10 đặc sản tiến vua nổi tiếng của người Việt

Để được đưa vào cung tiến vua, món ăn phải có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy. Có thể nói, những món đặc sản tiến vua này là “vua” của các loại đặc sản.

Nền ẩm thực phong phú của Việt Nam từ thời xa xưa đã sản sinh ra hàng trăm, hàng nghìn món ăn đặc sắc. Một phần nhỏ trong số những món ăn đó hưởng vị trí trang trọng đặc biệt khi được đưa vào cung đình để cung tiến các bậc vua chúa. Để được tuyển chọn, đó phải là những món ăn có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị tuyệt vời hiếm thấy. Có thể nói, những món đặc sản tiến vua này là “vua” của các loại đặc sản.

Dưới đây là một số đặc sản tiến vua nổi tiếng ở Việt Nam:
1. Bánh Phu Thê
Là nơi phát tích của vương triều nhà Lý, Đình Bảng (Từ Sơn, Bắc Ninh) thường được gọi là đất vua. Đây cũng vùng đất của một đặc sản nổi tiếng, đã được đưa vào tận kinh đô Huế để tiến vua, đó là bánh phu thê.
Hương vị của bánh ngọt ngào như duyện vợ chồng. Ảnh: Bếp gia đình.
Đúng như tên gọi của mình (phu thê nghĩa là vợ chồng), món bánh này không lẻ chiếc mà đi theo cặp. Phía sau những lớp là chuối, chiếc bánh hiện ra với lớp vỏ làm bằng bột nếp óng ánh màu vàng tươi. Nhân bánh là đỗ xanh giã nhuyễn, nhào đường, có thể cho thêm dừa.
2. Sâm cầm
Sâm cầm hồ Tây là món ăn nổi tiếng, đã đi vào câu ca dao “Dưa La, húng Láng, ngổ Đầm/Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây” của đất Thăng Long.
Sâm Cầm
Quan niệm dân gian cho rằng loài chim này di trú từ phương Bắc về phương Nam, chúng đào ăn nhân sâm trên đỉnh các núi cao ở Trung Quốc, Hàn Quốc nên được gọi là sâm cầm. Đó là lý do thịt Sâm cầm được cho là một món ăn đại bổ. Đây cũng là một món ăn khoái khẩu của vua Tự Đức.
Tương truyền, làng Nghi Tàm bên hồ Tây được lệnh mỗi năm phải tiến vua 40-50 con chim Sâm cầm, nếu thiếu sẽ bị phạt nặng.
3. Cá Anh Vũ
Nếu Sâm cầm là niềm tự hào của hồ Tây thì cá Anh vũ là thương hiệu bất hủ của ngã ba sông Bạch Hạc (Việt Trì, Phú Thọ). Với những thớ thịt trắng, quánh và đặc biệt là khối sụn môi giòn sần sật, cá anh vũ được người sành ẩm thực cho là ngon hơn bất kỳ loài cá nào của sông nước. Vì vậy, từ xa xưa, cá anh vũ đã được dùng làm thức tiến ăn tiến vua, được các bộ chính sử ghi lại.
Cá Anh Vũ
Cũng giống như sâm cầm hồ Tây, ngày nay cá Anh vũ đã gần như biến mất tại nơi vùng nước gắn với danh tiếng của mình. Ảnh: Hanoifishing.
4. Chè long nhãn
Chè Long Nhãn
Sau mỗi bữa ăn đầy sơn hào hải vị, vua chúa ngày xưa tráng miệng bằng gì? Một trong những câu trả lời là chè long nhãn hạt sen phố Hiến (Hưng Yên). Nguyên liệu chính của món chè tiến vua này là những quả nhãn lồng phố Hiến, loại nhãn có hương vị thơm quý phái, cùi dầy, ăn giòn, ngọt hơn bất cứ các loại nhãn nào khác.
5. Gà Đông Tảo
Bên cạnh nhãn lồng, đất Hưng Yên còn có một đặc sản tiến vua đặc sắc khác là gà Đông Tảo.
Gà Đông Tảo có thể được nấu thành nhiều món, nhưng độc đáo nhất là món “vảy rồng hầm thuốc bắc” làm từ đôi chân to quá khổ của chúng. Ảnh: 5 giây.
Là giống gà quý chỉ có ở huyện Khoái Châu, gà Đông Tảo còn được gọi là gà chân voi đôi chân to sần sùi như chân voi, thân hình chắc nịch. Giống gà này rất khó nuôi, đòi hỏi phải kỳ công chăm sóc và gà càng già càng quý, thịt ăn thường có mùi vị thơm ngon đặc trưng không lẫn với bất kỳ loại gà nào.
6. Chuối ngự Nam Định
Vẫn còn được trồng chọ đến ngày nay, chuối Ngự cho quả rất nhỏ, khi chín có màu vàng ướm như tơ tằm, mùi thơm ngát, vị ngọt thanh tao đầy quyến rũ… Ảnh: Yume.
Chuối Ngự Nam Định
Tương truyền, vào thời Trần, từ phủ Thiên Trường đến ngoài thành Nam Định, nhiều vùng là quê hương, thái ấp của vua quan nhà Trần. Cảm kích trước tài năng và đức độ của các bậc trị nước, dân thành Nam đã trồng một sản vật quý để dâng vua, đó chính là chuối ngự.
7. Cốm làng Vòng
Cốm Làng Vòng
Cốm làng Vòng, sản vật đặc trưng của đất Thăng Long đã nổi tiếng từ cách đây 1.000 năm, khi được đưa vào cung tiến vua các triều Lý.
Ngày nay, cứ mỗi mùa thu món ăn chơi làm từ lúa non này lại theo các gánh hàng rong ruổi khắp các phố phường Hà Nội. Cốm Vòng thường được mua về ăn với chuối chín hoặc nấu chè cốm. Đây cũng là nguyên liệu chính của bánh cốm Hàng Than, một món ăn cũng rất đậm chất Hà Nội.
8. Mắm tép Hà Yên
Mắm tép Hà Yên (huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa) là một đặc sản quý và độc đáo ở vùng chiêm trũng xứ Thanh, thời xưa thường được dùng để tiến vua.
Để làm loại mắm này, các chức sắc địa  phải cử người đến tận khe Gia Giã, làng Cổ Đam (vùng Bỉm Sơn bây giờ) để đánh riêng một loại tép quý, là tép riu nhỏ, có mầu trong xanh. Khi nấu nước mắm cũng phải chọn người nấu giỏi nhất vùng. Khi hoàn thành mắm có ánh vàng, sóng sánh như mật ong,
9. Rau muống Linh Chiểu
Trắng nõn và mềm giòn như giá đỗ, hương vị hài hòa, rau muống Linh Chiểu (huyện Phúc Thọ, Hà Nội) thời xưa rất được các bậc vua chúa ưa thích. Bởi vậy, giống rau này còn có tên gọi khác là rau muống tiến vua.
Để bảo đảm chất lượng, việc chăm sóc rau rất kỳ công và vất vả, đất trồng rau phải nằm sát sông, được hưởng mạch nước sủi trong vắt và phù sa sông Hồng bồi đắp. Do việc chăm sóc phức tạp, hiệu quả kinh tế không cao, ngày nay giống rau đặc sản này đang dần bị mai một.
10. Yến sào
Được làm từ nước dãi của những con chim yến, yến sào (tổ chim yến) là một đặc sản có hương vị rất hấp dẫn và giá trị dinh dưỡng cao.
Từ thời xưa, yến sào đã được khai thác tại các đảo Yến ở ngoài khơi tỉnh Khánh Hòa để cung tiến các vua chúa.
Ngày nay, cơ hội thưởng thức sản vật này vẫn nằm ngoài khả năng của đa số người dân Việt Nam bởi giá thành của chúng rất cao, từ 50-60 triệu đồng/kg. Phần lớn yến sào khai thác được xuất khẩu để thu ngoại tệ.
(Theo Đất Việt)

NHỮNG CÁI NHẤT CỦA VUA CHÚA VIỆT NAM

1. Ở ngôi lâu nhất:

Vua Lý Nhân Tông ở ngôi 55 năm (1072- 1127). Lý Nhân Tông còn là ông vua có nhiều niên hiệu nhất: 8 niên hiệu, trong đó có niên hiệu Hội Tường Đại Khánh được dùng lâu nhất là 10 năm. Vua là con trưởng của Lý Thánh Tông và mẹ là thái hậu Ỷ Lan. Nhân Tông trán dô mặt rồng, tay dài quá gối, sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, là một vua giỏi của triều Lý, hưởng thọ 61 tuổi.

2. Ở ngôi ít nhất:

Vua Lê Trung Tông (nhà tiền Lê) và vua Nguyễn Dục Đức (Nguyễn Phúc Ưng Chân), mỗi vị ở ngôi 3 ngày, không kịp đặt niên hiệu.

Khi Lê Hoàn mất, các con chém giết lẫn nhau. Sau 8 tháng đánh nhau quyết liệt, Trung Tông lên ngôi, được 3 ngày thì bị em là Lê Long Đĩnh giết chết.

Dục Đức lên ngôi theo di chiếu của Tự Đức. Hai phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết nại rằng Dục Đức muốn cải di chiếu nên đã sai Trần Tiễn Thành đọc bớt đi (đoạn nói mắt vua có tật, tính thì hiếu ****….), có tang vẫn dùng áo màu…. dâng sớ lên Hoàng thái hậu đặt vua khác. Vua bị phế khi vừa lên ngôi được 3 ngày ( 20, 21, 22.7.1883), bị giam và bỏ đói, rồi chết.

3. Lên ngôi muộn nhất:

Vua Trần Nghệ Tông, lên ngôi khi đã 49 tuổi, sau việc lật đổ con rể mình là Dương Nhật Lễ.

Dương Nhật Lễ cũng là người duy nhất không mang họ Trần làm vua dưới triều Trần. Sau khi Trần Dụ Tông mất, Lễ được chính mẹ của Dụ Tông là bà Hiến Từ Tuyên Thánh hoàng thái hậu đưa lên ngôi. Có được ngôi báu, Lễ quay lại bức hại bà và quý tộc họ Trần, cốt giành quyền bính cho họ Dương, ở ngôi được hơn năm thì bị Trần Nghệ Tông giết.

Lên ngôi muộn còn có Lê Thái Tổ (Lê Lợi) lúc 43 tuổi và Tiền Ngô Vương (Ngô Quyền) lúc 40 tuổi. Đây là 2 vị vua đầu triều, lên ngôi cách nhau 500 năm và đều phải trải qua chinh chiến gian khổ giành độc lập, chủ quyền cho dân tộc ta.

4. Lên ngôi sớm nhất:

Vua Lê Nhân Tông, lên ngôi khi mới được 1 tuổi 6 tháng. Vua là con thứ 3 của Lê Thái Tông. Thái Tông mất sớm, lúc 19 tuổi, trong vụ án Lệ Chi Viên, 4 tháng sau thì Nhân Tông lên ngôi, quyền bính lúc này trong tay bà Tuyên Từ hoàng thái hậu. Nhân Tông ở ngôi được 17 năm thì bị anh là Lê Nghi Dân cùng đồ đảng nổi dậy giết chết.

Các vua lên ngôi sớm còn có: Trần Thiếu Đế lúc 2 tuổi, Lý Cao Tông lúc 2 tuổi 2 tháng và Lý Anh Tông lúc 2 tuổi 6 tháng.

5. Lên ngôi ngay sau khi được lập làm Thái Tử và là nữ hoàng duy nhất:

Vua Lý Chiêu Hoàng (Lý Phật Kim), lên ngôi tháng 10 năm 1224. Vua là con thứ của Lý Huệ Tông. Huệ Tông không có con trai phải truyền ngôi cho con gái rồi đi tu. Chiêu Hoàng ở ngôi được hơn 1 năm thì bị buộc nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh 8 tuổi, chấm dứt 215 năm trị vì của nhà Lý. Tuy vậy, nữ hoàng cũng đã có niên hiệu là Thiên Chương Hữu Đạo (1224-1225). Năm bà 19 tuổi thì bị phế và giáng làm công chúa do không có con với Trần Cảnh, thay bà là chị ruột tên Thuận Thiên. Năm 40 tuổi, bà được đem gả cho Lê Tần, một danh tướng triều Trần, sinh được 2 con, thọ 60 tuổi.

6. Sống thọ nhất:

Chúa Nguyễn Hoàng, thọ 88 tuổi. Ông là người đầu tiên khai sinh ra lịch sử nhà Nguyễn 9 chúa 13 vua, dân thường gọi là chúa Tiên. Sự nghiệp của chúa bắt đầu từ tháng 10 năm 1558 khi vào trấn thủ Thuận Hóa, hòng thoát khỏi tai mắt của họ Trịnh. Chúa có công mở rộng bờ cõi nước ta về phía Nam, biên cương trong thời chúa trị vì đến tận tỉnh Phú Yên ngày nay.

7. Thọ kém nhất:

Vua Lê Gia Tông, thọ 14 tuổi. Vua kế vị anh mình là Lê Huyền Tông lúc 10 tuổi, tôn mẹ nuôi là bà chính phi của chúa Trịnh Doanh làm Quốc Thái Mẫu, còn mẹ đẻ chỉ được tôn làm Chiêu Nghi. Vua ở ngôi được 4 năm, đặt 2 niên hiệu, mất năm 1675, không con nối dõi, ngôi báu thuộc về em là Lê Hy Tông.

Xếp vào hạng này còn có vua Kiến Phúc (Nguyễn Phúc Ưng Đăng) hưởng dương 15 tuổi, vua Lê Túc Tông hưởng dương 16 tuổi.

8. Có nhiều con nhất:

Vua Minh Mạng, 142 người con. Ngoài bà phi Hồ Thị Hoa (mẹ vua Thiệu Trị sau này), Minh Mạng còn có hàng trăm bà phi, tần khác nữa, trong đó 40 bà có con với vua, tổng cộng được 78 hoàng tử và 64 hoàng nữ. Không kể chuyện hậu cung, Minh Mạng là một ông vua văn võ kim toàn, đưa nước Việt ta trở thành một trong những nước hùng mạnh nhất Đông Nam Á thời bấy giờ. Vua ở ngôi 21 năm (1820- 1841), thọ 49 tuổi.

9. Đăng quang nhiều nhất:

Vua Lê Thần Tông, hai lần làm vua. Đăng quang lần thứ nhất vào năm 1619, ở ngôi 24 năm thì nhường ngôi cho con trưởng là Lê Chân Tông. Sau vì Chân Tông mất mà không có con nối dõi nên Thần Tông phải đăng quang lần nữa vào năm 1649, hai lần ở ngôi tổng cộng 37 năm, đặt 6 niên hiệu. Khi mất, vua truyền ngôi cho con thứ là Lê Huyền Tông.

10. Hai vua cùng ở một ngôi:

Nam Tấn Vương (Ngô Xương Văn) và Thiên Sách Vương (Ngô Xương Ngập), là 2 con của Ngô Quyền, lên ngôi năm 951. Ban đầu, 2 anh em cùng trông coi việc triều chính. Sau, anh là Sách Vương chuyên quyền lấn át, ở ngôi được 3 năm thì mất vì bệnh; em được 14 năm thì tử trận, đất nước rơi vào loạn 12 sứ quân.

11. Có tư thế thiết triều xấu nhất:

Vua Lê Ngọa Triều (nhà Tiền Lê). Vua càn rỡ, **** đãng và tàn bạo, bị bệnh trĩ nên lâm triều thường phải ngồi mà coi chầu, vậy mới có tên là Ngọa Triều. Năm 1005, vua giết người anh là Lê Trung Tông mà chiếm được ngôi. Vua ở ngôi được 4 năm, hưởng dương 23 tuổi, lịch sử chuyển sang họ Lý.

12. Triều đại truyền ngôi được lâu nhất:

Nhà Hậu Lê. Xét về danh nghĩa, họ Lê truyền ngôi được 360 năm (1428- 1788), qua 27 đời vua, chia làm 2 thời kỳ: thời Lê sơ gồm 11 vua đầu, đây là thời kỳ cường thịnh; thời Lê trung hưng gồm 16 vua sau, quyền lực dần bị lấy mất, chỉ còn danh nghĩa tượng trưng.

13. Có tên tuổi rực rỡ nhất trong thời kỳ trị nước an dân:

Vua Lê Thánh Tông. Vua là con thứ tư của Lê Thái Tông và mẹ là Ngô Thị Ngọc Dao, sinh năm 1442, lên ngôi năm 1460 sau khi anh là Lê Nghi Dân bị giết, ở ngôi 37 năm, đặt 2 niên hiệu là Quang Thuận và Hồng Đức, thọ 55 tuổi. Lê Thánh Tông có tư chất thông minh lại chăm học tập, biết nhiều lại giỏi thực hành. Dưới triều Thánh Tông về mọi phương diện, nước ta tiến đến một trình độ cao từ trước chưa bao giờ đạt tới, thanh thế nước ta bấy giờ lừng lẫy.

14. Để lại dấu ấn xấu xa nhất, bị lên án về tội phản quốc:

Vua Lê Chiêu Thống. Tháng 10.1788, vua cùng hoàng thái hậu rước 30 vạn quân Thanh về giày xéo non sông. Chiêu Thống chỉ là niên hiệu, còn miếu hiệu phải là Lê Mẫn Đế, các sử gia thể theo ký ức không tốt đẹp của nhân dân về vị vua này nên vẫn gọi là Lê Chiêu Thống. Đây là vị vua cuối cùng của triều Lê 360 năm, sau sống lưu vong ở Trung Quốc và mất bên đó, năm 28 tuổi.

15. Gần với thời đại chúng ta nhất, đại diện cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam:

Vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy). Vua sinh ngày 22.10.1913, con của Khải Định, lên ngôi ngày 5.1.1926, đăng quang xong lại tiếp tục sang Pháp học. Tháng 9.1932, Bảo Đại về nước, sửa sang triều chính.

Cách mạng tháng 8 thành công ở Huế, ngày 18 tháng 7 năm Ất Dậu, Bảo Đại thứ 20, tức ngày 30.8.1945, vua Bảo Đại trên lầu Ngọ Môn trao ấn kiếm cho đại diện của Cách mạng, lá cờ vàng quẻ ly kéo xuống, cờ đỏ sao vàng phấp phới trên cột cờ Phú Văn Lâu, thể hiện sự cáo chung của nền quân chủ.

16. Tự Đức: vị vua thể hiện hiếu thảo nhất

Là vị vua hiếu đạo bậc nhất trong 13 vị hoàng đế triều Nguyễn. Mẫu hậu là bà Từ Dũ được vua săn sóc, tôn kính, vâng lời hết mực. Bà truyền bảo điều gì đáng lưu tâm, vua liền ghi ngay vào sách tùy thân mà nghiền ngẫm, gọi là “Từ huấn lục” (sách chép lời mẹ dạy). Trải qua suốt 36 năm chấp chính ngai vàng, Tự Đức bao giờ cũng dành ngày chẵn vào cung vấn an sức khỏe mẹ, ngày lẻ thì lo việc triều nghi, chẳng vì ngồi trên chỗ vạn năng quyền thế mà lơ là phận làm con. Không những thế, có gì lo âu, vua liền thỉnh ý để được nghe lời dạy bảo. Chính vì thế, bà đã từng đề nghị giảm thuế má cho dân vào những khi gặp thiên tai, mất mùa, đói kém, nhà vua đều làm theo ý mẹ. Có lần, ngày mai là đến kỳ giỗ kỵ tiên đế Thiệu Trị, thế mà hôm ấy nhà vua ham săn bắn, gặp nước lụt chảy mạnh bất ngờ, quan quân chưa dám dong thuyền hồi cung, phải mắc kẹt chốn ngoại thành rừng Thuận Trực. Bà Từ Dũ sai quan Nguyễn Tri Phương đi rước, khi vào cung, vua biết lỗi, dâng roi, nằm xuống chờ quở phạt. Bà giận, quay mặt chẳng nói, sau mới tha cho hình phạt, chỉ trách dạy bằng lời mà thôi. Xem thế, đủ biết vua Tự Đức thờ mẹ rất chí hiếu.

Và có nhiều bài thơ nhất

Trong số 13 vua Nguyễn, vua Tự Đức là người uyên thâm nhất về nền học vấn Ðông Phương, nhất là Nho học. Vua giỏi về cả sử học, triết học, văn học nghệ thuật và đặc biệt là rất sính thơ. Vua đã để lại 600 bài văn và 4.000 bài thơ văn chữ Hán và khoảng 100 bài thơ chữ Nôm. Thơ văn nhà vua phản ánh một con người nhân hậu, một tâm hồn đa cảm, một tư chất hâm mộ nghệ thuật. Tư chất ấy cũng biểu lộ rõ trên nghệ thuật kiến trúc của lăng vua. Sử cho biết chính nhà vua đã “chuẩn định” (décider) mô thức xây dựng nó. Trong vòng La thành rộng khoảng 12 ha, gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ dàn trải thành cụm trên những thế đất phức tạp cao thấp hơn nhau chừng 10m. Nhưng, các hệ thống thống bậc cấp lát đá thanh, các lối đi quanh co lát gạch bát tràng đã nối tất cả các công trình kiến trúc lại thành một thể thống nhất, tương quan, gần gũi.

16. Nổi tiếng nhân từ độ lượng nhất :

Trần Hoảng, sinh năm 1240, hai mươi năm làm vua (1258-1278) hiệu là Thánh Tông, chăm lo khẩn hoang, giúp đỡ người nghèo an cư lạc nghiệp, khuyến học, mở nhiều khoa thi tuyển chọn nhân tài.

17. Làm vua xong rồi cắt tóc đi tu ở chùa lâu nhất :

Trần Khâm (1258-1308), làm vua hiệu là Nhân Tông 15 năm, 2 lần lãnh đạo đánh thắng Nguyên Mông xâm lược, xong việc rồi thoái vị, gọt tóc đi tu, lập ra Thiền tông Trúc Lâm Yên Tử, tông phái đặc sắc đất Việt.

18. Ăn chơi đàng điếm nhất :

Chúa Trịnh Giang (1729- 1740), cho em trai tùy nghi làm việc với trăm quan, để mình rảnh rỗi thỏa sức ăn chơi **** loạn với hàng trăm cung nữ phi tần, sai người đào hầm dưới lòng đất, trốn việc chúa, xuống hầm ở với đàn bà con gái đủ loại tuổi thêm 20 năm nữa mới chết.

19. Từ nghèo hèn nhất và tiến nhanh nhất lên ngôi hoàng đế :

Vua Mạc Đăng Dung, từng đi thi đấu vật vào làm lính chuyên cầm tán và vác lọng cho xe vua, sau đó bằng 1 cuộc ép vua Lê Cung xuống chiếu nhường ngôi cho mình lên ngôi báu, lập tức ông tế trời ở đàn Nam Giao, lấy Hải Dương làm Dương Kinh, 2 năm sau ông nhanh chóng nhường ngôi cho con để làm thái thượng hoàng.

20. Chết “khổ sở” nhất:

Vua Mạc Mậu Hợp (1562-1592), lên ngôi lúc hơn 1 tuổi, ở ngôi 29 năm, sét đánh không chết; mất kinh thành, chạy trốn, đóng giả nhà sư vẫn bị lộ, vua xin: ” Mấy ngày nay đói khát quá, cho xin 1 bình rượu uống cho đã”. Bị quân Trịnh treo sống trên cây chịu đói khát 3 ngày, rồi đem xuống chém đầu đóng vào cọc, bêu ngoài chợ 5 ngày.

21. Người duy nhất không làm vua nhưng có nhiều con trai làm vua nhất:

Ông Nguyễn Phúc Hồng Cai, em trai của Tự Đức; vì Tự Đức không có con nên thực dân Pháp lần lượt đưa 3 con trai của ông lên làm vua với số phận khác nhau: Kiến Phúc bị đầu độc chết, Hàm Nghi bị đi đày, còn Đồng Khánh thì rất ngoan ngoãn làm tay sai cho Pháp. Dân Huế có câu ca:

” Một nhà sinh được ba vua
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài”

22. Cai trị lãnh thổ rộng nhất

Minh Mạng (1820- 1840) cai trị lãnh thổ rộng nhất, vì thời đó, triều đình nhà Nguyễn còn cai trị 1 phần đất phía đông của nước Lào (Sầm Nưa, Xavannakhet, Kham Keut, Mương Lam, Sam Teu…) lại bỏ việc “bảo hộ” Campuchia đổi thành Trấn Tây thành, nhập vào lãnh thổ Đại Nam.

23. Làm vua nhiều “kịch tính” nhất:

Nguyễn Phúc Hồng Dật (1846-1883), con út của Thiệu Trị; năm 1883, các quan sai lính đến xóm nghèo Kim Long đón Dật về cung để đưa lên làm vua mới, Dật quá sợ khóc thét lên, cố hết sức thoái thác, nhưng lính cứ bắt về lên ngôi, hiệu là Hiệp Hòa; mấy tháng sau Hiệp Hòa viết chiếu xin thôi làm vua. Các quan giả vờ đồng ý, cho khiêng võng ra ngoài thành rồi buộc ép uống thuốc độc mà chết.

24. Tàn bạo hạng nhất:

Lê Oánh (1496-1516), cháu nội của Lê Thánh Tông, giết vua trước là Uy Mục, rồi lên ngôi báu, hiệu là Tương Dực, bắt hết cung nhân của vua quan cũ vào điện trăm nóc để gian **** suốt ngày đêm; lại bắt sư nữ cởi truồng ra chèo thuyền ở Hồ Tây để vua vui mắt. Ở ngôi báu được 7 năm thì bị dân đâm chết, xác bị đem đốt thành tro bụi.

25. Loạn luân công nhiên nhất

Nguyễn Phúc Khoát (1714- 1765), tục gọi là Chúa Võ, có 18 con trai và 12 con gái, thông **** với em con chú ruột là Nguyễn Thị Ngọc Cầu, 20 tuổi. Cuối đời Khoát, các con trai lớn đều bị gạt, bị giết hoặc giam chết trong ngục tối (như Nguyễn Phúc Cốn, cha của Nguyễn Ánh – Gia Long sau này), để khi Khoát chết, con hoang do Ngọc Cầu đẻ ra tên là Thuần 12 tuổi dễ bề lên ngôi chúa. Sau Thuần bị giết chết ngoài bãi hoang sông Cửu Long và cũng là kết thúc “sự nghiệp các chúa Nguyễn ở Đàng Trong”.

26. Làm thái thượng hoàng lâu nhất:

Trần Mạnh (1300-1357), 14 tuổi làm vua, hiệu là Minh Tông, nghe nịnh thần mà giết oan cha vợ đồng thời là chú ruột; đến 29 tuổi nhường ngôi cho con để lên làm thái thượng hoàng nhiều năm nhất (trong 28 năm), chết ở tuổi 58.

27. Cứng rắn và tàn bạo nhất:

Trịnh Sâm (1738- 1782) nổi tiếng là vị chúa cứng rắn, bạo liệt nhất. Em trai là Lệ định cướp ngôi, Sâm giết luôn; sau đó tống giam thái tử Lê Duy Vĩ cho đến chết. Sâm đích thân cầm quân đánh chiếm được đất Thuận Quảng của chúa Nguyễn, rồi tự phong lên làm Thượng sư Thượng phụ Duệ Đoan Văn công Vũ đức Tĩnh Vương.

28. Nhát gan nhất:

Chúa Trịnh Bồng (1740-1787), kiêu binh đưa lên làm chúa, Bồng nhiều lần chạy trốn khỏi phủ chúa, sau gọt đầu đi tu lưu động ở Lạng Sơn – Cao Bằng; hết nạn kiêu binh, các quan tìm thấy, Bồng tự phủ định không phải là con cháu họ Trịnh; sau lộ tung tích thì vẫn 1 mực chối từ về làm chúa, tiếp đó lại trốn biệt vào rừng sâu, cho đến khi chết mất tăm mất tích.

29. Vua duy nhất có nhiều vợ mà không có dù chỉ 1 đứa con:

Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (1829- 1883), làm vua hiệu Tự Đức, có hơn ba trăm vợ (trong đó hạ cố lấy cả 1 bà đã từng có chồng, có con với chồng trước) và cũng dùng thuốc quý “Nhất dạ, lục giao, sinh ngũ tử” (1 đêm, 6 lần gặp vợ, sinh 5 con) như ông nội của Tự Đức là Minh Mạng đã từng có đến 142 người con, nhưng cuối cùng Tự Đức vẫn là ông vua duy nhất có rất nhiều vợ mà không có 1 người con ruột nào cả.

30. Thân Tây và nịnh Tây nhất:

Nguyễn Phúc Ưng Xụy, tức Ưng Đường, 2 tuổi vào làm con nuôi Tự Đức, 21 tuổi được Pháp chọn đưa lên làm vua, hiệu là Đồng Khánh, việc đầu tiên là ra ngay 3 đạo dụ phong cho 3 quan Tây làm “Bảo hộ quân vương”, “Bảo hộ công”, “Dực quốc công”; mọi sự lớn nhỏ đều nhất nhất làm theo lệnh Tây, đích thân ông ta ra lệnh trong cung vứt hết rượu ta, ông chỉ chuyên uống rượu Tây, ở ngôi được 3 năm thì ốm chết. Ở Việt Nam sau này xuất hiện loại “Bánh trung thu Đồng Khánh”.

31. Vua bù nhìn mạt hạng nhất:

Danh hiệu này của dân chúng Huế khinh bỉ bêu tặng Nguyễn Phúc Bửu Đảo (1884-1925), làm vua lấy hiệu là Khải Định, với câu ca:

“Tiếng đồn Khải Định nịnh Tây,
Nghề này thì lấy ông này (là) tiên sư”

Là vua đầu tiên ở Việt Nam xuất ngoại, sang tận châu Âu để dự hội chợ thuộc địa, bị Nguyễn Ái Quốc chế diễu qua vở kịch “Con rồng tre”; tăng 30% thuế trong cả nước để lấy tiền tổ chức sinh nhật lần thứ 40 (gọi là Tứ tuần Đại khánh) của mình. 1 năm sau, Khải Định chết, lễ tang kéo dài 86 ngày. Ông ta có 12 vợ nhưng không vợ nào có mang; công luận Huế và nhiều sách ghi rõ, Vĩnh Thụy là con 1 hoàng thân, bà mẹ có mang rồi mới được đưa vào cung để đẻ và Khải Định nhận là con để khỏi bị mang tội, mang tiếng là “tuyệt tự”.

32. Bị vu oan nhất:

Thành Thái lên ngôi đúng ngày mùng 1 Tết (dương lịch là 31/1/1889). Ông là vua duy nhất bị Pháp vu cáo là “điên rồ” rồi hất ra khỏi ngai vàng năm 1906, đẩy đi đày và chết nghèo khổ ở Sài Gòn năm 1954.

33. Vua đầu tiên lấy vợ nước ngoài:

Lê Duy Kỳ (1607- 1662), là ông vua đầu tiên lấy vợ người nước ngoài (Hà Lan), tượng bà vợ Tây này hiện vẫn còn trong ngôi điện ở đường vào thành phố Thanh Hóa, mặc dù trước đó đã có 5 vợ thuộc 5 dân tộc khác nhau (trong đó có Ngọc Trúc, con của chúa Trịnh, vốn là vợ của 1 ông chú, Kỳ thông **** rồi cướp về, việc này bia miệng rất chê cười.)

34. Trị vì ngắn nhất:

Lên ngôi vua được 3 ngày, chưa kịp chọn vương hiệu, thì đã bị em ruột giết chết, đó là Lê Long Việt (983- 1005), cũng giống như cha (Lê Hoàn) chết không có miếu hiệu; sử về sau gọi là “vua giữa” (Lê Trung Tông), vì sau khi giết anh ruột, Lê Long Đĩnh lên làm vua thứ 3 của nhà Tiền Lê, kẻ tệ hại nhất trong các vua chúa phá nước hại dân.

35. Vua đầu tiên là người ngoại tộc:

Vua thứ 8 đời nhà Trần, nhưng vốn lại là người khác họ, đó là Dương Nhật Lễ, con của kép hát Dương Khương, mẹ có thai bỏ chồng đi lấy Cung Túc vương Trần Dục (là em trai nhà vua), Dục nhận Lễ làm con. Gặp lúc vua Trần Dụ Tông chết, không có con, cha dượng Trần Dục cũng chết, Dương Nhật Lễ lên làm vua (1369) được 1 năm thì bị giết chết.

36. Người đầu tiên lãnh đạo quân chống lại phương Tây:

Năm 1644, chúa Nguyễn Phúc Lan là ông vua/chúa đầu tiên dám đứng mũi chịu sào và cầm đầu đoàn tàu chiến của thủy quân Việt Nam đánh nhau quyết liệt với 1 hạm đội có nhiều trọng pháo hùng hậu của Hà Lan. Kết quả là ta thắng lớn, tàu địch 1 chiếc nổ tung, 1 chiếc đâm vào đá ngầm mà vỡ, còn chiếc nhỏ nhất bỏ chạy trốn.

37. Có nhiều con làm vua nhất:

Lê Duy Kỳ (1607- 1662), ông có tới 4 con trai lần lượt làm vua. Đó là Lê Duy Hựu (hiệu là Chân Tông), Lê Duy Vũ (Huyền Tông), Lê Duy Hợi (Gia Tông), Lê Duy Hợp (Hy Tông), cả 4 vua anh em cùng cha khác mẹ này đã được lịch sử công bằng đánh giá, xếp vào hạng vua “chẳng có được tích sự gì”.

38. Có nhiều sáng tạo nhất:

Hồ Quý Ly, tuy chỉ làm vua chưa được 1 năm nhưng triều đại ông nổi tiếng có nhiều sáng tạo nhất: dùng chữ Nôm thay chữ Hán, phát hành tiền giấy thay tiền kẽm và bạc, xóa bỏ chế độ dùng nông nô lập đồn điền, lập bệnh viện chữa bệnh không thu tiền, thống nhất cách cân đo đong đếm, lập thủy binh giữ sông biển, đúc súng thần công, dựng tuyến phòng thủ dài hơn 400 km dọc sông Đà, theo sông Hồng xuống đến cửa sông Ninh (Nam Định)

39. Có nhiều truyền thuyết nhất:

Ông vua lên ngôi trên mình phủ nhiều truyền thuyết kỳ ảo nhất là Lý Công Uẩn (973- 1028): không biết cha mẹ là ai, sinh ra trong ngôi chùa ngào ngạt hương thơm trong 1 đêm rực sáng, 2 bàn tay đủ 4 chữ son sơn hà xã tắc, học giỏi đến nỗi trời ban tiếng khen xuống, sét đánh tung vỏ cây gạo làng Cổ Pháp để lộ ra câu sấm nhà Tiền Lê sắp đổ, vua Lý lên ngôi; rồng vàng bay lên đón vua về Đại La dựng kinh đô…..

40. Có nhiều con nhất:

Nếu như Minh Mạng theo tính số con chính thức là ông vua có nhiều con nhất với 142 con (78 trai, 64 gái) thì Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) là ông chúa có nhiều con nhất; 17 tuổi làm chúa, tuy chỉ sống đến 51 tuổi nhưng đã kịp có 146 con, trong đó có 38 con trai; quá đông con nên ông ta không sao nhớ hết tên, đứa nào vào chào, phải xưng tên, xưng tuổi. Ông có câu thơ: “Mình tuổi thọ ít, nhưng phúc nhiều….”.

41. Vua duy nhất bị gọi sai tên:

Trong sách Đại Việt sử ký toàn thư, sử gia Lê Văn Hưu ghi chuyện vua Lê Hoàn bị gọi sai tên: “Khi vua chết không có miếu hiệu vì 12 con trai đều khởi binh giành ngôi báu, đánh nhau quyết liệt suốt 8 tháng. Các thái giám mang xác vua Lê Hoàn đi chôn, nhưng ngu tối cứ theo tục cũ bên Tàu mà gọi vua đã qua đời là Đại Hành (nghĩa là quàn tạm vào thân cây to), cúng tế cũng hô là Đại Hành, sách sử cũng cứ thế chép sai là Lê Đại Hành”. Cho đến nay, nhiều người cũng vẫn gọi lầm tên vị vua này là “Lê Đại Hành”. Ngay tại Sài Gòn hiện nay, ở vùng giáp ranh quận 10 và quận 11, cũng có 1 con đường mang tên Lê Đại Hành.

42. Vua duy nhất bị quên mất tên thật:

Vua bị phần lớn sử sách và người đời quên mất tên thật là Đinh Hoàn (924- 979), đối chiếu trong trang 11, bản thông tin tư liệu số 19 của Thông tấn xã Việt Nam. Năm 38 tuổi, ông được sứ quân Trần Lãm phong chức quan “bộ lĩnh” (sách báo gọi lầm tên ông là Đinh Bộ Lĩnh), 44 tuổi làm vua được 5 năm thì bị giết, con nối ngôi được 8 tháng bị phế. 200 năm sau, nhà sử học Lê Văn Hưu bắt đầu gọi ông là “tiên hoàng”, con ông là “phế đế”. Ấy vậy mà ngày nay người ta vẫn tiếp tục mắc sai lầm khi đặt tên nhiều con đường mang tên Đinh Bộ Lĩnh hoặc Đinh Tiên Hoàng.

43. Bắt mọi người kiêng theo diện rộng nhất:

Đó là Lê Lợi, chỉ đúng 5 ngày sau khi lên ngôi, ông bắt kiêng tên người ông, tên người bà, tên cha, tên mẹ ông, tên của ông và của bà vợ đã qua đời nhiều năm trước đó, và kiêng cả tên anh của ông, cũng đã qua đời từ lâu. Riêng tên bà vợ cũ, ông bắt dân kiêng chữ Trần, khiến bao nhiêu con cháu họ Trần cũ phải đổi sang họ Nguyễn, họ Đặng, họ Mai….Về sau, cháu nội ông là Lê Tư Thành (Thánh Tông) đính chính lại tên bà nội ông thật ra không phải là Trần, mà Lê Lợi đặt lệ kiêng chữ Trần chỉ là cốt xóa bỏ họ Trần mà thôi, không ngờ Lê Lợi lại chơi xấu dòng họ của Trần Hưng Đạo như vậy (nhờ sự đính chính này của Lê Thánh Tông, nhiều con cháu trở lại được với họ Trần cũ của mình).

44. Người duy nhất vừa làm vua, vừa đi tu:

Nguyễn Phúc Chu (1675- 1725), tự xưng là Quốc Chúa, sùng đạo Phật, lên chùa quy y với pháp danh là Thiên Túng đạo nhân; 34 năm cầm quyền cho quan quân mở đất suốt vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và cả Nam Bộ ngày nay.

45. Những ông vua có con ruột không mang họ mình:

Tuy trước đó đã có vợ, ông cựu hoàng Ưng Lịch (Hàm Nghi) khi bị đi đày ở Algeria đã lấy vợ đầm, có 1 con trai, 1 con gái; cựu hoàng Vĩnh San (Duy Tân) khi bị đi đày giữa Ấn Độ Dương cũng lấy 2 bà vợ đầm, được 3 con trai, 2 con gái; tất cả 7 người con của 2 ông vua này đều không chịu mang họ Nguyễn Phúc và đều không biết nói tiếng và viết chữ Việt Nam.

46. Ông vua có nhiều huyền thoại nhất:

Do hoàn cảnh cần khuếch trương thanh thế, Lê Lợi (1385-1433) là người có nhiều huyền thoại nhất trên đường đến ngai vàng. Bắt đầu là chuyện mộ cố tổ chôn gò đất có nhiều chim bay lượn; cha ông có nồi cháo múc cho người nghèo nồi lại đầy lên; ông có tướng mạo lạ kỳ, bả vai tả có đến 7 nốt ruồi, đi thì nhẹ nhàng mà nói lại như chuông rền; được hồn 1 sư ông trao cho thanh gươm không mài mà cứ sáng loáng; vợ lại bắt được quả ấn khắc sẵn chữ “Lê Lợi vương ấn”; lá chuối cả vùng đều rạch thủng hàng chữ “Lê Lợi vi quân”; bao phen nguy cấp đều được quỷ thần hiện lên cứu thoát. Cuối cùng, lên ngôi rồi, đi chơi trên hồ nhỏ giữa Đông Đô, thần Rùa nổi lên nhận kiếm ông trao trả để từ đây hết chiến tranh, trở thành hồ Hoàn Kiếm…

47. Triều đại có nhiều vua bị bắt đi đày ra nước ngoài nhiều nhất:

Nhà Nguyễn liên tiếp có 3 vua: Nguyễn Phúc Ưng Lịch (1872- 1943) hiệu Hàm Nghi, bị đày đi Algeria 47 năm đến chết; Nguyễn Phúc Bửu Lân (1879- 1954) hiệu Thành Thái, bị Pháp đày sang đảo Réunion bên châu Phi trong 31 năm, rồi quản thúc tại Sài Gòn; Nguyễn Phúc Vĩnh San (1900 – 1945) hiệu Duy Tân, bị đày ở đảo Réunion từ năm 1916 đến khi chết tan xác trong 1 “tai nạn” máy bay rất đáng ngờ năm 1945.

48. Triều đại ban lệnh kỵ húy nhiều nhất:

Xa xưa không có tục lệ này, nhưng từ đầu đời nhà Trần đến hết đời Nguyễn, đã có 40 lần vua chúa ban lệnh húy kỵ tên họ vợ chồng con cái họ hàng nhà vua, với 531 lượt chữ; riêng triều đại Nguyễn có tới 22 lệnh kỵ húy, 1 mình Thiệu Trị chỉ làm vua 5 năm mà ban tới 8 lệnh kỵ húy. Một lệnh lần thứ 4 của Tự Đức (1848- 1883) đã kỵ húy tới 47 chữ, trong đó có 2 chữ tên thưở nhỏ của ông là Thì và Nhậm, khiến cho danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746- 1803) dẫu đã chết ba bốn chục năm trước bị gọi lệch sang thành “Ngô Thời Nhiệm”. Hiện nay Sài Gòn cũng đang có 1 con đường mang tên Ngô Thời Nhiệm.

49. Người quản lý Đàng Trong đầu tiên dám xưng Chúa:

Không phải là ông Nguyễn Hoàng, dẫu ông sống đến 88 tuổi và đứng đầu Đàng Trong đến 55 năm nhưng vẫn phải giữ thế là quan ngoài biên ải của vua Lê và vẫn phải triều cống đầy đủ cho Chúa Trịnh. Khi Nguyễn Hoàng chết, con trai là Nguyễn Phúc Nguyên là người đầu tiên dám trả lại tờ sắc phong và xưng làm Chúa.

50. Triều đại có nhiều vụ khước từ trốn tránh làm vua nhất:

Nhà Nguyễn có tới 3 vụ khước từ trốn tránh làm vua. Năm 1883, phế xong vua Dục Đức, các quan đi đón Nguyễn Phúc Hồng Dật (1846 -1883) lên ngai vàng, ông này vội chối từ: “Tôi tư chất tầm thường, không dám nhận”. Cuối năm đó, lính mang võng bắt Nguyễn Phúc Ưng Đăng về nhận ngai vàng, ông này run rẩy thưa: “Ta còn bé, sợ không làm nổi”. Sáu năm sau, các quan lại đi tìm bắt Nguyễn Phúc Bửu Lân, 8 tuổi, về làm vua; Lân hét lên sợ hãi: “Các ông mần chi rứa? Bắt tui à? Các ông mần chi phải đợi ả (mẹ) tui về đã!”. Lát sau bà mẹ Lân về, bà òa lên khóc, gào thét: “Lạy các quan! Xin các quan tha cho mẹ con tui!”.

Cả 3 vụ chối từ làm vua kể trên đều có kết cục đen tối: Hồng Dật làm vua được 5 tháng bị ép uống thuốc độc chết; Ưng Đăng làm vua được 8 tháng bị đổ thuốc độc chết lúc 15 tuổi; còn Bửu Lân bị Pháp vu cho là điên, gạt ra khỏi ngôi và đưa đi đày ở 1 hòn đảo giữa Ấn Độ Dương trong 31 năm, sau đó bị quản thúc ở Sài Gòn 7 năm cho đến khi chết già năm 1954.

51. Có các con đánh giết nhau kịch liệt nhất:

Lê Hoàn, Lý Công Uẩn, Lê Lợi đều được ghi nhận là 3 ông vua có các con đánh giết nhau kịch liệt nhất nhằm tranh giành ngôi báu. Khi Lê Hoàn chết năm 1005, 12 con trai đánh nhau suốt 8 tháng trời để cướp ngôi báu, không 1 kẻ nào lo chôn cất và tang chay cho cha. Khi Lý Công Uẩn chết năm 1028, 3 con trai nổi binh tranh cướp ngôi báu sắp rơi vào tay anh cả, khiến tướng Lê Phụng Hiểu phải vung kiếm chém đầu 1 trong 3 kẻ nổi loạn mới tạm yên. Trước khi chết năm 1433, Lê Lợi gạt con trưởng, chọn con trai thứ ba Bang Cơ nối ngôi; ít năm sau, con trai thứ hai Nghi Dân giết em để cướp ngôi; 8 tháng sau, Nghi Dân lại bị truất ngôi, các quan định đưa con trai thứ tư Khắc Xương lên thay, ông này lạy tạ các quan, xin được tha đừng bắt làm vua, để chỉ sống đời dân thường nuôi mẹ đẻ.

52. Vua duy nhất bắt dân kiêng tên của con dâu:

Thường thì các vua bắt dân kiêng tên của mình, riêng Nguyễn Ánh bắt dân kiêng thêm tên Hoa của cô con dâu 16 tuổi (tức là Hồ Thị Hoa, vợ đầu của Nguyễn Phúc Đảm, sau này lên ngôi hiệu Minh Mạng); do đó chợ Đông Hoa (Huế) phải đổi tên là chợ Đông Ba, cầu Hoa (Gia Định) phải đổi tên thành cầu Bông (gần quán Hương Đồng 4 mà quán Sài Gòn hay giao lưu), trấn Thanh Hoa phải đổi tên là tỉnh Thanh Hóa, cả đến vai tuồng Phàn Lê Hoa cũng bị đổi là Phàn Lê Huê!

53. Triều đại hay bị bỏ quên và bị xem khinh nhất:

Đó là nhà Mạc, có đến 10 đời vua cha truyền con nối, từ Mạc Đăng Dung đến Mạc Kính Vũ, kéo dài 150 năm từ năm 1527 đến 1677, rất giỏi trận mạc và bền chí, lớn mật. Trong triều vua Mạc thứ 4 là Mạc Phúc Nguyên (1546- 1561) và đời thứ 5 là Mạc Hậu Hợp (1562- 1592), có chuyện cử sứ thần Lê Quang Bí sang cống tiến nhà Minh, bị giữ lại xét hỏi, nên đi về và chờ đợi hết 18 năm từ 1548 đến 1566, khi đi tóc mây xanh mướt, khi về râu tuyết bạc phơ! Khi đi trai tráng, khi về hẩm hiu!

54. Triều đại có nhiều vua nhất bị giết chết khi đang trên ngôi:

Nhà Lê có đến 9 vua bị giết trên ngôi: Lê Bang Cơ (hiệu Nhân Tông) bị giết năm 1459 lúc 18 tuổi; Lê Nghi Dân giết em trai để cướp ngôi vua, được 1 năm, khi 21 tuổi bị giết năm 1460; Lê Tuấn làm vua (hiệu Uy Mục) được 5 năm, khi 21 tuổi bị giết năm 1509; Lê Oánh giết Uy Mục lên làm vua (hiệu Tương Dực) được 6 năm, bị giết năm 1516 ở tuổi 23; Lê Y (tức Huệ) ở ngôi 6 năm (hiệu Chiêu Tông) bị giết năm 1530 ở tuổi 24; Lê Xuân ở ngôi (hiệu Cung Hoàng) được 5 năm, bị giết năm 1527 ở tuổi 20; Lê Duy Bang làm vua (hiệu Anh Tông) được 17 năm, bị giết năm 1573 lúc 41 tuổi; Lê Duy Tân (hiệu Kính Tông) làm vua 20 năm, bị bức thắt cổ chết ngày 5/12/1619 lúc 31 tuổi; Lê Duy Phường (hoặc Đường) 20 tuổi được đặt lên ngôi, được 3 năm bị truất, năm 1735, bị buộc phải thắt cổ chết ở tuổi 26.

55. Sống nhiều năm nhất ở nước ngoài:

Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy (1913- 1997), làm vua hiệu Bảo Đại, là người giữ kỷ lục sống nhiều năm nhất ở nước ngoài. Thủa bé ở Pháp để cha mẹ nuôi Charles dạy dỗ 15 năm, lên ngôi vua rồi tiếp tục sang Pháp học 7 năm nữa; năm 1938 bị bắn gãy chân, sang Pháp 1 năm chữa chạy; đã thoái vị năm 1945, lại còn chạy sang Hồng Kông lánh đời 3 năm; ra làm quốc trưởng bù nhìn cho Pháp năm 1950 đến 1954, bị Ngô Đình Diệm truất phế, ông “tự đi đày” thêm 43 năm ở nước Pháp; tổng cộng đời ông ở nước ngoài là 69 năm.
Về các vua

– Hoàng đế đầu tiên: Lý Nam Đế (544 – 548) với niên hiệu đầu tiên là Thiên Đức

– Hoàng đế cuối cùng: Bảo Đại (1925 – 1945)

– Ở ngôi lâu nhất: Triệu Vũ Vương Triệu Đà: 70 năm (207-137 TCN), Lý Nhân Tông Càn Đức: 56 năm (1072 – 1127), thứ đến Hậu Lê Hiển tông Duy Diêu: 47 năm (1740 – 1786).

– Ở ngôi ngắn nhất: Tiền Lê Trung Tông Long Việt: 3 ngày (1006), Dục Đức: 3 ngày (1883)

– Lên ngôi trẻ nhất: Lê Nhân Tông, lúc 1 tuổi (1442) ;Mạc Mậu Hợp, lúc 2 tuổi (1562);Lý Cao Tông,lúc 3 tuổi;Lý Anh Tông,cũng 3 tuổi; Lý Chiêu Hoàng, lúc 6 tuổi (1224)

– Lên ngôi già nhất: Trần Nghệ Tông Phủ, khi 50 tuổi (1370); Triệu Đà khi 50 tuổi (207 TCN)

– Trường thọ nhất: Bảo Đại 85 tuổi (1913-1997), vua Trần Nghệ tông 74 tuổi (1321 – 1394). Nếu tính Triệu Đà thì Triệu Đà là vua thọ nhất: 120 tuổi (257-137 TCN) (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư). Ngoài ra, nếu tính cả các chúa thì chúa Nguyễn Hoàng thọ hơn Bảo Đại: 89 tuổi (1525 – 1613)

– Yểu thọ nhất: Hậu Lê Gia Tông Duy Khoái 15 tuổi (1661 – 1675)

– Nữ vương đầu tiên: Trưng Vương (Trưng Trắc) (vì chỉ xưng vương) (40-43)

– Nữ hoàng duy nhất: Lý Chiêu hoàng Phật Kim (1224 – 1225), vợ vua Trần Thái tông Cảnh (1226 – 1258).

– Vua duy nhất ở ngôi 2 lần: Hậu Lê Thần Tông (1619-1643 và 1649-1662)

Về các triều đại

– Triều đại tồn tại lâu nhất: nhà Hậu Lê 356 năm (1428 – 1527 và 1533 – 1788).

– Triều đại tồn tại ngắn nhất: nhà Hồ 8 năm (1400 – 1407).

– Triều đại truyền nhiều đời vua nhất: nhà Hậu Lê: 27 vua (từ Thái Tổ đến Chiêu Thống), nhà Trần (kể cả Hậu Trần) 14 vua.

– Triều đại truyền ít đời nhất: nhà Thục 1 vua.

– Triều đại truyền qua nhiều thế hệ nhất: nhà Hậu Lê 14 đời (từ Thái Tổ Lê Lợi đến Trung Tông Duy Huyên, rồi từ Anh Tông Duy Bang đến Chiêu Thống Duy Kỳ), sau đó là nhà Lý: 9 đời (từ Thái Tổ Công Uẩn đến Chiêu Hoàng Phật Kim).

– Triều đại xảy ra phế lập, sát hại các vua nhiều nhất: Nhà Lê sơ 6/11 vua.

Về các thượng hoàng

– Thái thượng hoàng đầu tiên: Lý Huệ Tông Sảm.

– Thái thượng hoàng cuối cùng: Lê Ý Tông Duy Thận, nhưng người lên thay Ý Tông không phải là con Ý Tông mà là cháu gọi bằng chú (Duy Diêu – Hiển Tông).

– Thượng hoàng trẻ tuổi nhất: Lê Ý Tông lúc 22 tuổi (1740)

– Thượng hoàng cao tuổi nhất: Trần Nghệ Tông lúc 52 tuổi (1372)

– Thượng hoàng duy nhất chưa từng làm vua: Trần Thừa

– Thượng hoàng thọ nhất: Trần Nghệ Tông 74 tuổi (1321-1394)

– Thượng hoàng yểu nhất: Trần Thuận Tông 22 tuổi (1377-1399)

– Thượng hoàng ở ngôi ngắn nhất: Hậu Trần Giản Định Đế 4 tháng (1409)

– Thượng hoàng ở ngôi lâu nhất: Trần Minh Tông 29 năm (1329-1357)

– Triều đại có nhiều thượng hoàng nhất: nhà Trần có 9 thượng hoàng

Thượng hoàng thường là cha vua, nhưng có các trường hợp không phải như vậy: Thượng hoàng Trần Nghệ Tông truyền ngôi cho em là Duệ Tông. Duệ Tông mất lại lập cháu gọi bằng bác là Phế Đế. Thượng hoàng Mạc Thái Tổ truyền ngôi cho con là Thái Tông. Thái Tông mất sớm lại lập cháu nội là Hiến Tông. Thượng hoàng Lê Ý Tông là chú của vua Lê Hiển Tông.

Ngoài 7 thượng hoàng nhà Trần từ Trần Thừa tới Nghệ Tông cùng Mạc Thái Tổ, các thượng hoàng còn lại trong lịch sử Việt Nam đều không tự nguyện làm thượng hoàng mà do sự sắp đặt của quyền thần trong triều.

Bí ẩn mộ cổ Hàng Gòn

 

Di tích Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn (xã Hàng Gòn, TX.Long Khánh, Đồng Nai) được phát hiện và khai quật từ những năm 1927. Xoay quanh về ngôi mộ cổ này vẫn đang thu hút sự quan tâm của giới khảo cổ học.

Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn do Jean Bouehot (Kỹ sư người Pháp) phát hiện vào năm 1927 khi đang chủ trì công trình mở đường số 2 từ tỉnh Long Khánh (cũ) đi Bà Rịa-Vũng Tàu (nay là quốc lộ 56). Ngay sau đó, nhiều nhà nghiên cứu của trường Viễn Thông Bác Cổ đã khai quật, thu được nhiều hiện vật đưa về lưu trữ tại Bảo tàng Mossee Blanchard de la Brosse (nay là Bảo tàng lịch sử Việt Nam – TP.HCM).

Mộ của nhân vật quyền uy?

Nhìn từ bên ngoài, mộ cổ có chiều dài 4,2m, ngang 2,7m, cao 1,6m, hình hộp chữ nhật được ghép bởi 6 tấm đá hoa cương nguyên khối (giống như quan tài bằng đá). Các nhà khoa học đánh giá đây là một di tích độc đáo về nghệ thuật và kỹ thuật của các tộc người cổ Nam Á nói chung và người Việt cổ nói riêng.

 Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn
Mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn – Ảnh: Đức Khánh

Vào năm 2006, các chuyên gia của Viện Khoa học xã hội vùng Đông Nam bộ và Ban quản lý di tích – danh thắng Đồng Nai phối hợp mở đợt điều tra nghiên cứu. Qua đó, các nhà khoa học phát hiện nhiều dấu vết của những vệt đất cháy kéo dài thành hình vòng cung, phía trên có rất nhiều than tro và xỉ kim loại, các mảnh đồ gốm trên thân có hoa văn làm từ chất liệu đất sét pha cát và vỏ nhuyễn thể nghiền nhỏ; phát hiện 2 chiếc tù và bằng đồng; 2 chiếc bàn mài bằng đá có lỗ đeo… Tiếp đến năm 2007, đoàn khảo sát khai quật, tiếp tục tìm thấy nhiều hiện vật bằng gốm, bằng đá, các dụng cụ bàn mài, các cột đá và những vết đất cháy, than tro. Đặc biệt, trong xưởng chế tác đá (đã tìm thấy trước đó-PV) đoàn khảo sát phát hiện những tấm đá, cột đá, nhiều phế vật mảnh tước đá và nhiều công cụ lao động. Qua đó, các nhà khoa học cho rằng, người xưa đã vận chuyển những khối đá lớn về Hàng Gòn để gia công tạo ra những tấm đan, cột đá sử dụng cho kiến trúc mộ. Các nhà nghiên cứu đưa ra dự đoán cho rằng, chủ nhân của Mộ Cự thạch là một nhân vật quyền uy, là thủ lĩnh của một bộ lạc hay liên minh các bộ lạc hùng mạnh về kinh tế và quân sự; niên đại của di tích được xác định trong khoảng thời gian 150 trước Công nguyên đến 240 năm sau Công nguyên.

Vẫn còn nhiều bí ẩn

Theo các nhà địa chất, 6 tấm đá hoa cương được sử dụng làm mộ chỉ có ở Đà Lạt hoặc Phan Rang (ngày nay). Để di chuyển những khối đá lớn hàng chục tấn đi quãng đường xa trên 100km trong điều kiện không có đường thủy lẫn đường bộ là một kỳ tích của những người xây mộ. Sau khi mộ cổ được phát hiện, ông H.Parmentier (Chủ sự Sở Khảo cổ) đã 3 lần khảo sát hiện trường và nhận định rằng đã có một hệ thống ròng rọc để nâng và hạ nắp mộ… Tấm nắp đậy dày khoảng 30 cm, hơi cong, phủ ra khỏi mép các tấm vách (dày và to hơn các tấm đá khác), người ta ước lượng chỉ riêng tấm nắp đậy đã nặng hơn 10 tấn!. “Chiếc hộp bằng 6 tấm đá” này được ghép chặt với nhau bằng hệ thống rãnh đục dưới nắp mộ và tấm đáy. Chỉ bằng những mộng ghép đơn giản như thế nhưng ngôi mộ đã bền vững qua hàng thiên niên kỷ. Hai bên mộ còn có 2 hàng trụ bằng đá hoa cương và sa thạch (2 trụ đá hoa cương có tiết diện hình chữ nhật cao 7,5m và 10 cột sa thạch có tiết diện hình chóp cao từ 3m đến 10m), trên đầu các trụ đá đều được khoét lõm hình yên ngựa.

Một giả thuyết được các nhà khoa học đưa ra là: Người Việt cổ đã biết tập hợp nhau lại tạo thành sức mạnh phi thường mới có thể vận chuyển được những cấu kiện bằng đá lớn như vậy, ngay cả đền Angkor (Campuchia) cũng không thấy những tảng đá nặng như thế. Đây là một công trình giống như “thạch tự tháp” của miền văn hóa sông Đồng Nai. Tuy nhiên, điều thú vị là loại đá hoa cương của ngôi mộ này không hề có ở Đồng Nai.

Ngoài sổ sách ghi chép của ông Trần Tử Oai (người 20 năm bảo vệ mộ cổ Cự Thạch Hàng Gòn) và ghi nhận của ngành bảo tàng, khảo cổ học Việt Nam cho thấy: “Từ sau  1975 đến nay, có hàng trăm đoàn khảo cổ học từ các nước đến Hàng Gòn để tìm hiểu, nghiên cứu về quần thể di tích Mộ cổ Cự Thạch độc đáo này. Cũng như có hàng trăm triệu lượt du khách tham quan là học sinh, nhân dân, trong và ngoài nước đến tìm hiểu di tích còn ẩn chứa nhiều điều chưa biết này…”

 

Vào năm 1928, di tích đã được xếp hạng và ghi vào danh mục các di tích lịch sử ”mộ Đông Dương – mộ Dolmen Hàng Gòn”. Năm 1984, Bộ VH-TT (Nay là Bộ VH-TT-DL) xếp hạng Mộ Cự Thạch Hàng Gòn vào di tích Quốc gia.

Đức Khánh

Xác chết bật quan tài tìm về nhà: Đau đầu nhà khoa học

Hình ảnh những xác chết đột nhiên đứng dậy và thản nhiên đi lại bình thường trên đường để tìm về nhà của mình có thể khiến nhiều người phải rùng mình sợ hãi. Tuy nhiên, đối với những người Toraja ở Indonesia, việc làm cho những thây ma biết đi dường như là một nghi lễ lưu truyền nhiều đời trong cuộc sống tâm linh của họ.

“Ma thuật” có từ lâu đời

Toraja là nhóm dân tộc bản địa sống ở vùng núi cao phía nam tỉnh Sulawesi, Indonesia (từ “Toraja” có nghĩa là “những người ở vùng đất cao”). Từ nhiều năm về trước khi vùng đất người Toraja sinh sống còn bị cô lập và dường như tách biệt với thế giới bên ngoài thì những tin đồn về ma thuật thần kỳ, làm cho xác chết đi đứng bình thường đã được nhiều người trên thế giới biết tới.

Theo những người già nhất trong bộ tộc, việc làm cho thây ma biết đi có từ thời xa xưa. Vào thời ấy, một cuộc nội chiến đã xảy ra giữa những người Tana Toraja ở phía Tây và người Tana Toraja ở phía Đông.

Người Tana Toraja ở phía Tây đã bị thua thảm hại và bị giết chết gần hết. Trong khi đó, người Tana Toraja ở phía Đông bị thiệt mạng ít hơn và hầu hết các chiến binh đều mang được xác của những người tử nạn về làng để chôn cất.

Người Toraja đặt xác trên núi

Ngược lại, do không thể mang xác của những người xấu số về làng, người Tana Toraja ở phía Tây đã nghĩ ra một cách đặc biệt để chôn cất những người chết. Sau đó, họ dùng một phương thức thần bí nào đó làm các xác chết biết đi và tự tìm đường về làng của mình. Kể từ đó, người Tana Toraja vẫn giữ “ma thuật” này và cho đến nay các thầy phù thủy chỉ thực hiện khi có yêu cầu của người nhà người quá cố.

Nghệ thuật bảo quản xác chết hoàn hảo

Từ năm 1905, các nhà khoa học đã tìm thấy những xác người còn nguyên vẹn, không bị phân hủy ở vùng đất này. Điều đặc biệt là dường như những xác người này không hề được tẩm ướp bất cứ một loại hóa chất nào, khác hẳn với phương pháp ướp xác được biết đến của người Ai Cập cổ đại.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học vẫn nghi ngờ có một loại chất đặc biệt giúp bảo quản xác chết, nhưng cho đến nay họ vẫn chưa thể tìm ra câu trả lời.

Còn theo những người dân địa phương, cách thức chôn cất độc đáo của người Tana Toraja cùng với điều kiện thổ nhưỡng đặc biệt có thể là một trong những nguyên nhân quan trọng lý giải cho việc tại sao việc thây ma biết đi lại chỉ có duy nhất ở vùng Mamasa, Indonesia.

Khi một người trong làng qua đời, thi thể của họ sẽ được bọc bằng quần áo trước khi đặt vào quan tài. Sau đó, những người đàn ông sẽ khiêng chiếc quan tài ra nơi chôn cất của bộ lạc.

Điều đặc biệt là nghĩa địa của người Tana Toraja nằm cheo leo trên những vách núi đá vôi dựng đứng. Tại đây, người ta đục thành những ô vuông ăn sâu bên trong đá, đủ dài và rộng để vừa một chiếc quan tài.

Nhìn từ phía xa, những ngôi mộ nằm trong lòng núi trông giống những chiếc tổ chim bồ câu hay giống những ô cửa sổ của một khu nhà cao tầng. Chỉ những người đàn ông khỏe mạnh mới làm được công việc chôn cất vất vả này.

Ban đầu, họ dùng thang tre để bắc lên những khoang mộ trên vách núi và sau đó phải cần tới 4 đến 5 người mới có thể vận chuyển thi thể người quá cố lên vách núi thẳng đứng như tường trước khi đặt người chết vào nơi yên nghỉ cuối cùng.

Cũng dễ hiểu khi đến gần những ngôi mộ, người dân không hề thấy mùi hôi thối bởi những xác chết không bị phân hủy mà khô quắt lại, trông như một xác ướp. Nhiều xác chết bước ra khỏi quan tài sau nhiều năm vẫn còn lông mi, lông mày, tóc và khuôn mặt hầu như không bị biến dạng hay thay đổi nhiều.

Theo những người dân nơi đây, việc những xác chết có “chất lượng” tốt như vậy có thể là do trong đá vôi ở vùng này có một loại chất giúp bảo quản xác người. Thêm vào đó việc những thi thể nằm sâu trong vách núi tránh được tác động của thời tiết hoặc sự đào bới của các loại động vật cũng có thể là một nguyên nhân dẫn đến việc các thi thể được giữ nguyên vẹn. Bởi lẽ, một xác chết sẽ không thể đi lại bình thường nếu như xương bị rời rạc mỗi nơi một chiếc.

Hành trình về nhà của những xác chết

Theo niềm tin của người trong bộ tộc, người chết phải quay trở về ngôi làng nơi anh ta được sinh ra để gặp mặt những người thân. Điều này rất quan trọng bởi vì họ sẽ hướng dẫn những kỹ năng giúp người chết bước vào một cuộc sống mới ở thế giới bên kia.

Trước đây, nhiều người lo ngại quãng đường trở về nhà của những thây ma quá dài, và sợ rằng những thây ma này lại “chết” một lần nữa trên đường đi, nên họ thường thuê một thầy phù thủy đi đằng sau, nhằm giúp dẫn đường cho những thây ma này trở về nhà an toàn.

Xác ướp nguyên vẹn

Người chết phải tự thực hiện hành trình trở về nhà, bất chấp quãng đường đó xa hay gần. Sau khi được “làm phép”, xác chết có thể đi lại bình thường. Những thây ma di chuyển một cách cứng nhắc, trông giống như một rô-bốt và khuôn mặt dường như không biểu lộ bất cứ cảm xúc gì.

Nếu một ai đó nói chuyện trực tiếp với xác chết, xác chết sẽ ngã xuống và không thể tiếp tục cuộc hành trình trở về nhà nữa. Do đó, một điều nguy hiểm trong hành trình trở về nhà của các xác chết là gặp những người còn sống và bị họ bắt chuyện.

Để hạn chế rủi ro, các thầy phù thủy thường tìm những con đường vắng vẻ, gần như không có người qua lại để các xác chết có thể tự do đi lại mà không bị làm phiền.

Làm xác chết biết đi bằng cách nào?

Cho đến nay các nhà khoa học vẫn phải đau đầu đi tìm lời giải cho việc bằng cách nào mà phù thủy Toraja có thể khiến những xác chết đi lại và nhận biết được nhà của mình để trở về.

Câu trả lời được tạm cho là hợp lý nhất là việc các thầy phù thủy đã sử dụng một loại chất độc dạng bột nhằm đưa người chết sống trở lại trong trạng thái vô thức, trong một khoảng thời gian nhất định.

Theo đó, loại bột này được cho là chất cực độc đối với người sống do được chiết xuất từ những loài động vật rất độc trong tự nhiên như cá nóc, bọ cạp, nhện độc… Những chất này cũng được cho là tồn tại ở da và nội tạng của con sa giông, cóc, kỳ nhông, bạch tuộc vòng xanh…

Tuy vậy, đối với người chết, nó lại có tác dụng chẳng khác nào thuốc thần giúp cải tử hoàn sinh. Khi chất bột này được “thổi” vào những xác chết, nó sẽ kích thích hệ thần kinh đã chết hoạt động trở lại một cách vô thức như một cái máy.

Xác chết biết đi

Thường thì loại thuốc này sẽ làm cho các thây ma sống lại trong khoảng 3 ngày, đủ thời gian để tìm đường về nhà. Nếu muốn các thây ma sống lại lâu hơn, các phù thủy phải pha chế thuốc với tỷ lệ và liều lượng khác.

Mặc dù vậy, nhiều người vẫn tỏ ra không thỏa mãn với câu trả lời trên và cho rằng việc làm những thây ma biết đi chỉ là một trò ma thuật tà đạo của các phù thủy.

Ngày nay, người Tana Toraja cũng hiếm khi được thấy những thây ma tìm đường về nhà. Người ta e ngại rằng, chẳng bao lâu nữa câu chuyện về những thây ma biết đi sẽ lại chỉ có trong phim ảnh hoặc tưởng tượng. Bởi, ngày càng có ít người biết “ma thuật” này và ít gia đình nào có thể chi trả được chi phí cắt cổ cho việc thuê thầy phù thủy.

Cho đến ngày nay, việc làm cho những xác chết biết đi vẫn là một bí ẩn làm đau đầu các nhà khoa học Indonesia và thế giới.

Thực hư của sự thật khó tin này ra sao, có lẽ chỉ những phù thủy người Tana Toraja mới có câu trả lời xác đáng nhất. Dù dùng ma thuật hay không thì đây vẫn là một nghi lễ tâm linh quý cần được cộng đồng người Tana Toraja và chính phủ Indonesia gìn giữ và bảo vệ.

Theo Báo Gia đình và Cuộc sống (vtc.vn)

Hà Nội lọt Top 10 thành phố uống bia lý tưởng nhất thế giới

Đến Hà Nội, bạn có thể dễ dàng tìm thấy một quán bia vỉa hè, nơi thực khách vừa ngồi thưởng thức một cốc bia với giá khá rẻ, vừa ngắm dòng người tấp nập qua lại trên đường phố hay thoải mái tán gẫu với bạn bè.

Cùng với những thành phố nổi tiếng khác trên thế giới như Munich,Amsterdam, Vienna, Melbourne hay Tokyo…, Hà Nội vừa được một website chuyên về du lịch có tiếng của Mỹ, (www.frommers.com) đưa vào danh sách những thành phố uống bia lý tưởng nhất thế giới.
1. Dublin (Ailen): Giá bia không hề rẻ, khoảng 4,5 bảng Anh/pint (1 pint tương đương với 0,473 lít) so với nhiều thành phố khác trên thế giới nhưng điều đó không ngăn cản người dân Dublin đến các quán bia mỗi ngày, thậm chí nó đã trở thành thói quen của nhiều người.
2. Munich (Đức): Nước Đức vốn được coi là “Vương quốc Bia” và thành phốMunich, thủ phủ của bang Bavaria, là nơi tổ chức lễ hội bia Oktoberfest lớn nhất thế giới. Người dân Đức tiêu thụ khoảng gần 5 trăm triệu lít bia mỗi năm.
3. Amsterdam (Hà Lan): Amsterdam là quê hương của các loại bia nổi tiếng thế giới như Amstel, Heineken và Grolsh. Thành phố này có khá nhiều quán bia nổi tiếng như Cracked Kettle, Café Gollem… Giá trung bình tại Amsterdamkhoảng 3 bảng Anh/nửa lít bia.
4. Prague (CH Séc): Ước tính mỗi năm, một người thủ đô CH Séc uống hết khoảng 150 lít bia, thuộc loại cao nhất thế giới. Giá bia ở đây cũng tương đối rẻ, khoảng 1,25 USD cho nửa lít bia.
5. Vienna (Áo): Bạn có thể tìm thấy rất nhiều thương hiệu bia quen thuộc tạiVienna như Gösser, Zipfer, Schwechate, Wieselburger và Puntigamer. Giá trung bình nửa lít khoảng 4 bảng Anh.
6. Tokyo (Nhật Bản): Một trong những sở thích của người Nhật là uống bia. Mặc dù tại Tokyo chẳng thiếu một thương hiệu bia nào nhưng nhiều người dân ở xứ Mặt trời mọc vẫn “khoái” bia nội hơn. Nếu không muốn ghé quán bia, bạn có thể mua bia ở những máy bán hàng tự động trên phố.
7. Portland (Mỹ): Tại thành phố này có lễ hội bia khá nổi tiếng Oregon Brewers, được tổ chức vào tháng 7 hàng năm, đủ để thấy người dân nơi đây chuộng bia thế nào.
8. Hà Nội (Việt Nam): Đến Hà Nội, bạn có thể dễ dàng tìm thấy một quán bia vỉa hè, nơi thực khách vừa ngồi thưởng thức một cốc bia với giá khá rẻ, vừa ngắm dòng người tấp nập qua lại trên đường phố hay thoải mái tán gẫu với bạn bè.
9. Melbourne (Úc): Melbourne vốn “nhan nhản” quán rượu và nếu là một tín đồ của “bia”, bạn có thể lựa chọn những loại bia phổ biến ở thành phố này như Victoria Bitter (VB), Crown, Carlton Draught, dù giá cũng không “dễ chịu” chút nào, khoảng 5 đôla Úc cho nửa lít bia.
10. Edinburgh (Scotland): Ở Edinburgh, có rất nhiều quán bia đáp ứng đủ mọi lựa chọn cho bạn
M.H
Theo Frommers
—-
BIA HƠI HÀ NỘI TRONG MẮT NGƯỜI MĨ

Phóng viên Russ Juskalian của New York Times có phóng sự về những trải nghiệm thú vị của ông với bia ở khắp ba miền của Việt Nam, dưới đây là đoạn viết về bia hơi Hà Nội.

Len lỏi qua các đường ngang ngõ tắt của Hà Nội, du khách có thể thấy những quán bia hơi ở mọi góc đường với những chiếc bàn nhựa cao đến đầu gối và những chiếc ghế hình bán nguyệt ken dày trên vỉa hè.

Vận chuyển bia Hà Nội trên đường. Ảnh: New York Times.

Bia hơi ở đây có nồng độ cồn thấp (chỉ từ 2 đến 4%). Bia được làm từ chế độ ủ không tiệt trùng, không chất bảo quản. Nó được sản xuất trước khi mặt trời mọc và thường được uống sạch trước khi hoàng hôn xuống. Nhiều người uống bia từ 8h sáng, bởi theo họ thì sau giờ này, hương vị thơm ngon nhất của bia bị giảm đi nhiều.

Những quán bia hơi ngon nhất ở Hà Nội đều phục vụ loại bia mát lạnh với mùi vị rõ ràng từ gạo và một chút thoang thoảng mùi của cây hoa bia (hublông). Ban ngày đi qua những quán này rất dễ gợi chuyện với dân địa phương. Nhưng vào buổi tối, những khách quen đi nhậu có vẻ quá bận rộn nói chuyện nên không để ý tới du khách ngang qua. Người bán hàng rong thì luôn lượn lờ xung quanh chào mời đồ ăn kèm như thịt nướng, mực khô, bánh bao nhân thịt và mỳ.

Tôi thử uống ở hai quán bia hơi tươi nhất trong thành phố là 22 Hàng Tre và 19C Ngọc Hà. Ở cả hai nơi, bia đều ít gắt, nhẹ và phảng phất mùi rơm và gạo – khác xa với những loại bia nồng độ cồn cao và mạnh mà người Mỹ quen uống. Nhiều tối, tôi đã lang thang ở khu vực ngã tư Lương Ngọc Quyến và Tạ Hiện, khu tập trung đông đúc du khách nước ngoài và những người Việt Nam nói tiếng Anh. Góc đường này còn được biết đến là góc bia hơi.

Bia ở đây lấy từ một nhà máy bia nhỏ, chất lượng thay đổi theo từng mẻ. Giá bia rất rẻ, “rẻ hơn cả nước lã”, một người đàn ông Việt Nam nói vậy. Rẻ đến nỗi những dân địa phương thường mua một cốc uống thử xem chất lượng bia trong ngày thế nào trước khi quyết định có ngồi lại không.

Một góc bia hơi Hà Nội. Ảnh: NYT.

Bia cũng giúp việc bắt chuyện ở những góc phố này trở nên thú vị hơn. Một tối tôi nói chuyện về bầu cử Mỹ với một kỹ sư hóa người Việt 26 tuổi. Ngày tiếp theo tôi lại chia sẻ kinh nghiệm trả tiền hoa hồng khi ăn tối ở New York với một cựu đầu bếp đến từ khu Queens, New York.

Vào ngày cuối cùng ở Hà Nội, sau khi thăm lăng Hồ Chủ tịch, tôi dừng chân ở góc bia hơi. Ngồi trên mép ghế nhựa ở vỉa hè, tôi nhìn những người bán hàng rong gánh xoài đi qua, những chiếc xe máy chở nhiều người và hàng hóa đánh võng trên đường. Thỉnh thoảng, tôi thấy các cô thiếu nữ đi dạo cùng bà trong bộ đồ ngủ và dép xỏ ngón.

Ngay sau đó, tôi cũng phải lao vào dòng người xuôi ngược trên phố và bị kẹt cứng trên đường tới sân bay. Thế nhưng sau khi nếm thử văn hóa bia hơi của thành phố này, tôi cũng không vội gì mà gói hành lý.

Hải Minh

 

Những phong tục cưới hỏi kỳ lạ

Phải ngủ với 20 người đàn ông mới được kết hôn

 Theo phong tục cổ ở Tây Tạng, các cô gái trước khi kết hôn phải trao thân cho ít nhất 20 người đàn ông.

Trong điều kiện dân cư thưa thớt ở vùng này thật khó có thể thực hiện được việc đó. Các cô gái phải đi ra những đường mòn trên núi. Họ sẽ mất nhiều ngày chờ đợi để tìm gặp những người qua đường, cố hết sức làm người lạ thỏa mãn.

Sau đó xin người tình một vật kỷ niệm để chứng minh cho các vị già làng nghiêm khắc rằng “chuyện ấy” đã diễn ra không dưới 20 lần, xét theo số vật kỷ niệm.

Bài ca khóc cưới 

Người dân Tujia (Trung Quốc) có phong tục khóc trong ngày cưới. Một tháng trước khi lễ cưới diễn ra, cô dâu sẽ phải khóc trong một tiếng đồng hồ..

Mười ngày sau, cô dâu không phải khóc một mình nữa mà sẽ có mẹ cùng tham gia. Tiếp đó mười ngày, bà ngoại, chị em gái, cô dì cũng khóc cùng cô dâu.

Tục lệ này được gọi là “Bài ca khóc cưới”, khi khóc giọng cô dâu cũng phải lên bổng xuống trầm như hát. Người dân địa phương cho rằng việc khóc trong ngày cưới sẽ giúp cô dâu chú rể có hạnh phúc trong tương lai.

Đánh chú rể 

Tại Nigeria, trên đường đến chỗ cô dâu, chú rể phải đi giữa hai hàng người nhà của cô dâu. Những người này cầm gậy và có nhiệm vụ nện thẳng tay vào chú rể để kiểm tra xem chú rể có sẵn sàng chịu đựng những khó khăn thử thách trên quãng đường đời mới hay không (!).

Phong tục quy định là như vậy, nhưng tất nhiên người nhà cô dâu không ai nỡ đánh vào chỗ hiểm như đầu và mặt chú rể.

Nhịn tắm 3 ngày trước khi cưới 

Những cặp vợ chồng sắp cưới ở Tidon (Malaysia) sẽ không được phép tắm hoặc đi vệ sinh trong suốt 72 giờ trước đám cưới. Họ sẽ bị bỏ đói và chỉ được uống một chút nước. Những người thân trong gia đình sẽ đứng canh cô dâu và chú rể.

Sau đó, nếu hai vợ chồng vẫn khỏe mạnh bình thường thì chứng tỏ họ có thể vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Người dân Tidon tin rằng phong tục này sẽ khiến cho cuộc hôn nhân kéo dài, hạnh phúc và viên mãn.

Đàn ông che mạng 

Tại vùng Tualaji (Libya) có phong tục đàn ông phải che mạng.

Ở Tualaji, những người đàn ông nào được coi là công dân tự do mới được che mạng. Đàn ông ở khu vực khác khi kết hôn với cô gái ở Tualaji phải ở rể và khi chuyển đến ở nhà vợ sẽ phải đeo mạng che mặt. Có một điều đặc biệt mang dấu ấn mẫu hệ ở đây là đàn ông dù là công dân tự do nhưng lấy vợ nô lệ thì con cái sinh ra không được coi là công dân tự do và không được phép che mạng.

Còn phụ nữ có quyền tự do dù lấy chồng nô lệ nhưng khi sinh con thì con cái của họ vẫn được coi là công dân tự do và có quyền che mạng.

Bôi bẩn cô dâu 

Người Scotland có phong tục bôi bẩn cô dâu trước khi cưới. Trong ngày cưới, cô dâu bất ngờ bị đổ lên người những thứ hôi hám như trứng, súp, lông gà, lông chim… trộn lẫn với nhau.

Sau khi bị bôi bẩn, cô dâu tương lai phải đi diễu qua nhiều khu phố và một vài quán rượu để tất cả mọi người nhìn thấy. Nghi thức bôi bẩn mang ý nghĩa giúp cô dâu có thể thích nghi với cuộc sống hôn nhân sau này.

HOLY (Theo Phụ Nữ Ngày Nay)

Sự thật những chiếc bàn tự quay thần bí

(VTC News) – Trong những năm gần đây, báo chí liên tục có những bài viết về hiện tượng chiếc bàn tự quay kỳ lạ ở miền Trung và Tây Nguyên. Những chiếc bàn quay này khiến nhiều người nửa tin, nửa ngờ, thực hư chưa rõ ràngThế nhưng, TS. Vũ Thế Khanh (Liên hiệp UIA), đã từng nghiên cứu và lý giải rất rõ ràng về hiện tượng này.Theo ông Khanh, những chiếc bàn quay xuất hiện ở các tỉnh như Bình Định, Lâm Đồng, Đà Nẵng… từ hàng trăm năm nay. Đây là trò chơi dân gian được lưu truyền ở một số tỉnh phía Nam.

Những chiếc bàn có tuổi thọ cả trăm năm, chuyên dùng để biểu diễn khiến khán giả kinh ngạc. Bàn quay có cấu tạo hình tròn, được làm bằng gỗ, đồng, nhôm hoặc thủy tinh. Mặt bàn được đặt trên một ổ trục để giảm tối đa lực ma sát khi quay.

Những người tham gia cuộc chơi đứng quanh bàn, đặt tay lên mặt bàn và “ra lệnh” liên tục trong đầu: “quay, quay, quay…”. Mặt bàn quay thuận hoặc ngược chiều kim đồng hồ là do quy ước với nhau khi tham gia.

Mặt chiếc bàn quay. Ảnh Khắc Lịch

Khi người chơi đọc liên tục thì mặt bàn bắt đầu quay theo chiều đã quy ước. Mọi người chỉ còn biết chạy theo chiều bàn quay đến lúc mệt. Khi muốn dừng thì tất cả lại cùng đọc: “hãy dừng lại, hãy dừng lại…”. Đọc như vậy một lúc thì bàn cũng dừng hẳn.

Cứ theo lời đồn, từ cả trăm năm nay, các nhà khoa học – những người tỉnh táo nhất đều đã thử nghiệm, song bàn đều quay tít mù. Ai cũng tin chiếc bàn tự quay được.

Ông Khanh đã nghe nói đến chuyện bàn quay từ 35 năm trước, khi lần đầu tiên báo chí đưa tin, khiến cả nước sửng sốt. Từ ngày biết tin, ông đã rất sốt sắng tìm ra sự thật. Với ông, những chuyện bí hiểm, kỳ lạ luôn có sức lôi cuốn đặc biệt.

Để nghiên cứu về chiếc bàn quay, ông đã kỳ công lập một hội đồng khoa học, có cả các nhà ngoại cảm để xem xét khía cạnh tâm linh. Đoàn nghiên cứu đã vào tận Đà Lạt, nơi có chiếc bàn quay mà báo giới nhắc đến ròng rã trong nhiều năm qua. Chiếc bàn quay thuộc sở hữu của chị Phong Lan, chủ một nhà nghỉ nằm ngay cạnh chùa Tàu.

Theo phân tích của các nhà khoa học, bàn chỉ có thể quay khi có lực tác động vào bàn tạo ra mô-men quay, lực này nằm trong mặt phẳng của bàn, có phương vuông góc với bán kính quay, tức là tiếp tuyến với đường tròn quay.

Mặc dưới bàn quay. Ảnh Khắc Lịch

Đoàn nghiên cứu đã nhận định, những loại tác động có thể gây ra mô-men quay được xác định gồm: Tác động của điện từ trường, tác động của lực sinh học và tác động của lực cơ học. Các nhà ngoại cảm đưa ra nguyên nhân nữa là do năng lượng, điện từ trường đặc biệt. Hầu hết người dân cũng như chủ nhân của những chiếc bàn quay đều khẳng định do cõi giới tâm linh vô hình.

Chiếc bàn quay của chị Lan được đặt trong một căn phòng 20 m2. Chiếc bàn làm bằng gỗ, đặt trên một ổ trục quay được thiết kế khá công phu.

Chị bảo rằng, chiếc bàn đã rất lâu đời vì ông nội chị cũng không xác định được từ đời nào để lại. Chị Lan mang cho ông Khanh xem 10 cuốn sổ, mỗi cuốn dày cả trăm trang ghi cảm tưởng của khách thập phương nói về sự kỳ diệu của bàn quay.

Căn cứ vào các trang cảm tưởng thì thấy nhiều tầng lớp xã hội đã từng thí nghiệm tại đây: học sinh, sinh viên, kỹ sư, tiến sỹ, các cán bộ nghiên cứu khoa học thuộc nhiều lĩnh vực, ở khắp các địa phương trên toàn quốc, thậm chí có cả người ngoại quốc.

Chiếc bàn tự quay? Ảnh Khắc Lịch

Tất cả các ý kiến đều ca ngợi sự kỳ lạ của bàn quay, thậm chí còn thần thánh hóa về chiếc bàn quay, chẳng hạn như: “Thật tuyệt vời, chuyện khó tin mà là sự thật. Đề nghị các nhà khoa học hãy vào cuộc, không nên võ đoán, đừng vội phủ định nếu chưa tự mình làm thí nghiệm…”.

Có người còn viết: “Đây là sự thật 100%, đề nghị các cơ quan khoa học Nhà nước kiểm định và công nhận đây là di sản văn hóa quốc gia”.

Rồi thì: “Bàn quay được là do siêu năng lượng, cần nghiên cứu và khai thác dạng siêu nặng lượng này để phục vụ cho khoa học…”.

Có nhà nghiên cứu còn thốt lên thế này: “Đây là hiện tượng cộng hưởng của “thần giao cách cảm”, dù bạn có phủ nhận thì nó vẫn hiện hữu. Thế giới này quả là kỳ diệu…! Nếu tìm được bản chất của hiện tượng quay này thì đó là phát minh thế kỷ!”.

Ông Khanh lật mặt bàn ra khỏi ổ trục quay, xem trong đó có cài các thiết bị có thể bị ảnh hưởng của sóng điện từ điều khiển từ xa hay không. Nhưng phương án này cũng nhanh chóng bị loại bỏ vì chẳng tìm được gì, hơn nữa, từ xa xưa chiếc mâm đã được biểu diễn như vậy, mà lúc đó cũng chưa thể có thiết bị điều khiển từ xa bằng sóng điện từ như bây giờ.

Khi mọi người đặt tay lên bàn, đọc “thần chú” thì chiếc bàn tự quay.

Ảnh Vũ Thế Khanh

Để tiến hành thí nghiệm, trước hết ông Khanh cũng làm theo đúng quy trình như các nhóm khác đã làm trước đây. Mọi người đứng xung quanh, đặt tay trực tiếp lên mặt bàn và đọc cho bàn “quay”.

Lần đầu ra lệnh cho bàn quay theo chiều kim đồng hồ. Sau hơn 4 phút đọc “thần chú”, bàn từ từ quay, càng lúc càng nhanh. Khoảng 10 phút sau, ông Khanh yêu cầu mọi người cùng đọc “hãy dừng lại”. Sau hơn 2 phút, bàn đã dừng lại hẳn.

Lần hai, đoàn khảo nghiệm lại làm đúng như đợt đầu, nhưng “ra lệnh” cho bàn quay ngược chiều kim đồng hồ. Lần này, chỉ khoảng 3 phút bàn đã quay và khi muốn dừng lại thì cũng chỉ mất hơn một phút. Điều này hết sức kỳ lạ, bởi những người tham gia thí nghiệm đều là cán bộ của Liên hiệp UIA.

Cuộc thí nghiệm lần ba, ông Khanh đưa cho mỗi người tham gia thí nghiệm một quả cầu mà ông mang theo từ trước, cỡ xấp xỉ bằng quả bóng bàn. Lần thí nghiệm này mọi người không đặt tay trực tiếp lên mặt bàn mà đặt tay thông qua quả cầu trên mặt bàn.

Ngăn cách mặt bàn và bàn tay bằng quả cầu, thì mặt bàn không quay được nữa. Ảnh Vũ Thế Khanh

Các quá trình đọc “thần chú” vẫn thực hiện như các thí nghiệm trước đây. Nhưng lạ thay, mọi người đọc đến 30 phút mà bàn vẫn không nhúc nhích.

Dù đổi “thần chú” đọc cho bàn quay ngược lại, nhưng bàn vẫn trơ trơ bất động. Người chủ nhà thốt lên: “Từ trước tới nay, chưa có vụ nào bàn không quay. Các bác là nhóm đầu tiên đọc “thần chú” mà bàn không chịu nghe lời”.

Sau khi tổng kết, đánh giá các thí nghiệm, ông Khanh phát biểu trước đông đảo các nhà khoa học và những người dân kéo đến chứng kiến:

“Khi tay người chơi không tiếp xúc với mặt bàn, mà phải gián tiếp thông qua quả cầu, thì người chơi chỉ có thể tác dụng lực vuông góc với mặt bàn (mà phương này thì không gây ra mô-men quay cho bàn).

Quan sát kỹ các lần làm thí nghiệm, thấy rõ người chơi dù vô tình hay cố ý đẩy tay đi thì quả cầu lập tức lăn ngay, không truyền lực đẩy ngang xuống bàn được nữa. Phương pháp này đã triệt tiêu ma sát tạo mô-men quay và làm cho bàn hết “phép lạ”.

Như vậy, có thể khẳng định không hề có tác động của lực từ trường, lực sinh học, điện từ trường hay lực lượng tâm linh siêu hình nào đó như mọi người vẫn từng nghĩ. Bàn chỉ quay khi có lực cơ học do tay người chơi đặt trực tiếp vào mặt bàn tạo mômen quay. Nếu lực này bị khử mất do quả cầu lăn thì bàn không thể quay được nữa”.

Ông Vũ Thế Khanh đã làm sáng tỏ sự thật về chiếc bàn quay

Nhưng lực cơ học gây ra mô-men quay do đâu mà có? Đây là câu hỏi mà các nhà khoa học cũng như những người chứng kiến hoặc đã khảo nghiệm đều muốn có câu trả lời.

Ông Khanh nói rõ: “Khi người chơi đặt tay trực tiếp lên mặt bàn, liên tục đọc khẩu lệnh cho bàn quay, thì tâm lý phát sinh tự kỷ ám thị, dần dần bị rơi vào ảo giác: hình như đang có lực vô hình nào đó làm cho bàn quay, và cảm thấy bàn “chuẩn bị quay”, nên người chơi có xu hướng nương theo chiều quay quy ước trong đầu.

Khi nương theo, vô tình hay hữu ý đã gia tăng lực vào mặt bàn. Cứ như vậy bàn sẽ quay càng lúc càng nhanh hơn. Đấy là chưa kể đến trường hợp trong số đó có một người cố tình đẩy cho bàn quay. Quá trình dừng bàn lại cũng theo nguyên tắc ấy để phát sinh tâm lý tương ứng.

Như vậy, thực chất của hiện tượng “bàn quay” là do tay người chơi đã tác động lực cơ học vào mặt bàn tạo mô-men quay. Người chơi cũng vô tình không hề nghĩ rằng chính mình bị tự kỷ ám thị, đã tưởng tượng ra bàn đang quay (hoặc sắp quay), nên đã gia tăng lực vào khiến bàn quay nhanh hơn”.

Theo ông Khanh, những người tập thiền, luyện yoga, hiểu biết về lĩnh vực thôi miên đều hiểu rất rõ hiện tượng tự kỷ ám thị.

Như vậy, câu hỏi tồn tại hàng thế kỷ nay về chiếc bàn quay đã được nhà khoa học Vũ Thế Khanh làm sáng tỏ bằng một thí nghiệm hết sức đơn giản.

Thông Tuệ