền thống cao” – ông Thanh cho biết.

HUỲNH VĂN MỸ

 

Rừng Nà là khu rừng rậm với nhiều gò đồi và bãi sình lầy chạy dọc chiều Bắc – Nam của xã Đức Thạnh, diện tích hơn 350.000m2, đã được UBND tỉnh Quảng Ngãi xếp hạng di tích lịch sử văn hóa. Về đa dạng sinh học ở rừng Nà, bước đầu điều tra đã xác định: về động vật có 123 loài có xương sống thuộc 5 lớp, 21 bộ, 57 họ và 92 giống, gồm ba nhóm là nhóm di cư mùa đông, nhóm di cư mùa hè và nhóm định cư, lớp chim là nhóm di cư chủ yếu; về thực vật có 52 loài và dưới loài thực vật, thuộc 44 chi, 34 họ và 2 ngành thực vật, trong đó 28 loài có giá trị sử dụng như các nhóm cây làm thuốc, nhóm cây lấy gỗ, nhóm cây làm cảnh, nhóm cây ăn quả và nhóm cây cho tinh dầu.

(Nguồn: Đề tài nghiên cứu tạo lập cơ sở dữ liệu, đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, môi trường và lịch sử rừng Nà, xã Đức Thạnh, huyện Mộ Đức của Sở Tài nguyên – môi trường tỉnh Quảng Ngãi, tháng 3-2011)

Cựu chủ tịch thành phố ‘thích’ nhặt rác biển

Buổi chiều, bãi biển Mỹ Khê (Đà Nẵng) tấp nập. Xen giữa dòng người đông đúc là một ông già mặc quần soóc, áo phông nhanh tay nhặt từng vỏ lon bia, bim bim, túi nylon vứt vương vãi trên bãi cát.

Ông là Hồ Việt, 67 tuổi, nhà ở đường Võ Nghĩa, quận Sơn Trà, nguyên Chủ tịch thành phố Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ), nguyên Trưởng đại diện Văn phòng Tổng cục du lịch tại miền Trung.

Ngày nào cũng thế, đều đặn hai buổi sáng chiều, người dân đều thấy ông Việt dành hàng tiếng đi bộ vài cây số quanh bãi biển dọc đường Phạm Văn Đồng hay Mỹ Khê để nhặt rác. “Nhiều khi mưa gió tôi cũng thấy ông đi nhặt, việc tưởng chừng đơn giản nhưng có mấy ai làm được. Người ta chỉ quen xả rác thôi”, bà Nguyễn Hữu Hạnh (45 tuổi), người sống gần biển Mỹ Khê bộc bạch.

ong Ho Viet
Ông Hồ Việt mải miết nhặt rác trên bờ biển Đà Nẵng. Ảnh: Xuân Trường.

Ông Việt kể, một lần thấy mấy cô cậu vô tư xả rác, lúc họ đi ông nhặt nhạnh và rồi thành thói quen. Theo ông trước đây rác nhiều lắm, bây giờ đỡ hơn. “Ớn nhất là mấy cô bán ốc dạo. Khách ăn xong, họ xả ngay xuống cát, dẫm vào thì chỉ có rách chân, mưng mủ. May mà cái đó đã bị cấm tiệt, chứ không biển đẹp nhưng sợ lắm”, ông Việt nói.

Theo ông, biển Đà Nẵng là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh, nhưng còn không ít hình ảnh đáng buồn. Người dân, du khách quen chọn chỗ sạch để tắm, nhưng nhiều khi lại chưa có ý thức tự giác bảo vệ môi trường. “Giá như mỗi người tự nhặt ngay rác mình xả ra thì tốt biết mấy”, ông nói.

Điều làm ông Việt vui nhất là thỉnh thoảng vài chị lao công gặp ông lại nở nụ cười cảm ơn. Lâu lâu có người thấy ông nhặt rác cũng đi theo hưởng ứng. Tuy nhiên, quan niệm của nhiều người về việc ý thức bảo vệ môi trường khiến ông không khỏi ái ngại.

“Hôm trước tôi nghe đám thanh niên nói lại với mấy chị lao công mà cứ ám ảnh. Họ cho rằng xả rác là chuyện đương nhiên, nếu không xả thì lấy gì việc cho công nhân môi trường làm”, ông kể.

Ông Việt đang ấp ủ kế hoạch thành lập Hội những người yêu biển Đà Nẵng để tập hợp các cán bộ hưu trí, thanh niên, những người muốn góp phần làm xanh, sạch, đẹp bãi biển từ việc tuyên truyền, vận động đến các hành động thiết thực.

ông
Ngày hai buổi, ông đều đi nhặt rác. Ảnh: Xuân Trường.

Sinh ra trên quê hương Duy Xuyên (Quảng Nam), là một trong 5 người con của nhà cách mạng lão thành Hồ Nghinh (nguyên Ủy viên TƯ Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam – Đà Nẵng, nguyên Phó ban kinh tế TƯ Đảng), ông Việt được bầu làm chủ tịch thành phố Đà Nẵng (tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ) từ năm 1989.

Đến năm 1995, ông chuyển sang công tác tại Văn phòng đại diện Tổng cục Du lịch tại miền Trung với vai trò trưởng đại diện. Đi nhiều, chiêm ngưỡng bãi biển cả trong và ngoài nước, ông Việt bảo càng yêu biển quê hương hơn. Và nhặt rác là công việc thiết thực ông chọn để làm đẹp cho biển.

Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đà Nẵng, ông Nguyễn Điểu cho rằng: “Những năm qua, việc nhặt rác thầm lặng của ông là hình ảnh đẹp, đáng biểu dương, nhân rộng để mọi người cũng tự giác tham gia bảo vệ môi trường, góp phần làm sạch đẹp bãi biển, tạo mỹ quan cho thành phố”.

Ông Điểu cho biết Sở Tài nguyên và Môi trường đã đề nghị Chi cục bảo vệ môi trường báo cáo và tặng kỷ niệm chương vì sự nghiệp môi trường cho ông Hồ Việt.

Ông Hồ Việt chính là người khai sinh ra chương trình du lịch “Con đường di sản thế giới miền Trung” với việc kết nối các di sản thế giới từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, như Phong Nha – Kẻ Bàng, cố đô Huế, Hội An và Mỹ Sơn… Ngay lập tức, con đường di sản miền Trung thu hút được sự quan tâm của ngành du lịch, kéo theo nhiều hoạt động tour tuyến, tạo sự sôi động cho các điểm đến di sản.

Sau đó ông còn khai sinh thêm những con đường du lịch: con đường xanh Tây Nguyên. Đặc biệt, khi tuyến hành lang kinh tế Đông Tây được kết nối, ông Việt đề xuất ngay ý tưởng hình thành con đường Xuyên Á, hành lang Đông – Tây, nối liền các điểm du lịch Việt Nam, Lào, Thái Lan, Mianma…

Xuân Trường – Văn Nguyễn