Quảng bá du lịch di sản bền vững

Các khu di sản thế giới tại miền Trung được quảng bá bền vững sẽ tạo điều kiện cho ngành du lịch khu vực phát triển.

Gắn kết các di sản thế giới

Được triển khai từ tháng 5.2012, dự án quảng bá các di sản thế giới tại miền Trung nhằm mục tiêu tạo ra sự gắn kết và tăng cường phối hợp giữa các khu di sản thế giới phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và tổ hợp di sản Cố đô Huế. Thông qua Văn phòng UNESCO Hà Nội và Ủy ban quốc gia (UBQG) UNESCO Hàn Quốc, Hãng hàng không Asiana đã tài trợ kinh phí cho việc thực hiện quảng bá các khu di sản tại miền Trung và dự án lắp đặt hệ thống đèn chiếu sáng công cộng sử dụng năng lượng mặt trời. “Đây là một câu chuyện thành công về sự hợp tác công – tư hướng tới tăng cường đóng góp của di sản văn hóa đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Các hoạt động và thành công của dự án này có tiềm năng lớn sẽ được áp dụng tại các khu được bảo vệ khác trên cả nước nhằm quảng bá du lịch bền vững”, bà Katherine Muller, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam nhìn nhận.

Quảng bá du lịch di sản bền vững
Khánh thành hệ thống đèn năng lượng mặt trời tại Hội An – Ảnh: Hoàng Sơn

Theo ông Trần Minh Cả, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, việc tăng cường quảng bá giá trị của các khu di sản là một cách làm hết sức sáng tạo. Điển hình là ấn phẩm di sản thế giới Mỹ Sơn và cung cấp thông tin kết nối giữa 4 khu di sản, gồm: phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn, quần thể di tích Cố đô Huế và di sản Phong Nha – Kẻ Bàng trong một hành trình di sản chung. “Điều này tạo nên ấn tượng về cụm điểm đến di sản miền Trung hấp dẫn, giàu giá trị văn hóa, lịch sử. Qua đó, thu hút sự ủng hộ của công chúng với các khu di sản thế giới”, ông Cả nói.

 

Hội An – 1 trong 10 điểm đến tốt nhất của châu Á

Ông Trần Minh Cả, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam cho biết, năm 2012, tỉnh này đã đón hơn 2,8 triệu lượt khách, thu nhập du lịch đạt 3.235 tỉ đồng, tăng gần 30% so với năm 2011. Năm 2012 cũng là năm Tạp chí Wanderlust của Anh với hơn 100.000 người ở 112 quốc gia bình chọn Hội An là thành phố được yêu thích nhất trên thế giới; Tạp chí du lịch Code Nast Traveler của Mỹ bình chọn phố cổ Hội An vào danh sách 10 thành phố du lịch tốt nhất châu Á. Nhiều năm liền, Tạp chí Smart Travel Asia bình chọn Hội An là 1 trong 10 điểm du lịch hấp dẫn nhất châu Á.

 

Một năm qua, dự án đã góp phần cải thiện việc cung cấp thông tin về di sản, quảng bá và thúc đẩy sự kết nối giữa 4 di sản tại miền Trung. Trong đó, sự ra đời ấn phẩm được thiết kế theo hình viên gạch Chămpa với những trang sách được cắt lượn phỏng theo địa hình khu Mỹ Sơn, quảng bá cho khu di tích này được đánh giá cao. Ước tính, nếu 5% du khách đến khu Thánh địa mua cuốn sách này, mỗi năm đơn vị quản lý sẽ có lợi nhuận trên 50.000 USD; tạo nguồn thu để tái đầu tư. Bên cạnh đó, một ấn phẩm chung chuyển tải những giá trị văn hóa, tự nhiên nổi bật kết nối giữa 4 khu di sản miền Trung đã được phát hành.

Cam kết quảng bá bền vững

Theo ông Đào Quang Thu, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch – Đầu tư, dự án quảng bá du lịch bền vững tại các khu di sản thế giới miền trung Việt Nam là dự án thể hiện tính nghiêm túc và niềm tin của Tập đoàn Kumho Asiana (Hàn Quốc) đối với thị trường. Đến nay, Tập đoàn Kumho Asiana đã đầu tư hơn 500 triệu USD vào Việt Nam, Asiana Airlines là hãng hàng không quốc tế vận hành nhiều chuyến bay nhất từ nước ngoài đến Việt Nam.

Tổng giám đốc Hãng hàng không Asiana Yoon Yong Do cho rằng, dự án này là một điển hình tích cực trên toàn thế giới cho mối hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, doanh nghiệp và tổ chức quốc tế. “Tôi cho rằng, ý nghĩa dự án to lớn đó là hoạt động thân thiện với môi trường. Chúng tôi cam kết sẽ đồng hành với những người bạn giữ gìn trái đất xanh…”, ông Yoon Yong Do nói. Ông Lim Huyn Mok, Phó tổng thư ký UBQG UNESCO Hàn Quốc nói: “UBQG UNESCO Hàn Quốc chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa để hỗ trợ cải thiện cấu trúc hạ tầng cho các khu di sản văn hóa UNESCO, đưa lợi ích đến cho chính người dân tại khu vực có di sản”. UNESCO cam kết hỗ trợ việc quảng bá các giá trị di sản và phát triển bền vững tại Việt Nam và kết quả của dự án là một ví dụ, là bước đi đầu tiên nhằm cam kết vững chắc cho mối quan hệ đối tác trong việc quảng bá.

Phía tỉnh Quảng Nam yêu cầu các cơ quan quản lý di sản tiếp tục thực hiện việc duy trì kết quả của dự án, đồng thời tỉnh sẽ có các giải pháp và nguồn lực để triển khai các công việc tiếp theo. Ông Đinh Hài, Giám đốc Sở VH-TT-DL Quảng Nam cho biết thêm, thời gian tới, nếu vận động được sự tài trợ cùng các nguồn lực khác, sở này sẽ nhân rộng thành quả của dự án, như: ấn phẩm tư vấn du khách, trung tâm thông tin du khách… ra các điểm tham quan khác để phát triển du lịch.

 

Sử dụng năng lượng xanh tại các khu di sản

Trong khuôn khổ của chương trình hỗ trợ các di sản văn hóa thế giới tại khu vực miền Trung, tại TP.Hội An, Hãng hàng không Asiana vừa tổ chức lễ khánh thành dự án lắp đặt hệ thống đèn năng lượng mặt trời tại khu vực phố cổ. Việc lắp đặt hệ thống này được xem là tiên phong trong việc sử dụng năng lượng xanh tại các khu di sản thế giới.

 

Hoàng Sơn

Ẩm thực Việt có giúp xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam?

Một quốc gia có ngành du lịch phát triển thì đều có một thương hiệu nổi tiếng để định vị trên bản đồ du lịch thế giới. Việt Nam có nhiều tiềm năng song chưa có một thương hiệu nào cụ thể cho ngành du lịch. Với văn hóa ẩm thực nổi tiếng thế giới liệu ẩm thực có thể giúp xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam?

 

Ẩm thực Việt tinh tế về trang trí, cầu kỳ trong chế biến…

Còn nhớ vài năm trước đây, trong một cuộc hội thảo maketing diễn ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Philp Kotler người được coi là một trong những nhà sáng lập trường phái maketing hiện đại của thế giới đã từng có gợi ý khuyên “Việt Nam nên trở thành bếp ăn của thế giới”. Và trong cuộc hội thảo mới đây do Bộ VHTTDL tổ chức để lấy ý kiến các doanh nghiệp du lịch phục vụ công tác quản lý nhà nước, đã có không ít các doanh nghiệp đề cập đến việc cần xây dựng một thương hiệu du lịch cụ thể cho Việt Nam. Ông Quốc Kỳ – Tổng giám đốc Công ty Du lịch VietTravel có ý kiến tại cuộc hội thảo nên có chương trình cụ thể nghiên cứu về khả năng cung cấp, phát triển của ẩm thực Việt để từ đó xây dựng thương hiệu cho ngành du lịch theo lời khuyên của các chuyên gia . Quả thật nếu nhìn sang các nước có ngành du lịch phát triển thì thấy họ đều có một thương hiệu du lịch vững mạnh.

 

Ẩm thực Việt Nam liệu có giúp chúng ta xây dựng thương hiệu cho ngành du lịch Việt?

 

 

Chẳng nói đâu xa, chỉ cần nhìn ngay các nước trong khu vực Châu Á như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc sẽ thấy rõ điều đó. Nói đến Nhật Bản người ta nghĩ ngay đến một đất nước với văn hóa khác biệt mà không có quốc gia nào trên thế giới có nét tương đồng. Văn hóa mang đậm chất của các Samurai, của tinh thần quả cảm, lòng tự tôn dân tộc. Nói đến Nhật Bản người ta nghĩ đến ngay ẩm thực Nhật đã khiến cả thế giới phải say lòng, đơn giản nhưng vô cùng tinh tế và là đỉnh cao của nghệ thuật. Là một trong những quốc gia có lịch sử và văn hóa lâu đời nhất trên thế giới, Trung Quốc tập trung vào việc quảng bá thương hiệu du lịch qua các bộ phim kiếm hiệp, phim lịch sử. Thông qua các bộ phim được xuất khẩu đi toàn thế giới, người ta biết đến phong cảnh, non nước đẹp mê hồn của Trung Quốc, qua những bộ phim lịch sử người ta tò mò với những bí ẩn, những con người và những câu truyện xây dựng nên những trang sử hùng hồn không chỉ của đất nước Trung Hoa mà còn ảnh hưởng tới toàn bộ khu vực Châu Á. Cũng có nét ẩm thực rất nổi tiếng nhưng Trung Quốc không tập trung xây dựng thương hiệu ẩm thực mà lại chọn con đường quảng bá lịch sử, văn hóa và đặc biệt là những di sản đã được cả thế giới công nhận của quốc gia mình. Đây là một lựa chọn rất đúng đắn bởi Trung Quốc có diện tích rộng lớn vào loại nhất nhì thế giới với nhiều thắng cảnh, di tích đẹp và thêm hơn 40 di sản đã được Unesco công nhận, 1 kỳ quan thế giới. Còn Hàn Quốc, dù cũng có ẩm thực Hàn rất riêng biệt, có văn hóa truyền thống độc đáo với Hanbok, với các điệu múa dân gian với những khúc ca Ariang nổi tiếng nhưng Hàn Quốc lại xây dựng thương hiệu du lịch Hàn thông qua làn sóng Hallyu. Mặc dù, làn sóng Hallyu được giới thiệu quá phim ảnh, qua Kpop, cũng là cách gián tiếp giới thiệu nét đặc trưng của văn hóa Hàn như ẩm thực, trang phục, phong tục truyền thống… và cuộc sống hàng ngày của người dân xứ sở Kim Chi song cách lựa chọn để xây dựng hoàn toàn không trùng lập với bất kỳ quốc gia nào.

 

Phở bò, bún ốc..2 trong số nhiều món đặc sản của Hà Nội

 

 

Trở lại Việt Nam, với lịch sử hơn 4000 năm, cũng có những đặc trưng văn hóa mà ít quốc nào có được. Chúng ta cũng có nhiều di tích văn hóa, thắng cảnh đẹp với 1 kỳ quan thiên nhiên thế giới và 17 Di sản được Unesco công nhận. Thế nhưng nếu muốn xây dựng thương hiệu du lịch theo cách của Trung Quốc nghĩa là quảng bá cảnh đẹp, lịch sử qua việc xuất khẩu phim thì chúng ta không thể bởi Việt Nam chưa có ngành công nghiệp điện ảnh. Tạo một làn sóng hallyu như của Hàn Quốc lại càng là điều xa vời. Còn Nhật Bản – vốn là một quốc gia chiến tranh liên miên và đứng lên trở thành một trong những cường quốc phát triển nhất thế giới từ trong đau thương. Bởi vậy tinh thần tự cường, tinh thần chiến đấu như những chiến binh Samurai của Nhật về cơ bản được cả thế giới biết đến. Còn chúng ta vẫn là một nước đang phát triển và cần quá nhiều sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế vì vậy việc để thế giới biết đên một ý chí kiên cương, một nét văn hóa như samurai là điều không dễ. Nếu xét như vậy sẽ thấy lời khuyên của Philp Kotler không phải là một lời nói thiếu cơ sở, mang tính ngẫu nhiên.

 

Bánh ít, bánh tráng…nét riêng của ẩm thực Huế

 

 

Ẩm thực Việt Nam rất nổi tiếng trên thế giới và được các chuyên gia ẩm thực đánh giá cao. Món ăn của Việt Nam ít dầu, mỡ hơn của Trung Quốc, ít cay hơn của Thái Lan hay Hàn Quốc, ít thịt hơn các món ăn Châu Âu và luôn được chế biến cầu kỳ, cẩn thận đảm bảo dễ tiêu hóa sau khi ăn. Trong chế biến cũng như trang trí kết hợp gia vị cho các món ăn ứng dụng nguyên lý điều hòa Âm – Dương. Bên cạnh đó món ăn Việt Nam còn có tác dụng chữa bệnh…Nguyên liệu và thực phẩm chế biến các món ăn rất phong phú, đa dạng và đều là sản vật của thiên nhiên. Nền thương mại xuất khẩu thủy, hải sản của Việt Nam có uy tín trên thị trường quốc tế  Rau, củ, quả, hạt có quanh năm và có những đặc sản đặc trưng theo vùng miền. Gạo, cà phê của Việt Nam không những đã có thương hiệu mà chúng ta còn là quốc gia đứng đầu thế giới về xuất khẩu. Bên cạnh đó, những gia vị để tạo ra các món ăn ngon cũng rất đa dạng, từ các loại rau (thơm, húng, tía tô, hành…), các loại củ (gừng, riềng), các loại quả (thảo quả, me, xoài, cà chua,…) đến các loại nước chấm (tương, nước mắm,…) đã tạo ra tính độc đáo của món ăn Việt Nam. Mỗi miền, mỗi vùng quê có những món ăn đặc sản do quy trình chế biến và kết hợp gia vị để tạo ra món ăn độc đáo, hấp dẫn…

 

Chả giò, bánh canh cua…đặc sản ẩm thực miền Nam

 

 

Ẩm thực Việt ngày càng nổi tiếng trên thế giới, điều này được khẳng định bởi số lượng khách tham gia các fesival ẩm thực Việt Nam tổ chức tại nhiều quốc gia ngày càng lớn. Và tần suất tổ chức fesival ẩm thực của Việt Nam trên thị trường thế giới cũng đang gia tăng. Hơn 60% số lượng khách quốc tế khi được hỏi về món ăn Việt đều tỏ ra hài lòng và hứng thú. Nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam đã đánh giá “Việt Nam là thiên đường ẩm thực” với những món ăn đặc sắc, hương vị thơm ngon không thể quên ở mỗi điểm đến. Cái độc đáo là ba miền ở Việt Nam là ba thiên đường của ẩm thực với những món ăn rất riêng, hương vị đặc sắc mang đậm chất vùng miền.

Đến Hà Nội không du khách nào có thể quên hương vị của phở, bún riêu cua, bún ốc, bún thang, xôi gà, chả cá Lã Vọng, bánh tôm hồ Tây, bánh cốm, các món nem cuốn. Ẩm thực miền Trung hấp dẫn du khách bởi các món bánh, món chè xứ Huế, mỳ Quảng, cao lầu…còn vùng đất Nam Bộ lại đặc trưng bởi các món lẩu, nướng từ thủy, hải sản với các loại cây trái sẵn có.

 

Khu vực của âm thực Việt Nam tại một fesival ẩm thực quốc tế và du khách quốc tế đang thử món ăn của Việt Nam.

 

 

Người dân Việt Nam từ lâu đã không còn xa lạ với hình ảnh những người nước ngoài ngồi vỉa hè cầm đũa chỉ để thưởng thức một bát phở sáng hay bát bún ốc nóng khói nơi góc phố quen thuộc. Ngày càng nhiều đầu bếp nổi tiếng thế giới tìm đến Việt Nam vì mê hương vị món ăn Việt Nam, trong số đó có ông Didier Corlou người Pháp, bếp trưởng khách sạn Metropole Hà Nội rất thích dùng nước mắm để chế biến các món ăn. Ông cũng rất “mê” món phở của Việt Nam và đánh giá phở là một trong những món ăn ngon nhất thế giới, còn Hà Nội là một trong những thủ đô có nhiều món ăn ngon nhất thế giới. Ông Didier Corlou đã viết một cuốn sách giới thiệu các món ăn ngon nhất Việt Nam bằng tiếng Pháp để giới thiệu với bạn bè quốc tế.

Một số nhà nghiên cứu ẩm thực Việt Nam và nước ngoài đã nhận xét: “ các món ăn Việt Nam ngày càng hấp dẫn du khách bởi nguyên liệu chủ yếu là các loại rau, củ,quả, hạt, thủy, hải sản, không quá nhiều thịt như món Âu, ít dầu mỡ hơn các món Trung Quốc, ít cay hơn đồ ăn Thái Lan. Quan trọng hơn cả là các món đều nhiều rau xanh, trong trang trí và kết hợp gia vị đều hài hòa và có nước chấm riêng rất đặc trưng. Mỗi miền, mỗi vùng quê đều món ăn đặc sản, độc đáo, hấp dẫn. Rất nhiều nguyên liệu, gia vị món ăn của Việt Nam là cây thuốc có tác dụng chữa bệnh”.

Như vậy có thể thấy ẩm thực Việt hoàn toàn có thể giúp xây dựng thương hiệu du lịch Việt Nam, vấn đề chỉ là chúng ta có lựa chọn để xây dựng hình ảnh theo cách thức này và nếu có thì sẽ xây dựng một chiến lược hành động cụ thể như thế nào mà thôi.

Nguyễn Hương

 

Thúc đẩy tổ chức một số điểm biểu diễn nghệ thuật phục vụ khách du lịch

Ngày 03/10/2012, tại Tổng cục Du lịch đã diễn ra buổi họp đề án tổ chức một số điểm nghệ thuật biểu diễn phục vụ hoạt động khách du lịch do Vụ Lữ hành chủ trì thực hiện. Tới dự có Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn, Phó Tổng cục trưởng Nguyễn Mạnh Cường cùng các đại diện Cục Nghệ thuật biểu diễn, Sở VHTTDL Hà Nội, UBND quận Hoàn Kiếm, một số Nhà hát … và các đơn vị liên quan khác.

Rạp Hồng Hà (Hà Nội)

Nhằm bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc, giới thiệu những giá trị văn hóa truyền thống này tới bạn bè khắp nơi trên thế giới, từ năm 2009, Bộ VHTTDL hàng năm đã dành những khoản kinh phí nhất định hỗ trợ các nhà hát, Viện nghiên cứu Âm nhạc và các tỉnh Nghệ An, Quảng Ninh… xây dựng thử nghiệm các tiết mục biểu diễn phục vụ du khách, và đã triển khai xây dựng được nhiều tiết mục đặc sắc, tiêu biểu với nhiều loại hình nghệ thuật khác nhau của Việt Nam. Tuy nhiên, các tiết mục này vẫn chưa được đưa vào biểu diễn thực tế phục vụ khách du lịch. Để đưa những tiết mục này đến với khách du lịch cần thiết phải có một kế hoạch tổng thể, có sự phối hợp giữa Tổng cục Du lịch, Cục Nghệ thuật Biểu diễn, các nhà hát… nhằm hình thành một chương trình biểu diễn phù hợp với nhu cầu của khách du lịch.

Tháng 6 năm 2012, trong khuôn khổ Chương trình xúc tiến du lịch quốc gia, Bộ VHTTDL đã giao Tổng cục Du lịch chủ trì và phối hợp với Cục Nghệ thuật biểu diễn lựa chọn các tiết mục nghệ thuật đặc sắc tiêu biểu của văn hóa dân tộc để xây dựng, dàn dựng thành chương trình nghệ thuật biểu diễn phục vụ khách du lịch, trước mắt tại Hà Nội và Đà Nẵng.

Trên cơ sở đó, Vụ Lữ hành đã trao đổi với Cục Nghệ thuật biểu diễn, các nhà hát, một số đơn vị liên quan để xây dựng đề cương, kế hoạch tổng quát triển khai nhiệm vụ ở cả hai địa phương trên.

Tại buổi họp, các đơn vị nhất trí với các đề xuất của TCDL, bày tỏ mong muốn sẵn sàng tham gia chương trình và cho rằng trong thời gian đầu cần lựa chọn một số địa điểm đủ điều kiện để nghiên cứu triển khai. Các đại biểu cũng cho rằng trước mắt có thể xem xét lựa chọn khu vực chợ Hàng Da ở Hà Nội để xây dựng mô hình trung tâm mua sắm kết hợp ẩm thức Việt Nam cùng biểu diễn nghệ thuật dân tộc phục vụ khách du lịch.

Tổng cục trưởng Nguyễn Văn Tuấn đánh giá cao ý kiến đóng góp của các đại biểu về việc xem xét lựa chọn khu vực chợ Hàng Da do đây là khu vực gần các phố Đường Thành, Hàng Điếu và Rạp Hồng Hà, rất phù hợp để xây dựng mô hình này. Tới đây, TCDL sẽ chủ trì phối hợp với Cục Nghệ thuật biểu diễn, Sở VHTTDL Hà Nội, UBND quận Hoàn Kiếm và các đơn vị liên quan xây dựng kế hoạch khảo sát thực tế, tiến hành hội thảo lấy ý kiến làm cơ sở xây dựng mô hình thí điểm tại Hà Nội.

Hương Lê

Tạo cơ hội cho lao động tự do trong du lịch: Bài 1: Nhiều kỹ năng cần đào tạo

Hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động trực tiếp làm trong ngành du lịch và hơn 1 triệu lao động gián tiếp; dự kiến số lượng này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Trong đó, khá đông lao động này là tự phát, không được đào tạo nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ du lịch.

Chương trình Đào tạo kỹ năng nghề du lịch cho nhóm lao động tự do ở Việt Nam (HITT) vừa được Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) triển khai tại các địa bàn thu hút lượng lớn khách du lịch và có nhiều lao động tự do nhằm nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực du lịch là một hướng đi thật sự cần thiết.

Những khảo sát của SNV cho thấy, tại các điểm du lịch có tiếng của Việt Nam như Sa Pa (Lào Cai), Hội An (Quảng Nam)… người dân đã tích cực tham gia vào dịch vụ du lịch; tuy nhiên do còn thiếu nhiều kỹ năng, nên hiệu quả chưa cao.

Chị Thúy, 58 tuổi, dân tộc Dao, hiện sống tại bản du lịch Tả Pìn, Sa Pa (Lào Cai) cho biết: “Nhà mình kinh doanh lưu trú homstay với 14 giường nhưng mùa cao điểm chỉ đón vài chục khách. Do đó, mình muốn mở thêm dịch vụ cà phê và muốn giao tiếp được với khách để tìm hiểu nhu cầu của du khách nước ngoài”.

Còn Vàng Thị Dở, dân tộc Mông, 42 tuổi, bán hàng rong ở thị trấn Sa Pa kể: “Tôi làm việc từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều tất cả các ngày trong tuần, nhưng thu nhập chỉ hơn 1 triệu đồng/tháng. Bán hàng rong rất vất vả vì đi theo chân khách suốt cả ngày. Tôi mong muốn có cửa hàng hoặc một chỗ bán hàng trong chợ. Mong muốn lớn nhất là được học tiếng Anh để có thể giao tiếp với khách”.

Đó là những tâm tư của người lao động tự do tại các điểm du lịch mà SNV đã phỏng vấn để tìm hiểu nhu cầu của họ muốn gì khi tham gia vào các dịch vụ du lịch. “Lao động tự do là những đối tượng lao động nằm ngoài hệ thống chính thức, không được kiểm soát bởi thuế hay những quy định về lao động”, ông Phil Harman, cố vấn chương trình du lịch SNV cho biết.

Bên cạnh đó, SNV cũng đã khảo sát về sự hài lòng của khách với dịch vụ du lịch ở 107 điểm tham quan, 87 khách sạn nhỏ, 35 địa điểm có lưu trú nhà dân và 205 nhà hàng. Kết quả cho thấy, du khách quốc tế đánh giá cao thái độ thân thiện, mến khách của người Việt Nam khi đón khách, tiếp xúc, hướng dẫn du lịch, phục vụ tại nhà hàng, khách sạn nhỏ; nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần cải thiện, nhất là tiếng Anh.

Bà Đỗ Thị Cẩm Thơ, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch cho biết: Từng loại hình cần những kỹ năng, yêu cầu riêng. Trước tiên, với dịch vụ tham quan, du khách đánh giá cao về sự thân thiện của HDV, sự chào đón khi bắt đầu chuyến đi. Tuy nhiên, khách đánh giá không cao dịch vụ vận chuyển (chỉ 5% hài lòng) và khả năng ngoại ngữ của HDV và các hoạt động trong tour (dưới 18%). Do đó cần nâng cao kiến thức của hướng dẫn viên về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên; cung cấp thêm thông tin cho khách du lịch trước và trong chuyến đi, đào tạo kỹ năng giao tiếp cho lái xe.

Trong khi đó, với khách sạn nhỏ, khách đánh giá cao sự thân thiện của nhân viên, dịch vụ đặt, nhận và trả phòng. Tuy nhiên khách đánh giá thấp chất lượng phòng tắm (20%) và xử lý tình huống của nhân viên. Do đó, khuyến nghị với khách sạn nhỏ cần cải thiện kỹ năng tiếng Anh của nhân viên, điều kiện vệ sinh, lễ tân cần chuyên nghiệp hơn.

Đối với dịch vụ nhà hàng, khách hài lòng về sự thân thiện, đa dạng món ăn và cách trình bày. Tuy nhiên, khách phàn nàn nhiều về kỹ năng tiếng Anh (2%) và tiêu chuẩn vệ sinh. Do đó, với loại hình này cần đào tạo kỹ năng phục vụ của nhân viên, sự nhanh nhẹn trong phục vụ và kỹ năng tiếng Anh để giải thích về văn hóa ẩm thực; đồng thời cần nâng cao về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tại các bản làng du lịch cộng đồng, khách cho rằng cần nâng cao kiến thức về văn hóa địa phương của chủ nhà, bổ sung hoạt động về đêm… Khách ở nhà dân chủ yếu muốn hiểu sâu cuộc sống và văn hóa người dân nơi điểm đến, do đó ngoài kỹ năng tiếng Anh, các dịch vụ bài trí phải “thật” với đời sống hàng ngày.

Khảo sát cho thấy có khoảng cách lớn từ nhu cầu của khách và khả năng đáp ứng dịch vụ tại điểm du lịch. Do đó, việc đào tạo kỹ năng cho người dân tại cộng đồng điểm du lịch là rất cần thiết giúp khách có những trải nghiệm thú vị nơi điểm đến, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và đó cũng là cách quảng bá hữu hiệu nhất hình ảnh điểm đến du lịch Việt Nam.

Bài và ảnh: Xuân Minh

Nguồn: Báo Tin tức

Sử dụng cá mập để thu hút du khách

Chiều 10.4, Sở KH-CN tỉnh Bình Định tổ chức nghiệm thu đề tài “Nghiên cứu cơ sở khoa học của hiện tượng cá dữ tấn công người tắm biển tại vùng biển Quy Nhơn và đề xuất các giải pháp phòng ngừa” do Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện trong 8 tháng qua với kinh phí 2 tỉ đồng.

Theo nhóm tác giả, có 3 nguyên nhân chính dẫn tới nhiều vụ cá mập tấn công người tại Quy Nhơn (trong hai năm 2009 – 2010), gồm: đây là vùng phân bố tự nhiên của một số loài cá mập; số lượng lớn lồng nuôi tôm hùm và lưới lồng gần bãi tắm có nhiều mồi bên trong thu hút cá dữ vào kiếm ăn; hiện tượng El Nino trong thời kỳ này làm cho nhiệt độ và độ đục của dòng chảy tăng lên khiến cá mập trở nên hung dữ hơn bình thường.

Từ đó, nhiều giải pháp phòng ngừa được đưa ra như xây dựng trạm cảnh báo và cứu hộ, dọn các chà tôm và lưới lồng gần bãi tắm… Đặc biệt, nhóm thực hiện đã đề xuất ý tưởng sử dụng cá mập cho du lịch thu hút du khách đến với Bình Định.

Trần Thị Duyên

 

Cá mập ở Bình Định là tài nguyên đặc biệt

Tỉnh Bình Định xem cá mập gần bờ là loại tài nguyên đặc biệt cần được quản lý, quy hoạch, sử dụng hợp lý bên trong hệ sinh thái liên quan theo hướng phát triển bền vững.

Theo Tiến sĩ Võ Sĩ Tuấn, Viện Hải dương học Nha Trang, vịnh Quy Nhơn, thành phố Quy Nhơn, Bình Định là vùng đa dạng loài của liên bộ cá nhám (11 loài), cá mập trắng lớn và cá mập sọc trắng. Riêng cá mập sọc trắng, thời gian qua vào gần bờ vịnh Quy Nhơn được ghi nhận có cấu trúc quần thể nhiều kích thước khác nhau và cả cá đang mang thai.

Một số quốc gia như Mỹ, Nam Phi, Thái Lan, Philippines đã thu nhiều nguồn lợi từ việc sử dụng cá nhám, cá mập làm đối tượng phục vụ phát triển các dịch vụ du lịch mạo hiểm và sinh thái. Các hoạt động chủ yếu như thiết lập bảo tàng về cá mập, du lịch bơi lặn xem cá mập, câu cá giải trí.

Tuy nhiên, từ năm 2009-2010, tại vùng biển Quy Nhơn đã xảy ra khoảng 10 vụ cá mập vào gần bờ tấn công người tắm biển. Tỉnh Bình Định đã đưa ra đề tài nghiên cứu vấn đề này do Viện Hải dương học Nha Trang thực hiện.

Theo lý giải của nhóm thực hiện đề tài, hiện tượng cá dữ tấn công người ở vùng biển Quy Nhơn do kết hợp từ nhiều yếu tố như vịnh Quy Nhơn có luồng biển nước sâu; việc phát triển nhiều các loại chà cá, chà tôm hùm, lồng lưới (bóng Thái), rạn nhân tạo… sát bãi tắm đã tạo điều kiện về môi trường, con mồi cho cá mập vào gần bờ sinh sống.

Khoảng thời gian cá mập liên tục tấn công người trùng khớp với thời gian xảy ra hiện tượng El Nino. Có thể thời tiết đã làm thay đổi tập tính của cá mập, làm cho chúng trở nên hung dữ hơn.

Nhóm nghiên cứu cũng đã đưa ra một số giải pháp tăng khả năng phòng ngừa hiện tượng cá mập tấn công người tắm biển trong thời gian trước mắt, trong đó chú trọng giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng; giảm số chà cá, chà tôm, lưới lồng… quá gần bờ nhằm giảm thiểu khả năng cá mập tấn công người tắm biển.

TTXVN

Vận hội mới cho du lịch Việt Nam

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, được cho là sẽ có tác động tích cực đến công tác quản lý, phát triển ngành du lịch.

Tuy nhiên, có nhiều vấn đề đặt ra trong triển khai thực hiện chiến lược, bao gồm cả những khó khăn mà nếu không được giải quyết thỏa đáng thì rất khó thực hiện được mục tiêu phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn. Về vấn đề trên, Báo Hà nội mới đã trao đổi với ông Nguyễn Mạnh Cường – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Việt Nam.

 

Vận hội mới của ngành du lịch

- Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Từ góc độ quản lý ngành, ông đánh giá thế nào về tác động của nó đối với sự phát triển du lịch Việt Nam?

- Chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển ngành, nếu được triển khai thực hiện tốt chắc chắn mang lại vị thế mới cho ngành du lịch, thể hiện qua chỉ số đóng góp của ngành vào GDP, vai trò tác động tới sự phát triển của các ngành kinh tế khác, khả năng tạo việc làm và những tác động chính trị – xã hội quan trọng khác. Có thể coi đây là vận hội mới đối với ngành du lịch…

- Ông gọi là “vận hội mới” có hợp lý?

- Tôi cho là hợp lý. Chiến lược vừa rộng dài, vừa chi tiết, hội đủ sự cần có của một văn bản mang tính định hướng ngành. Năm quan điểm chiến lược phát triển du lịch và các mục tiêu nêu trong chiến lược vừa thể hiện sự quan tâm của Chính phủ, vừa khẳng định vị trí, vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển đất nước. Bảy nhóm giải pháp phát triển du lịch và kế hoạch hành động nêu trong chiến lược, nếu được triển khai đồng bộ thì chắc chắn tạo bước đột phá quan trọng.

- Năm quan điểm, bảy nhóm giải pháp, chắc chắn rất quan trọng. Vấn đề là trong cuộc sống, ta vẫn nghe bao điều bất cập mãi chưa giải quyết được của ngành du lịch?

- Cứ hình dung thế này cho đơn giản. Như khi ta xây một ngôi nhà thì phải biết xây để làm gì, để ở hay bán, nhà cho bao nhiêu người ở. Từ đó mới có phương án tổng thể, cả về quy mô, thiết kế kiến trúc, vật liệu, xem thợ thuyền thế nào. Và dự liệu tiền nong nữa. Mình còn khó khăn thì phải tập trung cho khâu nào, có thể xây chắc móng rồi định lộ trình cất từng tầng một… Tóm lại là phải có định hướng.

Chiến lược cũng vậy, dù thực tế là nó khác một trời một vực so với việc xây nhà, thậm chí là cả quần thể đô thị. Trong chiến lược, Chính phủ xác định rõ quan điểm định hướng, đầu tiên là phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP. Đó là quan điểm xuyên suốt, có tính bao trùm. Bốn quan điểm sau là định hướng phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, rõ trọng tâm, trọng điểm và khả năng cạnh tranh theo hướng bền vững, gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa, cảnh quan, môi trường; phát triển đồng thời cả du lịch nội địa và quốc tế, đẩy mạnh xã hội hóa để huy động tối đa nguồn lực cả trong, ngoài nước và phát huy lợi thế, tiềm năng, thế mạnh đặc trưng vùng, miền… Chiến lược mang tính vĩ mô nhưng sát thực tế, rõ đường hướng lâu dài, nhất quán hướng tới mục tiêu chung. Như vậy, chỉ nói về quan điểm định hướng thôi đã đáng để coi là vận hội mới.

- Nhưng như thế thì phải dự liệu khả năng, xác định trở lực có thể xuất hiện để định kế hoạch thực hiện chiến lược một cách hiệu quả. Khó khăn có thể là gì, thưa ông?

- Bối cảnh nền kinh tế nói chung đang ở trong giai đoạn đầy khó khăn. Xung đột an ninh, bất ổn chính trị ở nhiều nơi trên thế giới; dịch bệnh, thiên tai, thay đổi giá nhiên liệu, tỷ giá và đặc biệt là khó khăn kinh tế của các nước là thị trường gửi khách chính của du lịch Việt Nam; môi trường cạnh tranh quốc tế trong lĩnh vực du lịch ngày càng gay gắt… Đó là những thách thức đáng kể. Bên cạnh đó là khó khăn kinh tế trong nước, chỉ số lạm phát vẫn cao, thị trường tài chính, tiền tệ có nhiều biến động, tình hình dịch bệnh, thiên tai ở nhiều nơi… Hơn nữa, cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng ở các khu, điểm du lịch và hạ tầng giao thông nhiều nơi còn yếu kém, đội ngũ nhân lực còn thiếu tính chuyên nghiệp, sản phẩm còn đơn điệu. Những điều đó hạn chế khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Cũng cần phải tính đến một thực tế là hệ thống luật pháp, chính sách về du lịch ở ta vẫn còn hạn chế, chồng chéo, chưa đồng bộ, bộ máy quản lý nhà nước về du lịch bộc lộ bất cập, chưa ngang tầm nhiệm vụ và yêu cầu quản lý ngành mũi nhọn.

Mô hình quản lý chưa đầy đủ?

- Ông vừa nói đến sự hạn chế trong bộ máy tổ chức quản lý. Sự thực thì sự hạn chế đó cụ thể thế nào, tại sao và có thể khắc phục hay không?

- Chủ trương hình thành Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực của Đảng và Nhà nước là đúng đắn, phù hợp với xu thế cải cách, tinh gọn bộ máy hành chính nhà nước. Tuy nhiên, xuất phát từ thực tiễn, chúng tôi thấy rằng Tổng cục Du lịch hiện nay là một tổ chức không đầy đủ, chưa phát huy hiệu quả vai trò là một cơ quan tham mưu quản lý ngành tương đối độc lập trong bộ đa ngành. Là một ngành kinh tế nhưng công tác kế hoạch, đầu tư nằm tại Vụ Kế hoạch – Tài chính thuộc Bộ, Tổng cục Du lịch rất khó chủ động đề xuất và tham gia ý kiến với các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng du lịch. Là cơ quan quản lý chuyên ngành nhưng lại không có cơ quan thanh tra chuyên ngành giống như ở Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế. Công tác xúc tiến quảng bá du lịch cũng chỉ được đảm nhiệm một phần, còn một phần do một số vụ, cục thuộc Bộ đảm nhiệm nên nguồn lực phân tán, hiệu quả hạn chế.

- Có thông tin về việc một số thành phố lớn muốn đề nghị cho phép thành lập lại sở du lịch nhằm giải quyết những bất cập trong công tác quản lý. Cách nghĩ ấy có đúng không, thưa ông? Nhìn ra quanh ta, Malaysia, Campuchia, Philippines đã thành lập Bộ Du lịch. Quan điểm của ông về vấn đề đó như thế nào?

- Tôi nghĩ, để quản lý hiệu quả một ngành kinh tế mũi nhọn thì tất yếu phải kiện toàn hệ thống quản lý nhà nước, theo hướng hình thành bộ du lịch và sở du lịch nhằm phát huy vai trò chủ động và tính chuyên nghiệp trong quản lý. Trước những bất cập hiện nay, đúng là một số nơi có nguyện vọng thành lập sở du lịch để tham mưu, giúp chính quyền địa phương quản lý hoạt động du lịch một cách hiệu quả hơn. Có thể sắp tới Bộ Nội vụ sẽ làm việc với Tổng cục Du lịch về dự kiến trình Chính phủ hình thành sở du lịch ở một số địa bàn du lịch trọng điểm.

Tính liên ngành và sự phối hợp

- Cứ cho là mô hình tổ chức quản lý hiện còn chưa phù hợp đi nữa nhưng với đội ngũ và điều kiện như hiện nay, chúng ta đã đủ sức quản lý hoạt động du lịch tốt, đâu dễ để xảy ra tình trạng nhũng nhiễu khách, chất lượng dịch vụ kém… như đã thấy ở nhiều nơi.

- Đó là điều cần rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, thực tế là đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn ở các sở văn hóa, thể thao và du lịch hiện nay còn thiếu bởi sau khi sáp nhập ngành, một số chuyển công tác hoặc được bố trí sang lĩnh vực khác. Hơn nữa, khách quan thì một mình ngành du lịch không thể tạo ra môi trường du lịch tốt được.

- Ý ông là về tính liên ngành, sự phối hợp giữa ngành du lịch và địa phương?

- Đúng vậy. Mối liên kết ấy hiện chưa tương xứng với yêu cầu dù chất lượng phối hợp đã được cải thiện trong thời gian qua.

- Hệ lụy từ mối liên kết lỏng lẻo đó là gì, thưa ông?

- Khá nhiều đấy. Nói ngắn gọn thì điều đó có thể dẫn đến hậu quả làm phiền lòng du khách, làm xấu hình ảnh điểm đến, ảnh hưởng xấu tới việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và triển khai thực hiện Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam.
- Ông phân tích rõ hơn được không?

- Điển hình như tình trạng bắt khách phải trả giá gấp nhiều lần so với giá trị thực trên một số tàu chở khách tại Vịnh Hạ Long, taxi lừa đảo khách tại sân bay Nội Bài và Tân Sơn Nhất. Rồi tự ý nâng giá dịch vụ hoặc không niêm yết giá để “chém” khách, mức chênh giữa giá chào mời và giá thanh toán tại một số trung tâm du lịch tại Nha Trang, Hạ Long, Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh. Và cảnh quan, môi trường, điều kiện hạ tầng… Tình trạng này đòi hỏi sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương để lập lại môi trường du lịch lành mạnh.
- Môi trường du lịch lành mạnh không chỉ là vấn đề giá cả dịch vụ, chất lượng lưu trú…

- Hẳn nhiên môi trường du lịch là sự tổng hợp của nhiều yếu tố và điều đó đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhiều bên. Tôi xin đưa ra ví dụ cụ thể về khu nghỉ dưỡng Topas Ecolodge và thôn Bản Đền, xã Bản Hồ ở Lào Cai, một trong số điểm đến đáng chú ý. Trong khi địa phương tốn công sức thu hút các nhà đầu tư phát triển du lịch, trong thực tế thì nhà đầu tư Đan Mạch đã đầu tư vào khu nghỉ dưỡng Topas Ecolodge thân thiện với môi trường, sử dụng năng lượng mặt trời, tổ chức du lịch có trách nhiệm với cộng đồng… thì việc xây dựng thủy điện nhỏ đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường, cảnh quan du lịch, ảnh hưởng đến hoạt động du lịch tại đây. Điều đáng lo ngại rằng đó không chỉ là vấn đề của riêng Lào Cai!

- Vậy thì tính liên ngành, liên vùng cần được hiểu thế nào? Chắc chắn không phải một phép cộng đơn giản, thưa ông?

- Tất nhiên là không. Du lịch chỉ có thể phát triển được nếu có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành và địa phương. Trong thời gian qua, nhiều vướng mắc về cơ chế, chính sách và thủ tục liên quan đến khách du lịch đã được cải thiện. Tuy nhiên, để tạo ra môi trường thực sự thuận lợi thì cần tiếp tục cải tiến, đơn giản hóa hơn nữa các thủ tục có tính liên ngành như thủ tục xuất nhập cảnh, hải quan, thủ tục cho các đoàn khách mang phương tiện vào Việt Nam…

- Ta đã nói rất nhiều về chất lượng điểm đến, yếu tố tiên quyết để giữ chân khách, hoặc giả là khiến khách quốc tế muốn quay lại Việt Nam. Vấn đề có vẻ phụ thuộc vào sự phối hợp của ngành du lịch và địa phương?

- Thời gian qua, hầu hết các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có tiềm năng du lịch đều thành lập ban chỉ đạo phát triển du lịch, nhiều nơi tích cực tổ chức sự kiện du lịch, lễ hội du lịch văn hóa, thể thao du lịch… Tuy nhiên, một số địa phương dù rõ tiềm năng du lịch nhưng chưa nhận thức đúng vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nên chưa quan tâm đầu tư đúng mức cho hoạt động này, chưa huy động được các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch.

Tăng cường xúc tiến, quảng bá du lịch

- Chất lượng điểm đến đáp ứng nhu cầu tại chỗ của khách, còn làm sao để khách biết đến mình phụ thuộc phần lớn vào công tác xúc tiến du lịch. Chất lượng phần việc quan trọng này hiện ở mức nào, thưa ông?

- So với trước thì đã có tiến bộ rõ rệt. Thực tế thì từ năm 2000 đến nay, du lịch Việt Nam đã và đang nổi lên, trở thành một điểm đến thú vị.

Tuy nhiên, việc này còn nhiều hạn chế, quan trọng là thiếu tính chuyên nghiệp, nguồn tài chính cho hoạt động xúc tiến, quảng bá đã hạn chế lại bị phân tán. Ngoài ra, việc lựa chọn thị trường mục tiêu chưa dựa trên kết quả nghiên cứu thị trường, định vị điểm đến còn chưa hiệu quả. Ở đây, Tổng cục Du lịch tự thấy cần có biện pháp hữu hiệu hơn để kiểm soát hoạt động xúc tiến du lịch quốc gia, bảo đảm nó không mang tính tự phát.

- Lượng khách quốc tế đến Việt Nam vài năm qua đã tăng về số lượng. Nhưng con số 6 triệu khách/năm 2011 có thuyết phục được ông không?

- Chưa. Thực sự là nó chưa xứng với tiềm năng của du lịch Việt Nam.

- Nói vậy tất phải có nhiều nguyên nhân, trong đó có hạn chế của công tác xúc tiến, quảng bá. Vấn đề đặt ra với ngành du lịch là gì?

- Ngành du lịch đã xác định tám nhiệm vụ trọng tâm về xúc tiến, quảng bá du lịch. Kể ra đây thì dài, nhưng có thể hiểu những nhiệm vụ ấy hướng đến việc thực hiện chiến lược một cách hiệu quả, rõ tính mục tiêu là nâng cao chất lượng nghiên cứu thị trường, xây dựng và quảng bá điểm đến, sản phẩm du lịch đặc trưng; tham gia thị trường thế giới một cách chủ động, chuyên nghiệp và xác định rõ thị trường mục tiêu dựa trên kết quả nghiên cứu kỹ lưỡng…

- Cảm ơn ông về cuộc trao đổi!

Đức Huy thực hiện , Ảnh: Nguyệt Ánh

Sẽ có “siêu thị” du lịch nội địa

Nhân sự kiện Ngày hội du lịch TP.HCM tổ chức từ ngày 12 đến 15-4, ông Lã Quốc Khánh – phó giám đốc Sở VH-TT &DL TP.HCM, cho biết đây là cơ hội để thúc đẩy phát triển thị trường du lịch nội địa.

Nguồn: Tổng cục Du lịch VN – Ảnh: Thanh Đạm - Đồ họa: Vĩ Cường

Ông Khánh nói:

- Một trong những mục tiêu quan trọng của ban tổ chức là sẽ tổ chức sự kiện này như một siêu thị để các doanh nghiệp, công ty dịch vụ, du lịch giới thiệu tới người tiêu dùng các sản phẩm tour du lịch. Sân chơi gồm các hoạt động lễ hội, văn hóa và cũng là nơi để người tiêu dùng có cơ hội tìm hiểu thông tin, tham khảo, được tư vấn, lựa chọn… đặt mua các tour du lịch. Trong thời gian diễn ra sự kiện này, các doanh nghiệp du lịch cũng giới thiệu nhiều chương trình khuyến mãi… Tôn vinh các công ty lữ hành bằng các giải thưởng ghi nhận sự nỗ lực hoàn thiện và đóng góp sản phẩm tour cho du khách.

 

Ông Lã Quốc Khánh – Ảnh: H.T.V.

 

“Người tiêu dùng cứ nghĩ là muốn đi du lịch phải đến công ty, nhưng nay họ đã có thể tìm đến “siêu thị” chọn hàng, chọn dịch vụ. Các công ty tham gia giới thiệu sản phẩm của mình ở đây đã được cơ quan quản lý nhà nước chứng nhận, đảm bảo… “

Ông Lã Quốc Khánh (phó giám đốc Sở VH-TT&DL TP.HCM)

* Điểm khác biệt của sự kiện năm nay là gì, thưa ông?

- Ngoài các doanh nghiệp lữ hành có tên tuổi, thị phần lớn năm nay ghi nhận sự tham gia của nhiều doanh nghiệp dịch vụ du lịch, lữ hành quy mô vừa, thậm chí quy mô nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp chuyên kinh doanh du lịch nội địa. Chúng tôi đánh giá cao ý tưởng của báo Tuổi Trẻ dành một giải thưởng cho những doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ nhằm tôn vinh, ghi nhận những nỗ lực trong kinh doanh của các doanh nghiệp này, khuyến khích họ tiếp tục phấn đấu vươn lên khẳng định mình và cung cấp những dịch vụ tốt nhất, cạnh tranh nhất cho người tiêu dùng trong thời gian tới. Năm nay cũng ghi nhận sự tham gia của các doanh nghiệp du lịch với tư cách là ứng cử viên trong các giải thưởng với số lượng đông gấp đôi so với năm trước.

* Ông nhìn nhận sự đóng góp của doanh nghiệp kinh doanh du lịch nội địa, số lượng các công ty có hoặc chuyên kinh doanh du lịch nội địa trong sự kiện năm nay đã tăng thêm đáng kể?

- Tôi cho rằng du lịch nội địa phải là căn bản để từ đây phát triển du lịch phục vụ khách quốc tế. Nhiều năm trước các doanh nghiệp chuyên kinh doanh du lịch phục vụ du khách nước ngoài được coi trọng vì thu nhập bình quân của người dân VN lúc đó chưa cao, lượng khách du lịch nội địa chưa nhiều, chi tiêu hạn chế, nếu có chỉ là hình thức “nghỉ mát” rất gọn.

Khi kinh tế VN phát triển, thu nhập của người dân khá lên đã hình thành thị trường du lịch nội địa và thị trường này ngày càng phát triển nhanh, trở thành yếu tố cơ bản để thúc đẩy ngành du lịch VN phát triển. Trong vài năm gần đây, trải qua nhiều “sự cố” như cúm H5N1, SARS, khủng hoảng kinh tế…du lịch nội địa đã khẳng định vai trò cơ bản của mình và có những thời điểm trở thành lĩnh vực cứu vãn cho cả ngành du lịch và nền kinh tế. Chẳng hạn năm 2009, ngành du lịch TP cùng các công ty du lịch lữ hành đã phát động chiến dịch hợp tác với các đối tác ở 27 tỉnh, thành phố, Hãng hàng không Vietnam Airlines tạo ra những chương trình giảm giá, khuyến mãi kích cầu và từ đây lan tỏa thành một chương trình cả nước hưởng ứng kích thích thị trường du lịch nội địa phát triển, doanh thu từ các doanh nghiệp nội địa đã cứu vãn được tình hình khó khăn của thị trường khách quốc tế năm đó. Năm 2011, lần đầu tiên ngành du lịch TP đạt mức đóng góp 11% GDP của TP.HCM, tăng 1% so với năm 2010, trong đó có sự đóng góp rất lớn của du lịch nội địa.

* Nhưng dường như cơ quan quản lý nhà nước, đối tác (hãng vận chuyển, nhà hàng, khách sạn…) chưa đánh giá đúng tầm quan trọng của du lịch nội địa?

- Đó là cái sai mà không phải ai cũng có thể nhìn thấy. Thật sự cũng còn nhiều cơ quan quản lý nhà nước chưa đánh giá đúng vai trò quan trọng này của du lịch nội địa. Họ chưa nhận ra rằng phải lấy du lịch nội địa làm căn bản đồng thời chú trọng du lịch quốc tế, phải đi bằng cả hai chân. Sau dịch SARS ở Thái Lan, hơn 1.000 công ty du lịch chỉ phục vụ du khách nước ngoài phá sản, các doanh nghiệp kinh doanh cả nội địa và quốc tế vẫn tồn tại, thậm chí công ty chuyên du lịch nội địa lại phát triển tốt. Ngay như VNA, hãng hàng không quốc gia-thành viên chủ chốt trong Ban chỉ đạo phát triển du lịch quốc gia, cũng ít quan tâm đến các chương trình khuyến mãi kích thích người du lịch tham gia các tour đến điểm đến mới trong nước.

Qua năm lần tổ chức sự kiện này, chúng tôi nhận thấy vai trò quan trọng của thị trường nội địa và các công ty du lịch lữ hành cũng nhìn thấy điều này. Trong nhiều năm liền từ 2009 đến nay, các công ty tham gia đã mạnh dạn đầu tư tiền vào sự kiện này, xây dựng gian hàng lớn, tạo không gian tương tác giữa khách hàng và công ty, cung cấp nhiều chương trình khuyến mãi… Có những công ty đầu tư từ 150-300 triệu đồng cho sự kiện này, nhưng ngược lại họ đã có thêm nhiều khách hàng, ký được nhiều hợp đồng…Các địa phương cũng nhận thấy lợi ích của sự kiện này như du lịch Quảng Bình bây giờ VNA đã không có đủ vé bán cho du khách đến đây trong những dịp cao điểm du lịch nội địa.

Nhiều hoạt động trong ngày hội

Ngày hội du lịch TP.HCM lần 8 (từ ngày 12 đến 15-4 tại công viên 23-9, Q.1) do Sở Văn hóa – thể thao và du lịch TP.HCM, Ban chỉ đạo Tây Nam bộ, Diễn đàn hợp tác kinh tế Đồng bằng sông Cửu Long, Hiệp hội Du lịch TP và báo Tuổi Trẻ phối hợp tổ chức. Ngày hội có nhiều hoạt động như lễ diễu hành, biểu diễn văn hóa nghệ thuật tôn vinh các thương hiệu du lịch, liên hoan “Sắc màu lễ hội VN”, liên hoan “Đờn ca tài tử Nam bộ”, liên hoan “Giọng hát vàng ngành du lịch”, triển lãm “Ảnh đẹp lễ hội VN”…

Các doanh nghiệp tham gia sẽ giới thiệu các chương trình khuyến mãi giá tour ưu đãi dịp hè 2012, bốc thăm trúng thưởng … dành cho du khách mua tour trong những ngày diễn ra lễ hội.

Triển lãm ảnh “Lễ hội VN”: do cơ quan Bộ VH-TT&DL tại TP.HCM kết hợp tạp chí Du Lịch TP.HCM, CLB Nhiếp ảnh du lịch TP.HCM, báo Tuổi Trẻ thực hiện với chủ đề “Sắc màu lễ hội VN” giới thiệu các ảnh đẹp về lễ hội từ các tỉnh, thành trên cả nước.

LÊ NAM thực hiện

Việt Nam lần đầu tiên tổ chức lễ hội khinh khí cầu

Ngày 17/3, ông Ngô Minh Chính, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Thuận cho biết Bộ Quốc phòng đã đồng ý cho tỉnh này tổ chức “Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế Việt Nam lần thứ I – Bình Thuận 2012″.

Lễ hội Khinh khí cầu quốc tế dự kiến sẽ diễn ra từ ngày 26/4 đến 01/5. Không gian trình diễn chính của lễ hội là bầu trời thành phố Phan Thiết và tại xã Hòa Thắng (huyện Bắc Bình) ở độ cao từ 150m đến 500m. Lễ hội sẽ có sự tham gia từ 20-30 quả khinh khí cầu cấp 7 (cao khoảng 20-25m, đường kính 16-18m); số phi công điều khiển khoảng 50 người đến từ Indonesia, Nhật Bản, Đức, Pháp, Bỉ… Vào ban ngày, lễ hội sẽ tạo ra không gian bay mở rộng, nhưng vẫn bảo đảm vừa tầm quan sát của người xem. Buổi tối, các đội bay tiếp tục trình diễn hiệu ứng đèn lồng.

Đây là lần đầu tiên lễ hội khinh khí cầu quốc tế được tổ chức tại Việt Nam và Bình Thuận được đứng ra tổ chức sự kiện này. Chi phí liên quan đến việc tổ chức lễ hội sẽ do Công ty TNHH Dịch vụ Chiến Thắng (TP Hồ Chí Minh) bảo đảm 100%, ngân sách nhà nước không hỗ trợ. Theo đơn vị tổ chức, nếu lễ hội diễn ra thành công sẽ tiến tới xây dựng một festival khinh khí cầu quốc tế định kỳ diễn ra hằng năm tại thành phố du lịch Phan Thiết, Bình Thuận./.

Nguồn: HNM

Để Du lịch Việt Nam xứng đáng là ngành kinh tế mũi nhọn

Đất nước vào xuân với khí thế và quyết tâm mới. Năm 2011 vượt lên thách thức và khó khăn chung của toàn cầu, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, cả nước đã chung sức, chung lòng vượt lên những thách thức, khó khăn, đạt được những thành tựu cơ bản về kinh tế xã hội. Trong thành tích chung đó, có sự đóng góp của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Triển khai nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội năm 2011-2012, với tinh thần “Đoàn kết, năng động, sáng tạo, đẩy mạnh sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch phát triển hiệu quả, bền vững”, ngày đầu của năm, toàn ngành đã triển khai kế hoạch và các hoạt động thiết thực, góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội phát triển, ổn định an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Cùng với lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể thao, ngành du lịch đã có những đóng góp xứng đáng trong việc thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển.

Năm 2011, ngành du lịch Việt Nam đón 6 triệu lượt khách quốc tế, 30 triệu lượt khách nội địa, tổng thu du lịch đạt hơn 130 nghìn tỷ đồng, đóng góp trên 5% GDP và tạo ra trên 1,3 triệu việc làm. Đầu tư của nhà nước và tư nhân vào cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất cho du lịch ngày càng tăng. Hệ thống khu, tuyến, điểm du lịch, doanh nghiệp du lịch được hoàn thiện, làm thay đổi diện mạo và ngày càng khẳng định vị thế, vai trò của ngành du lịch trong đời sống kinh tế xã hội. Đặc biệt, với sự quan tâm chỉ đạo của Chính phủ, sự đồng thuận và nhiệt tình tham gia của các Ban, Bộ, Ngành, Đoàn thể, nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế, vịnh Hạ Long đã được bầu chọn là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới, góp phần quảng bá sâu rộng hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới, mở ra hướng phát triển thuận lợi cho du lịch góp phần tăng trưởng kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, bảo vệ môi trường, giữ vững an ninh quốc phòng.

Bước vào năm 2012, quá trình thực hiện nhiệm vụ và các mục tiêu của ngành Du lịch đang có nhiều thuận lợi: Xu hướng du lịch ngày càng trở nên phổ biến, du lịch quốc tế tiếp tục tăng trưởng. Theo dự báo của Tổ chức Du lịch thế giới, năm 2012 số khách du lịch quốc tế sẽ đạt 1 tỷ lượt, thu nhập du lịch vượt qua 1000 tỷ USD. Ở trong nước cùng với sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp, ngành du lịch tiếp tục phát huy đà tăng trưởng của năm 2011 để thúc đẩy du lịch Việt Nam phát triển nhanh và bền vững. Ngoài ra, “Chiến lược Phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn năm 2030” vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là nền tảng cơ bản và định hướng phát triển lâu dài với những mục tiêu hết sức cụ thể và quan trọng: “Phấn đấu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, cạnh tranh được với các nước trong khu vực và thế giới”. Chiến lược nhấn mạnh tới chú trọng phát triển du lịch theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa dân tộc; gìn giữ cảnh quan, bảo vệ môi trường; đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Mục tiêu cụ thể của chiến lược đặt ra là tốc độ tăng trưởng của ngành Du lịch bình quân thời kỳ 2011-2020 đạt 11,5 đến 12% năm. Đến năm 2020, Việt Nam đón 10-10,5 triệu lượt khách du lịch quốc tế và 47-48 triệu lượt khách du lịch nội địa, tổng thu từ khách du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp từ 6,5-7% GDP cả nước, tạo ra 3 triệu việc làm trong đó có 870.000 lao động trực tiếp là du lịch. Năm 2030, tổng thu từ khách du lịch tăng gấp 2 lần năm 2020.

Trong năm 2012, dự báo chính trị – kinh tế thế giới sẽ có những diễn biến hết sức phức tạp, khó lường. Điều này chắc chắn sẽ tác động không nhỏ đến nền kinh tế – xã hội nước ta và ngành du lịch vốn rất nhạy cảm nói riêng. Bên cạnh đó, cạnh tranh quốc gia, trong đó lĩnh vực du lịch nhất là các quốc gia trong cùng khu vực đang càng trở nên gay gắt. Để thực hiện tốt những mục tiêu cụ thể, trước mắt cũng như lâu dài mà “Chiến lược Phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” đã đặt ra, đồng thời để Du lịch thật sự đóng vai trò là động lực phát triển kinh tế, xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, vùng sâu, vùng xa, toàn ngành Du lịch cần phải tập trung làm chuyển biến mạnh mẽ các lĩnh vực: xây dựng hệ thống sản phẩm du lịch chất lượng cao, đặc sắc, đa dạng và đồng bộ, có giá trị tăng cao để đáp ứng nhu cầu của du khách trên cơ sở phát huy, khai thác sự độc đáo, đa dạng trong bản sắc văn hóa dân tộc, sự phong phú, ưu đãi của thiên nhiên của nước ta. Đồng thời, tích cực nghiên cứu nhu cầu của các đối  tượng khách ở các thị trường khác nhau, từ đó xây dựng sản phẩm du lịch có chất lượng, giá trị cao, phát triển thành những thương hiệu du lịch nổi tiếng, có khả năng cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, tập  trung ưu tiên phát triển các loại hình du lịch biển, đảo, du lịch văn hóa, du lịch di sản, du lịch sinh thái, du lịch MICE… Đặc biệt, cần phát huy thế mạnh và tăng cường liên kết giữa các vùng, miền, địa phương, hướng tới hình thành sản phẩm du lịch đặc trưng theo vùng du lịch.

Một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự đột phá trong quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch là công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Phát triển nhân lực du lịch cần bảo đảm về cả chất lượng cũng như số lượng, cân đối ngành nghề, trình độ đào tạo phải ngày được nâng cao để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Phải đa dạng hóa các hình thức, loại hình đào tạo, khuyến khích đào tạo tại chỗ, tự đào tạo theo nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu xã hội.

Đối với công tác quản lý Nhà nước về Du lịch cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách về du lịch; sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch, theo hướng thông thoáng, cải cách hành chính, phù hợp với xu thế phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế. Nâng cao năng lực của các cơ quan quản lý về du lịch từ Trung ương đến địa phương, đồng thời tạo sự chủ động, năng động, nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp du lịch… Trong đó cần nâng cao nhận thức của xã hội về phát triển du lịch, gắn liền với bảo vệ môi trường, phát triển sản phẩm du lịch có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, tôn trọng yếu tố tự nhiên và văn hóa địa phương. Phát triển du lịch không chỉ đặt ra chỉ tiêu số lượng, thu nhập, việc làm, giá trị gia tăng mà cần phải phát triển theo chiều sâu, lấy sự hài lòng, thỏa mãn và chất lượng hưởng thụ của du khách làm tiêu chí phát triển.

Cùng với các giải pháp đề ra, cán bộ toàn ngành du lịch cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần 4 BCH Trung ương Đảng khóa XI; bám sát thực tiễn có hiệu quả Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu, chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2012, với tinh thần “Đoàn kết, năng động, sáng tạo, phát huy sức mạnh tổng hợp, vượt qua thách thức”, góp phần phát triển sự nghiệp Văn hóa, Gia đình, Thể dục Thể thao và Du lịch hiệu quả, bền vững, thực hiện thắng lợi các mục tiêu công tác đã đề ra trong năm 2012.

Hoàng Tuấn Anh – Ủy viên BCH Trung ương ĐảngBộ trưởng Bộ VHTTDL

Singapore – Việt Nam ưu tiên phát triển du lịch tàu biển

Với lượng khách quốc tế trung bình đạt khoảng 17 triệu lượt/năm, Việt Nam đang xem Singapore là mô hình cần nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm để phát triển du lịch giai đoạn tới.

Trưởng đại diện Khu vực Đông Dương, Tổng cục Du lịch Singapore Fiona Loi chia sẻ về cách làm du lịch của Singapore cũng như đẩy mạnh hợp tác phát triển du lịch tàu biển trong khu vực.

Bà có thể chia sẻ bí quyết thành công của du lịch Singapore thời gian qua?

- Với mục tiêu hướng đến du lịch chất lượng và tạo ra các giá trị cho khách du lịch, chúng tôi luôn tìm kiếm cơ hội để tăng năng suất thông qua thiết kế lại quy trình thực hiện và tăng cường nguồn lực. Ngoài ra, Singapore luôn đầu tư vào các sản phẩm du lịch mới nhằm đảm bảo liên tục đem đến những trải nghiệm tuyệt vời cho du khách đến Singapore lần đầu và du khách thường xuyên đến Singapore, từ các lễ hội văn hóa thường niên, ẩm thực và thời trang, đến các hoạt động nghệ thuật, giải trí và thể thao.

YourSingapore (Singapore của bạn) – chiến dịch quảng bá hiện tại của du lịch Singapore khuyến khích du khách tự thiết kế tour theo nhu cầu và mong muốn của mình. Chúng tôi luôn lấy khách du lịch làm trọng tâm, nhằm mang đến những trải nghiệm thú vị cho họ, đồng thời tạo nên sức quyến rũ và đa dạng của các điểm tham quan, khiến du khách ngày càng yêu mến Singapore.

7 tháng năm 2011, lượng khách Singapore đến Việt Nam tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước. Bà đánh giá như thế nào về sự tăng trưởng này?

- Việt Nam đang ngày càng được biết đến như một điểm du lịch được ưa thích tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, nhờ di sản phong phú, thiên nhiên, thắng cảnh tuyệt đẹp. Vì thế sự tăng trưởng của khách quốc tế, trong đó có khách du lịch Singapore, là điều không có gì phải ngạc nhiên.

Để tiếp tục đưa du lịch giữa hai nước phát triển, Singapore sẽ đẩy mạnh hợp tác với Việt Nam trên lĩnh vực gì, thưa bà?

- Ngành du lịch Singapore và Việt Nam luôn có mối quan hệ song phương vững chắc. Thỏa thuận hợp tác phát triển du lịch giữa Việt Nam và Singapore ký năm 1994 giúp hai nước có thể thường xuyên trao đổi kinh nghiệm phát triển du lịch như phát triển nhân lực, tiếp thị và quảng bá du lịch, gần đây nhất là kế hoạch phát triển du lịch tàu biển. Năm 2010, Tổng cục Du lịch Singapore đã phối hợp cùng Tổng cục Du lịch Việt Nam đánh giá khả năng phát triển của các cảng Việt Nam để định hướng phát triển du lịch tàu biển. Chúng tôi đã có 2 chuyến khảo sát tại miền Trung (Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng) và miền Nam (TP Hồ Chí Minh, Nha Trang và Phú Quốc), hướng đến thu hút các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tàu biển triển khai kế hoạch đưa tàu đến, đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế khu vực Đông Nam Á. Với ý nghĩa này, thời gian tới hợp tác song phương trên lĩnh vực du lịch tàu biển tiếp tục là một trong những đối thoại quan trọng giữa hai nước.

Châu Á hiện được đánh giá là điểm đến mới của ngành du lịch tàu biển, Singapore sẽ phát triển lĩnh vực này như thế nào?

- Tổng cục Du lịch Singapore rất tích cực hợp tác với ngành du lịch các nước thành viên ASEAN để cùng phát triển và đẩy mạnh ý tưởng xây dựng du lịch tàu biển, bởi chúng tôi ý thức đây là một sản phẩm du lịch mang tính khu vực. Tháng 11 tới, Tổng cục Du lịch Singapore sẽ tham gia khai mạc Hội chợ Du lịch tàu biển châu Á lần thứ nhất. Đây sẽ là diễn đàn đáng tin cậy để các doanh nghiệp kinh doanh du lịch tàu biển tăng cường hiểu biết và trao đổi kỹ hơn về tiềm năng phát triển của ngành du lịch này…

Chiến lược Du lịch ASEAN giai đoạn 2011 – 2015 là đưa ASEAN trở thành điểm đến thân thiện, an toàn, có khả năng cạnh tranh cao trên trường quốc tế. Singapore sẽ có những hành động cụ thể gì góp phần vào thành công của chiến lược này?

Kế hoạch Chiến lược Du lịch ASEAN năm 2011 – 2015 (ASEAN Tourism Strategic Plan) là nỗ lực hợp tác chung của tất cả 10 nước thành viên ASEAN nhằm mang đến cho khách du lịch các sản phẩm du lịch đa dạng và độc đáo, môi trường du lịch an toàn và chất lượng dịch vụ được nâng cao; đồng thời cam kết mang đến nhiều cơ hội việc làm cùng chất lượng cuộc sống tốt hơn cho người dân địa phương thông qua các kế hoạch phát triển du lịch bền vững. Kế hoạch này mới được lãnh đạo của ngành Du lịch các nước thông qua vào tháng Giêng vừa qua, nên các nước thành viên vẫn đang trong giai đoạn phát triển kế hoạch tương ứng nhằm thực hiện được tầm nhìn đã đề ra. Với Singapore, chúng tôi cam kết tham gia tích cực các hoạt động đã được đề ra của khối ASEAN.

Xin cám ơn bà!

 

Theo ĐBND

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 69 other followers