Bí ẩn ngôi mộ cổ bị xiềng ở Tiền Giang

Tại xã Long Khánh (Cai Lậy, Tiền Giang) có hai ngôi mộ cổ từng bị vua Gia Long cho xiềng xích. Xung quanh mộ có nhiều truyền thuyết bí ẩn.

Hai ngôi mộ cổ của ông Lê Phước Tang và vợ được thiết kế theo hình lá sen úp, nằm trong khu đất 200 m2, cây cối cỏ dại mọc um tùm, từ lâu đã hoang phế. Khu mộ được chôn theo nguyên tắc nam tả, nữ hữu, có bốn trụ hình búp sen nhưng hiện đã bị gãy mất hai trụ. Ngoài ra, còn có bình phong hậu và bình phong tiền.

Điều đặc biệt là khu mộ được xây dựng bằng chất liệu vôi và ô dước. Được mệnh danh là “hợp chất huyền thoại”, ô dước trước khi đắp lên mộ ở thể lỏng sền sệt như nham thạch của núi lửa, hoặc ươn ướt như keo dán. Nhưng khi đắp xong, nó khô đặc lại và các chất tổng hợp được giã nát trong đó tự kết dính, quyện vào nhau thành một khối rắn chắc, bất khả phân ly.

Toàn cảnh khu mộ cổ và hai cây thị. Ảnh: An ninh thế giới.

Một số bô lão địa phương kể, ông Lê Phước Tang là trại chủ thời khẩn hoang miền Nam ở giai đoạn nửa thế kỷ 17. Thuở đó, chính sách của chúa Nguyễn là khích lệ người dân từ miền Trung tiến về phía Nam khai khẩn đất rừng hoang lập ấp. Người đứng ra dẫn đoàn khai khẩn được gọi là trại chủ – một danh xưng tương đương với địa chủ thời Đông Dương thuộc địa.

Truyền thuyết dẫn rằng, ông Tang làm trại chủ đưa một nhóm tráng đinh từ miền Trung vào làng Hòa Thuận (nay là ấp Hòa Trí, xã Long Khánh, huyện Cai Lậy) khai khẩn đất hoang, lập nghiệp. Là trại chủ, ông được quyền thu thuế suất của dân trại, trích giữ một phần rồi đóng thuế cho nhà cầm quyền. Ông không hề kiêu ngạo mà thường giúp đỡ những người nghèo khó, cực khổ nên được người dân địa phương hết lòng yêu mến, kính trọng. Để tưởng nhớ công lao khẩn hoang của ông, người dân dùng tên ông đặt cho một con rạch cạnh xã Long Khánh – rạch Ông Tang.

Sau khi ông Tang mất hơn một trăm năm, những chuyện xung quanh cuộc sống gia đình ông bỗng dưng “sống dậy” thành những chuỗi giai thoại huyền bí được nhiều người dân kể cho nhau vào những lúc trà dư, tửu hậu. Trong đó, phổ biến nhất là chuyện hai người con ông Tang mặc áo vua đi thăm đồng ruộng khiến cả gia đình bị tru di tam tộc.

Theo truyền thuyết này, lúc thất thời, chúa Nguyễn Phúc Ánh bị nhà Tây Sơn truy đuổi phải chạy trốn vào làng Hòa Thuận, được ông Tang cưu mang, che giấu nuôi dưỡng một thời gian dài. Trước lúc rời nhà ông Tang đi Xiêm cầu viện, chúa Nguyễn Phúc Ánh tấn phong cho ông Tang giữ chức Khâm sai Cai cơ, đồng thời gửi lại một số hành lý nhờ ông trông giữ. Ông Tang ngày một già, sức khỏe yếu dần mà vẫn chưa thấy Nguyễn Phúc Ánh quay về lấy hành lý. Sợ không qua khỏi nên ông dặn dò con cháu bảo quản kỹ lưỡng hành lý chúa gửi. Sau đó, ông Tang qua đời.

Tuy đã được dặn dò nhưng hai con trai của ông Tang là Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa (tục gọi cậu Gương và cậu Sen) vẫn tò mò mở rương hành lý ra xem thử. Họ chỉ thấy triều phục vua chúa chứ không thấy thứ gì quý giá cả. Nghĩ rằng cha quá cường điệu sự quý giá của những bộ đồ diêm dúa, hai cậu con trai vô tư lấy ra khâm liệm cho cha. Số còn lại, hai anh em Gương, Sen lấy ra mặc khi đi thăm đồng. Một số người thấy họ làm vậy là mắc tội khi quân, đã khuyên rằng: “Sau này chúa Nguyễn phục quốc sẽ bị xử trảm”.

Vào thời điểm đó, quân Tây Sơn rất mạnh, còn chúa Nguyễn thì bôn ba ở tận nước Xiêm. Nghĩ rằng chúa Nguyễn không còn cơ hội phục quốc, hai anh em Gương, Sen cười cợt với những người khuyên ngăn bằng câu ca dao: “Khi nào chó đẻ bằng da/ Gia Long phục quốc thì ta rụng đầu“.

Vài năm sau, nhà Tây Sơn suy yếu, Nguyễn Phúc Ánh phục quốc, lên ngôi và lấy hiệu là Gia Long. Nhớ ơn ông Tang, nhà vua sai người tìm gia đình ông để đền ơn. Thế nhưng nghe chuyện hai anh em Gương, Sen từng miệt thị mình, vua Gia Long nổi giận ban lệnh tru di tam tộc, tịch thu toàn bộ tài sản của dòng họ Lê Phước. Riêng vợ chồng ông Tang đã qua đời, vua cho lính đánh roi khu mộ, sau đó xiềng xích để đời đời không đầu thai. Chưa hết, vua Gia Long còn cho người trồng hai cây thị bên cạnh khu mộ với hàm ý “khinh thị”, xem thường dòng họ Lê Phước.

Trước truyền thuyết đó, một số nhà nghiên cứu sử học địa phương khẳng định, chuyện hai con trai ông Tang mặc áo vua đi thăm ruộng chỉ là giai thoại dân gian, chứ không đúng với lịch sử. Căn cứ vào những chữ khắc trên bia mộ còn nhìn thấy, tên hai người con đứng ra lập mộ cha đúng là Lê Phước Tánh và Lê Phước Khỏa. Trên bia mộ còn có ghi dòng chữ “Lão tiên sinh”, ắt hẳn ông Lê Phước Tang mất khi tuổi đã cao. Phần sứt mẻ trên bia mộ lại trùng vào chỗ khắc năm sinh, nên không xác định được ông Tang gặp chúa Nguyễn vào khoảng thời gian nào.

Tuy nhiên, căn cứ theo thời gian ông qua đời là tháng 10 năm Kỷ Hợi, tức là năm 1779 dương lịch. Khoảng thời gian đó, Nguyễn Phúc Ánh lúc chưa lên ngôi vua. Có nghĩa là Nguyễn Phúc Ánh chưa có triều phục thì chuyện hai anh em Gương, Sen mặc áo vua đi… thăm ruộng và khâm liệm Lê Phước Tang không thể xảy ra.

Theo nhiều tư liệu, thư tịch cổ thì dòng họ Lê Phước vốn là thân tộc bên ngoại của chúa Nguyễn. Điều này chứng tỏ việc Nguyễn Ánh xin tá túc tại nhà ông Tang khi chạy loạn hoàn toàn có thể xảy ra. Nhưng việc gia đình ông Tang bị trị tội thì thiếu cơ sở khoa học.

Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường cho hay, chính tên trộm đã giúp giải mã sự thật của truyền thuyết dân gian. Theo ông Tường, năm 1985, một tên trộm quá tin vào những giai thoại đã bí mật đào mộ ông Tang để tìm báu vật. Vì ngôi mộ quá kiên cố nên tên trộm phải cất công đào một căn hầm bên cạnh rồi mở ngách từ bên hông huyệt mộ để đột nhập quan tài. Tuy nhiên, tường huyệt mộ quá dày, tên trộm dùng cuốc chim phá không được nên ra chợ Cai Lậy mượn dụng cụ của một người thợ mộc. Người thợ mộc không cho mượn dụng cụ mà đòi “hợp tác chia phần”.

Cả hai dùng dụng cụ thợ mộc khoét huyệt mộ, phá quan tài. Khi khoét vào quan tài, 2 kẻ trộm móc ra hộp sọ, xương, ống ngoáy trầu, lược sừng… Gom hết những vật dụng trong quan tài, 2 tên trộm đem về bán mãi không ai mua. Bực tức, gã trộm vừa đi vừa chửi đổng giữa chợ và lọt đến tai các cơ quan chức năng. Nhà nghiên cứu Trương Ngọc Tường được phân công kiểm tra ngôi mộ ông Tang. Ông Tường xác nhận, trong ngôi mộ cổ không hề có áo mão vua hay báu vật quý gì cả.

Căn cứ vào nhiều tài liệu nghiên cứu sử học ghi lại, ông Tường nhận định, gia đình Lê Phước bị trị tội là do cậu Gương và cậu Sen cộng tác với nhà Tây Sơn. Vào năm 1785, quân Tây Sơn làm chủ được nhiều làng dọc theo sông Ba Rài sau chiến thắng trận Rạch Gầm – Xoài Mút. Rất có thể hai con trai của ông Tang đã hỗ trợ, cung cấp lúa gạo cho quân Tây Sơn.

Ngôi mộ ông Tang nhìn từ phía trước và phía sau. Ảnh: An ninh thế giới.

Đến năm 1788, quân của Nguyễn Ánh trở lại đánh đuổi quân Tây Sơn và chiếm đóng lại vùng Ba Rài. Lúc này, Nguyễn Ánh ra lệnh tịch thu toàn bộ tài sản dòng họ Lê Phước vì tội giúp giặc Tây Sơn. Sau đó, chúa Nguyễn cấp cho Tiền quân Tôn Thất Hội trông coi và quản lý hai đồn Mỹ Trang, Thanh Sơn, nay thuộc khu vực thị trấn Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

Theo thống kê trong địa bạ Minh Mạng năm 1836, số ruộng đất gia đình Lê Phước tới 125 mẫu đồng quan. Tuy lúc này ông Tang đã qua đời, nhưng vẫn bị kết tội dưỡng bất giáo, vua Gia Long ra lệnh xiềng xích khu mộ để trị tội.

Từ những cứ liệu đó cho thấy, chuyện mộ vợ chồng ông Tang bị xiềng xích là có thật nhưng không phải vì tội “lạm dụng hoàng phục”. Ngôi mộ có bị xiềng nhưng không đến nỗi tạo thành gân lá sen trên bia mộ. Khu mộ của vợ chồng ông Lê Phước Tang đã trải qua hàng trăm năm nhưng hiện trạng vẫn còn khá nguyên vẹn tại một khu đất rộng lớn. Cạnh khu mộ vẫn còn 2 cây thị cổ thụ.

Ông Trương Ngọc Tường khẳng định, những cây thị này được con cháu ông Tang trồng như một hàng rào để bảo vệ khu lăng mộ chứ không phải do vua Gia Long trồng để “miệt thị” như dân gian truyền tụng. Ông phân tích: “Trong Hán tự, chữ thị và chữ khinh thị có nét viết khác nhau, nghĩa cũng khác nhau”.

Tuy bị tru di tam tộc nhưng dòng họ Lê Phước vẫn chưa tuyệt tự. Gia tộc này vẫn còn con cháu bàng hệ, sống rải rác ở khắp nơi. Hằng năm, dịp thanh minh, họ vẫn về tảo mộ hai ông bà.

Theo An ninh thế giới

Cá lăng trên dòng Sêrêpôk

Dòng Sêrêpôk hoang dã, bí ẩn và mãnh liệt đã được thiên nhiên ban tặng cho một loại cá quý gắn với nhiều câu chuyện đầy chất huyền thoại và những món ngon nổi tiếng: cá Lăng
 

Săn cá lăng
Cá Lăng chỉ thích sống ở các khúc sông nhiều cuộn sóng, nước chảy xiết và lắm thác ghềnh. Trước đây, trên sông Sêrêpôk, loại cá này nhiều vô kể, có con to bằng cả con bê, tuy nhiên để bắt được là cả một cuộc vật lộn khắc nghiệt và đầy rủi ro. Thợ săn phải chấp nhận mạo hiểm đi theo các trận lũ rừng, tìm đến những quãng sông hiểm trở và tuân thủ nghịch lý của dòng sông chảy ngược. Hàng chục năm trước, đồng bào Êđê dùng cây lao bịt đầu sắt để đâm cá. Khi nước lũ dâng cao, những người săn cá lên thuyền mang theo nhiều dụng cụ xuống sông đâm những con cá to đùng bơi lội như cây gỗ trôi sông. Thợ săn cá đứng trên thuyền kiên nhẫn mai phục và chờ có cá đến gần là phóng lao. Cây lao dài gần ngang đầu người đâm xuyên sâu vào mình cá. Thợ săn phải để cá mặc sức vùng vẫy, đồng thời chèo thuyền theo, chờ đến khi nó đuối sức nổi lên mặt nước mới dùng dây kéo lên thuyền.

Thời trai tráng, già Y Tal Niê, ở Ea Wer, huyện Buôn Đôn, là một thợ săn cá Lăng có tiếng. Già thuộc lòng từng khúc sông và đặc tính từng con cá, đã từng bắt được cá lăng to bằng con bê. Đến giờ già vẫn còn cảm thấy “sướng trong người” khi kể lại chuyện bắt con cá khổng lồ gần 50 năm trước. Lần ấy, già phải phóng hai lao vì con cá khỏe quá, quần thảo cả buổi theo dấu lao mới bắt được. Không đưa được nó lên thuyền, già phải nương theo dòng nước, kéo nó dạt vào bờ. Sau khi làm thịt cá tế Giàng, già cắt con cá thành mấy chục miếng chia cho mọi người trong buôn cùng ăn. Già cho biết, để săn được những con cá lớn phải sử dụng dây câu to gần bằng ngón tay út được kết bằng 3 — 4 sợi dây dù rất bền; còn lưỡi câu to bằng bàn tay, làm bằng loại thép tự chế. Nhiều con cá lăng lớn khỏe đến mức có thể kéo tuột cần câu, thậm chí kéo thợ săn ngã dúi dụi. Vì thế, những tay săn cá Lăng phải có sức khỏe, kinh nghiệm và mưu mẹo chứ không phải chiến đấu “tay đôi” với cá.

Bây giờ, cá Lăng lớn trên sông Sêrêpôk không nhiều như trước đây. Những con cá nặng khoảng 5 kg trở lên rất hiếm, cho nên phương pháp bắt cá Lăng chủ yếu là dùng câu chứ không phải dùng lao hay thuốc bằng lá rừng. Các thợ câu thường chèo thuyền đến những đoạn sông hiểm trở, nước chảy mạnh và có nhiều đá ghềnh ở Krông Na, Ea Wer (huyện Buôn Đôn), gần cầu 14, ngược về Dak Nông để thả câu, nhưng cá bắt được to lắm cũng chỉ khoảng 3 – 4 kg. Gia đình anh Y Thu ở thôn 5, xã Hòa Phú (TP. Buôn Ma Thuột) bao đời sống nhờ con cá trên sông Sêrêpôk. Anh biết chèo thuyền quăng lưới, thả câu khi mới 1 tuổi. Tuy nhiên, bây giờ dù thường xuyên đuổi theo con nước về đến Buôn Đôn, ngã sáu Buôn Trấp (huyện Krông Ana), nhưng nhiều khi không câu được cá Lăng. Anh cho biết, nhiều người dùng bình điện và cả thuốc nổ để đánh cá nhưng anh chỉ dùng câu và lưới, thỉnh thoảng gặp cá lăng nhỏ anh cũng không nỡ bắt. Bởi vì, anh Y Thu đã được cha dạy “Phải làm sao vừa đánh được cá vừa bảo vệ dòng sông đã bao đời gắn bó với đồng bào”.

Tuyệt phẩm ẩm thực của dòng sông 
Dòng Sêrêpôk đi qua đã ban tặng cho đồng bào Êđê nguồn thực phẩm dồi dào từ hàng nghìn năm nay. Trong quá trình sinh tồn trên dòng sông làm cho cá Lăng rắn chắc, thịt thơm và là món ngon nổi tiếng. Ngày xuân thưởng thức đặc sản trên dòng Sêrêpôk và chúc nhau năm mới thì không còn gì thú vị bằng.

Cá Lăng có thể chế biến thành nhiều món, tuy nhiên ấn tượng nhất vẫn là món lẩu cá lăng với hương vị độc đáo mang đậm chất Tây Nguyên. Để có nồi lẩu thơm ngon, phải chọn những con cá Lăng khỏe, chắc thịt, ít xương và ngọt. Việc chế biến cá Lăng rất cầu kỳ, đòi hỏi tài nghệ và sự điêu luyện của người chế biến, bởi chỉ một sự thêm thắt tùy tiện cũng làm mất đi hương vị hấp dẫn của loài cá quý ấy. Cá lăng chỉ có một rẽ xương sống chạy dọc theo thân. Bởi vậy, chỉ cần dùng một con dao sắc, khía dọc theo hai bên thân sẽ những miếng thịt cá núc ních, dày cơm, tươi roi rói. Sau đó tẩm ướp gia vị gồm nước cốt của riềng, nghệ quyện với mẻ, mắm tôm, nước mắm trong khoảng 1 giờ. Ăn lẩu cá Lăng thì tuyệt nhiên cá phải tươi, không ăn cá ướp lạnh. Khi nồi lẩu sôi, cho cá vào cùng với các loại rau ăn kèm. Vị ngọt, bùi của thịt cá hòa trộn cùng vị chua thanh thanh của các loại gia vị như bài thuốc không thể thiếu một vị nào; thử một miếng thấm đến tận chân răng. Để nồi lẩu ngon hơn phải ăn kèm với cần tây, cải xanh, rau đắng, bạc hà và đặc biệt không thể thiếu rau thì là để nước lẩu thơm hơn, ngọt hơn.Đồng bào bên dòng Sêrêpôk còn nấu cá lăng với măng rừng, um cà đắng (chủ yếu là lòng cá), hoặc nướng ăn với lá păk cum chấm muối tiêu trộn ớt xanh giã nát là đặc sản của đồng bào Êđê. Vị chua của măng le, chút đắng của quả cà hay lá păk cum, vị cay nồng của ớt cộng thêm với cái ngọt của cá kết hợp lại tạo nên hương vị đậm đà, nồng nàn và thật khó quên.

Dòng Sêrêpôk như người bạn tâm tình, đã chảy qua bao thế hệ người Êđê, M’nông, ban tặng cho họ những sản vật quý giá của vùng sông nước. Nhấp ly rượu xuân, nhấm nháp món cá Lăng, nói chuyện dòng sông, đời người để rồi hiểu thêm về dòng sông, hiểu thêm cuộc sống trên cao nguyên
Theo Du lịch Việt Nam

Kết quả hoạt động du lịch thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2012

Trong tháng 8/2012, khách quốc tế đến thành phố Hồ Chí Minh ước tính có 290.000  lượt khách, tăng 10,9 % so với với cùng kỳ năm 2011.

Trong đó:

Khách đến bằng đường hàng không là  231.000 lượt người, tăng 11 % so với cùng kỳ năm 2011;

Khách đến bằng đường khác ước tính là 59.000 lượt người, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2011

Chủ yếu là khách đến bằng đường bộ.

Tổng lượng khách quốc tế đến thành phố trong 08 tháng đầu năm 2012 ước đạt 2.410.000 lượt, tăng 10,1% so cùng kỳ và đạt 60,4 % kế hoạch năm 2012 (KH: 3.780.000 lượt).    

Doanh thu ngành du lịch trong tháng ước đạt 4.500 tỷ đồng, tăng 25 % so với cùng kỳ.

Tổng doanh thu du lịch 8 tháng đầu năm ước đạt 34.400 tỷ đồng, tăng 15 % so cùng kỳ và đạt  50,5 % kế họach năm 2012.

 

Nguồn: Sở VH TT DL TPHCM

Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 – P1

PHẦN 1:   BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 

1. Bối cảnh và xu hướng du lịch thế giới

Thế giới trong bối cảnh có nhiều biến động, nhiều yếu tố mới vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Việt Nam, tác động trực tiếp đến ngành Du lịch. Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu và toàn diện. Toàn cầu hóa là một xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, các vùng lãnh thổ vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh và tính phụ thuộc lẫn nhau. Quan hệ song phương, đa phương ngày càng được mở rộng trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ. Các mối quan hệ Á-Âu, Mỹ-Châu Á, Nhật Bản-ASEAN và các nền kinh tế trong APEC ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực; Châu Á-Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động và thu hút du lịch. Hợp tác trong khối ASEAN ngày càng tăng cường về chiều sâu. Hiệp hội du lịch Châu Á-Thái Bình Dương (PATA) hoạt động ngày càng có tiêu điểm hơn.

Mặt khác, những bất ổn chính trị ở một số quốc gia, xung đột, khủng bố, dịch bệnh, thiên tai, đặc biệt những biểu hiện của biến đổi khí hậu là những yếu tố gây nhiều khó khăn, trở ngại cho hoạt động du lịch. Trên bình diện thế giới, Việt Nam được coi là 1 trong 5 quốc gia chịu tác động mạnh nhất của biến đổi khí hậu bởi mực nước biển dâng. Khủng khoảng kinh tế năm 2008-2009 tạo các tác động mạnh mẽ về nhiều mặt, đặc biệt đã tái cấu trúc nền kinh tế thế giới, đòi hỏi các quốc gia, vùng lãnh thổ phải thích ứng theo xu hướng mới. Các nước, nhất là những nước đang phát triển đều tìm kiếm các giải pháp khôn khéo hơn, dựa vào lợi thế so sánh quốc gia về tài nguyên độc đáo, bản sắc văn hoá dân tộc để phát triển du lịch.

Trong xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ được ứng dụng có hiệu quả. Kinh nghiệm quản l ý tiên tiến, công nghệ hiện đại, nguồn nhân lực chất lượng cao được sử dụng như là công cụ cạnh tranh chủ yếu giữa các quốc gia. Công nghệ mới làm thay đổi căn bản phương thức quan hệ kinh tế, đặc biệt công nghệ thông tin truyền thông được ứng dụng mạnh trong hoạt động du lịch.

Du lịch đã là một xu hướng phổ biến trên toàn cầu, du lịch quốc tế liên tục tăng trưởng, và là ngành có khả năng phục hồi nhanh nhất sau khủng hoảng; du lịch nội khối chiếm tỷ trọng lớn; du lịch khoảng cách xa có xu hướng tăng nhanh. Du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển dịch vụ phát triển nhanh nhất và lớn nhất trên bình diện hế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của các quốc gia. Đặc biệt các nước đang phát triển, vùng sâu, vùng xa coi phát triển du lịch là công cụ xoá đói, giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế.

Nhu cầu du lịch thế giới có nhiều thay đổi, hướng tới những giá trị mới được thiết lập trên cơ sở giá trị văn hoá truyền thống (tính độc đáo, nguyên bản), giá trị tự nhiên (tính nguyên sơ, hoang dã), giá trị sáng tạo và công nghệ cao (tính hiện đại, tiện nghi). Du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch có trách nhiệm, du lịch cộng đồng gắn với xoá đói giảm nghèo, du lịch hướng về cội nguồn, hướng về thiên nhiên là những xu hướng nổi trội. Chất lượng môi trường trở thành yếu tố quan trọng cấu thành giá trị thụ hưởng du lịch.

2. Bối cảnh phát triển du lịch Việt Nam

Bối cảnh trong nước với những thuận lợi, khó khăn đan xen đòi hỏi ngành Du lịch phải khai thác được những điểm mạnh trở thành yếu tố thuận lợi và khắc phục những điểm yếu, hạn chế để vượt lên khó khăn, trở ngại.

2.1. Tình hình phát triển du lịch

Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng trưởng nhanh và liên tục trong nhiều năm nhưng chưa ổn định, chưa tương xứng với tiềm năng (5 triệu lượt năm 2010); tỷ trọng khách du lịch thuần tuý chi trả cao và nghỉ dưỡng dài ngày còn thấp. Khách du lịch nội địa tăng lên nhanh chóng (trên 28 triệu lượt năm 2010); khách du lịch ra nước ngoài đang có xu hướng tăng trưởng rõ rệt.Thu nhập du lịch ngày càng cao (96 ngàn tỷ đồng năm 2010), chiếm tỷ trọng đáng kể trong GDP. Tuy nhiên so với tiềm năng và quy mô phát triển thì thu nhập du lịch chưa cân xứng, thể hiện hiệu quả kinh doanh thấp, hàm lượng giá trị gia tăng còn thấp (5,25% GDP năm 2009).

Đầu tư du lịch được đẩy mạnh, đặc biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng dẫn dắt phát triển du lịch. Đầu tư của khu vực tư nhân tăng nhanh, tuy có những đột phá năng động nhưng tầm cỡ quy mô còn manh mún, dàn trải, tự phát và thiếu đồng bộ, liên hoàn nên hiệu quả tổng thể không cao. Kết cấu hạ tầng du lịch được quan tâm hỗ trợ đầu tư của Nhà nước và thu hút được các thành phần kinh tế tham gia đầu tư. Nhiều công trình giao thông, sân bay được cải tạo và đầu tư mới; cơ sở vật chất các khu du lịch được đầu tư, nâng cấp từng bước tạo điều kiện mở đường cho hoạt động du lịch. Tuy nhiên tính đồng bộ và hiện đại của hạ tầng du lịch và liên quan vẫn chưa đảm bảo yêu cầu của ngành dịch vụ hiện đại và hội nhập. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch phát; nhiều khu du lịch, resorts, khu giải trí, khách sạn cao cấp đạt trình độ quốc tế đã hình thành nhưng còn chiếm tỷ trọng nhỏ chưa làm thay đổi căn bản diện mạo của ngành; chưa hình thành được hệ thống các khu du lịch quốc gia với thương hiệu nổi bật.

Ngành du lịch tạo ra ngày càng nhiều việc làm cho xã hội (hàng năm tạo thêm 30-40 ngàn việc làm trực tiếp). Chất lượng nhân lực du lịch qua đào tạo và kinh nghiệm thực tiễn ngày càng được nâng lên nhờ những nỗ lực của ngành và hỗ trợ của quốc tế trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch; hệ thống cơ sở đào tạo du lịch ngày càng mở rộng và nâng cấp. Tuy vậy, mặt bằng chung chất lượng nhân lực du lịch vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về tính chuyên nghiệp, kỹ năng quản lý, giao tiếp và chất lượng phục vụ.

Sản phẩm du lịch đã có đổi mới, phát triển đa dạng hơn nhưng chất lượng chung còn nghèo nàn đơn sơ, thiếu tính độc đáo, thiếu đồng bộ và liên kết chưa cao và ít sáng tạo. Sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng giá trị gia tăng cao còn chiếm tỷ trọng nhỏ, nhiều sản phẩm trùng lắp, suy thoái nhanh. Thị trường du lịch đã từng bước được lựa chọn theo mục tiêu. Tuy nhiên công tác nghiên cứu thị trường còn nhiều yếu kém, chưa thực sự đi trước một bước. Khai thác, thu hút thị trường còn dừng ở bề nổi, thụ động; chưa phân đoạn và chưa có tiêu điểm tập trung.

Công tác xúc tiến quảng bá được triển khai khá sôi động trong và ngoài nước nhưng tính chuyên nghiệp và hiệu quả chưa cao, mới dừng ở quảng bá hình ảnh chung, chưa tạo được tiếng vang và sức hấp dẫn đặc thù cho từng sản phẩm, thương hiệu. Một số địa danh du lịch được quốc tế biết đến như Hạ Long, Sapa, Hà Nội, Huế, Hội An, Đà Lạt, Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) nhưng hình ảnh vẫn chưa đậm nét.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch dần được đổi mới, Luật du lịch và các luật, pháp lệnh liên quan, hệ thống văn bản pháp quy hướng dẫn thi hành dần hoàn thiện và áp dụng trong thực tế. Tuy nhiên, tổ chức bộ máy của ngành có nhiều thay đổi; hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao, còn chồng chéo trong quản lý liên ngành, liên vùng. Công tác quy hoạch phát triển du lịch cả nước đã đi vào thực tiễn, hầu hết các địa phương đã có quy hoạch tổng thể phát triển du lịch. Tuy nhiên công tác quản lý và thực hiện quy hoạch du lịch còn nhiều bất cập, hiệu quả chưa được như mong muốn.

Việc khai thác tài nguyên du lịch không ngừng được mở rộng nhưng do thiếu kinh nghiệm và chưa có tầm nhìn dài hạn nên kém hiệu quả và bền vững. Các di tích, di sản đã phát huy giá trị phục vụ du lịch nhưng sự chủ động liên kết khai thác chưa cao; công tác bảo tồn văn hoá và bảo vệ môi trường đã được chú trọng nhưng hiệu quả thực thi thấp, ô nhiễm môi trường diễn ra ở nhiều nơi. Vấn đề vệ sinh, trật tự, an ninh, an toàn, tệ nạn xã hội vẫn còn tồn tại phổ biến.

Nhận thức về du lịch đã có bước cải thiện và tiến bộ nhất định, nhiều chính sách được tháo gỡ tạo thuận lợi cho phát triển du lịch, các thủ tục thông thoáng hơn. Tuy nhiên, do xuất phát điểm còn thấp, phát triển du lịch còn là vấn đề mới nên mặt bằng chung về nhận thức du lịch vẫn còn khoảng cách xa so với yêu cầu phát triển.

2.2. Những cơ hội, thuận lợi cho phát triển du lịch

Đảng và Nhà nước có sự quan tâm chú trọng phát triển du lịch. Tình hình chính trị xã hội ổn định; kinh tế tăng trưởng, đất nước hội nhập với khu vực và thế giới ngày càng sâu và toàn diện với chính sách ngoại giao rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa, muốn làm bạn và đối tác tin cậy của các nước; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế luôn được cải thiện, được sự hợp tác, hỗ trợ tích cực của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là hợp tác trong khối ASEAN là những điều kiện thuận lợi mở đường cho du lịch phát triển.

Tiềm năng về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc cùng với kết quả và kinh nghiệm hơn 20 năm đổi mới và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển du lịch (2001-2010) là yếu tố quan trọng thúc đẩy Du lịch Việt Nam phát triển trong giai đoạn tới.

Khung pháp lý và các chuẩn mực về du lịch và liên quan bước đầu được hình thành, từng bước tạo điều kiện đưa ngành du lịch phát triển theo hướng hiện đại, đáp ứng những yêu cầu, chuẩn mực quốc tế.

Lực lượng lao động trẻ, dồi dào, cần cù, thông minh, linh hoạt là yếu tố tích cực trong phát triển dịch vụ và một trong những lợi thế cạnh tranh của du lịch Việt Nam.

Cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội được cải thiện, nguồn lực tăng trưởng kinh tế nâng cao khả năng huy động đầu tư của Nhà nước và khu vực tư nhân, đặc biệt đầu tư thông qua thị trường vốn và cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài sẽ thúc đẩy đầu tư phát triển du lịch.

Đời sống, thu nhập và điều kiện làm việc của nhân dân được cải thiện và nâng cao, nhu cầu giao lưu văn hóa ngày càng tăng, có nhiều điều kiện đi du lịch trong nước và ra nước ngoài là cơ hội cho ngành Du lịch phát triển.

2.3. Những khó khăn, thách thức đối với phát triển du lịch

Thị trường thế giới biến động khó lường; hậu quả của khủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động mạnh tới quy mô, tính chất của thị trường gửi khách đến Việt Nam.

Năng lực cạnh tranh của ngành Du lịch còn non yếu, chất lượng, hiệu quả thấp, thiếu bền vững trong khi môi trường cạnh tranh giữa các quốc gia, khu vực và giữa các ngành, vùng, sản phẩm ngày càng gay gắt.

Nhận thức, kiến thức quản lý và phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu; Cơ chế, chính sách quản lý còn bất cập chưa giải phóng mạnh năng lực sản xuất; vai trò và năng lực của khối tư nhân, hội nghề nghiệp chưa được phát huy đúng mức; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa thống nhất và phát huy hiệu lực, hiệu quả toàn diện vẫn là những khó khăn đối với phát triển du lịch theo hướng hiện đại, trình độ cao.

Quy hoạch phát triển du lịch bị tác động mạnh bởi các quy hoạch chuyên ngành, còn tồn tại những tranh chấp về lợi ích và thiếu tầm nhìn trong đầu tư phát triển dẫn tới không gian du lịch bị phá vỡ; tài nguyên có nguy cơ bị tàn phá, suy thoái nhanh và môi trường du lịch bị xâm hại.

Kết cấu hạ tầng yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ dẫn tới khả năng tiếp cận điểm đến du lịch khó khăn, đặc biệt đối với các vùng núi cao, vùng sâu vùng xa.

Sản phẩm du lịch chưa đặc sắc, trùng lắp và thiếu quy chuẩn;chất lượng chưa đáp ứng dẫn tới sức cạnh tranh yếu, kém  hấp dẫn; xúc tiến quảng bá lại thiếu chuyên nghiệp nên khó đạt được kết quả rõ nét.

Thiếu nguồn nhân lực chuyên nghiệp; thiếu đội ngũ chuyên gia đầu ngành, lực lượng quản lý tinh thông và lao động trình độ cao.

Tính thời vụ, thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt ở miền Bắc và miền Trung; tác động của biến đổi khí hậu là thách thức lớn đối với du lịch.

Mức sống trong dân cư phần đông còn thấp, nếp sống văn minh, ý thức pháp luật không nghiêm và các vấn đề khác như an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực phẩm… là những khó khăn cho phát triển du lịch có chất lượng.

Nắm bắt xu thế phát triển chung của thời đại, tranh thủ những cơ hội và phát huy các nguồn lực, bài học rút ra để xác định bước đột phá căn bản cho giai đoạn tới là: thứ nhất, hiệu quả về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường là mục tiêu tổng thể của phát triển; thứ hai, chất lượng và thương hiệu là yếu tố quyết định; thứ ba, doanh nghiệp là động lực đòn bẩy cho phát triển và thứ tư, phân cấp mạnh và liên kết về quản lý là phương châm.

-Còn tiếp-

 

 

 

Tháp Chăm cổ ở Tây Ninh

Các tháp Chăm là các sản phẩm kiến trúc đặc sắc của người Chăm ngày xưa, mà cho đến nay, sau quá trình dài nghiên cứu, người ta vẫn chưa thể tìm ra được chính xác phương pháp kỹ thuật xây dựng tháp của người Chăm cổ.

Người Chăm (hoặc còn gọi là người Chàm) trước kia từng sinh sống trên dải đất từ miền Trung trở vào – từ vùng Quảng Trị cho đến giáp sông Đồng Nai. Tuy nhiên, theo diễn biến phức tạp của lịch sử, người Chăm dần dần lùi xuống phía Nam và cuối cùng sáp nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XIX (năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng).

Qua bao lần vào Nam ra Bắc trước đây, tôi đã được trông thấy những ngôi tháp Chăm cổ nằm rải rác dọc miền Trung, nhưng lúc đó cũng chưa có ý niệm gì đặc biệt về các ngôi tháp này.
Sau này, khi tìm đến 3 cụm tháp Chăm trên đất Ninh Thuận (cụm tháp Hòa Lai, cụm tháp Poklong GiaRai, cụm tháp Porome’), ban đầu là vì mê mảnh đất nắng gió này – nơi tôi có những người bạn tốt.

Rồi một lần, trong một ngày mưa tầm tã, tôi đến Mỹ Sơn.
Lúc đó, giữa mưa rừng tầm tã, khung cảnh vừa hoang phế, vừa tráng lệ của Thánh địa Mỹ Sơn thực sự làm tôi bị mê hoặc.
Nhưng lần đó là đi bằng xe máy với cả một đoàn đông, từ Sài Gòn ra Huế, rồi mới vòng lại Đà Nẵng, vào Mỹ Sơn rồi về. Dầm trong mưa gió, mới đi sơ sơ được nhóm tháp E, thì cả đám bạn đã ùn ùn kéo ra, lên đường. Vì đi cả nhóm, lịch trình, thời gian đã có cụ thể, nên đành ngậm ngùi tiếp tục hành trình theo đoàn.
Rồi sau đó, bắt đầu bị hình ảnh những ngôi tháp Chăm cổ rêu phong đổ nát ở Mỹ Sơn ám ảnh, đồng thời rút ra “kinh nghiệm” rằng, để đi và chụp, nên tìm cho được người cùng yêu thích đối tượng sẽ chụp, nếu không thì tốt nhất là đi một mình.
Thế là bắt đầu tìm hiểu một cách … nghiêm túc về các tháp Chăm cổ còn hiện diện trên đất Việt, và tiếp tục rong ruổi tìm đến với những ngôi tháp cổ.
Trước đây, khi đi các khu tháp Chăm ở Ninh Thuận, tôi đi một mình, sau lần bất khả kháng phải rời Mỹ Sơn sớm, lại càng … đi một mình. Cứ một mình một xe, xách máy lên đường.
Tuy thế, do công việc, do nhiều lý do khác, vẫn chưa đi hết được các khu tháp Chăm cổ trên đất Việt, nhất là những khu tháp ở Huế, ở Quảng Nam, và thậm chí ở Bình Định cũng chưa đi hết được. Nhưng cũng chẳng việc gì phải vội, cứ đi, rồi trước sau cũng đi hết.

Nghiên cứu về các tháp Chăm cổ thì xưa nay có nhiều các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu rồi. Tài liệu về các nghiên cứu của họ cũng nhiều. Tôi không có tham vọng gì lớn, chỉ định tổng hợp một cách sơ lược về các di tích tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt, với các hình ảnh … xấu xấu lóc cóc tự chụp, các mẩu chuyện trên đường tìm đến các tháp cổ, …

Người ta đã thống kê được hơn hai chục cụm tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, không kể các phế tích, gồm :

1. Nhóm tháp Liễu Cốc – xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế: chỉ còn là phế tích
2. Nhóm tháp Mỹ Khánh – xã Phú Diên, Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế
3. Nhóm tháp Bằng An – làng Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
4. Nhóm tháp Mỹ Sơn – xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
5. Nhóm tháp Chiên Đàn – làng Chiên Đàn, xã Tam An, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
6. Nhóm tháp Khương Mỹ – làng Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
7. Nhóm tháp Cánh Tiên – xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
8. Nhóm tháp Phú Lốc – xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
9. Nhóm tháp Thủ Thiện – xã Bình nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
10. Nhóm tháp Dương Long – xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
11. Nhóm tháp Bánh Ít – thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
12. Nhóm tháp Đôi – thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
13. Tháp Nhạn – thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
14. Nhóm tháp Yang Praong – huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk
15. Nhóm tháp Po Nagar – thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
16. Nhóm tháp Hòa Lai – làng Tam Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận
17. Nhóm tháp Po Klong Garai – phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
18. Nhóm tháp Po Rome – làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
19. Nhóm tháp Po Đam – làng Tuy Tịnh, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
20. Nhóm tháp Po Sah Inư – phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
21. Nhóm tháp Bình Thạnh – ấp Bình Phú, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
22. Nhóm tháp Chót Mạt – ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh

Trong các tài liệu đã in về tháp Chăm cổ mà tôi được đọc, không thấy nhắc đến 2 cụm tháp sau cùng ở Tây Ninh, nhưng sau khi cất công tìm tới, hỏi chuyện những người dân quanh đó, và cả người trông tháp, nghe người ta nói rằng đó là tháp của người Chăm chứ không phải của người Khơ me. Mặt khác, hình dáng kết cấu 2 cụm tháp đó, cùng những họa tiết trang trí và đồ thờ trong tháp thì thấy rất giống ở các khu tháp Chăm khác ở miền Trung.
Cả hai cụm tháp này, hồi đầu thế kỷ XX đều đã được nhà khảo cổ Henri Pacmentier đến nghiên cứu (ông người Pháp này là một trong số những người đã đặt dấu chân đến hầu như tất cả các di chỉ khảo cổ của người Chăm trên đất Việt – tất nhiên là trừ những di tích mới phát hiện sau này, như khu tháp Mỹ Khánh ở Huế, được phát hiện năm 2001).

Tuy về lịch sử, lãnh thổ của người Chăm bị co dần từ Bắc xuống Nam, các di tích tháp Chăm cổ, từ Huế vào đến Bình Thuận, nói chung đều có niên đại giảm dần, nhưng vì tôi ở tại Sài Gòn, nên các khu tháp ở Nam Trung bộ lại có điều kiện tìm hiểu trước.
Đành … đi ngược từ Nam ra Bắc.
Hơn nữa, hai khu tháp cổ ở Tây Ninh, cũng có niên đại từ cuối thế kỷ VIII – khá sớm so với các khu tháp ở duyên hải Nam Trung bộ. Vả lại, xét tổng thể, hai khu tháp cổ ở Tây Ninh có vẻ không được đẹp như các khu tháp có cùng niên đại ở khu vực miền Trung.

Về việc phân loại các tháp Chăm cổ, có nhiều ý kiến đưa ra, nhưng cá nhà nghiên cứu phần lớn dựa vào phương án phân loạiphong cách nghệ thuật kiến trúc Chăm của ôngP. Stern người Pháp đưa ra năm 1942. Theo đó, nghệ thuật kiến trúc Chăm phát triển liên tục theo các phong cách kế tiếp nhau, gồm :

– Phong cách cổ (phong cách Mỹ Sơn E1)
– Phong cách Hòa Lai
– Phong cách Đồng Dương
– Phong cách Mỹ Sơn A1
– Phong cách chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định
– Phong cách Bình Định
– Phong cách muộn

 

 

Trên đất Tây Ninh hiện còn lại hai ngôi tháp cổ, ngoài tháp Chót Mạt ở Tân Biên, còn tháp Bình Thạnh ở Trảng Bàng. Cả hai ngôi tháp này đều (được cho là) có niên đại từ thế kỷ thứ VIII. Tháp Bình Thạnh tuy hiện tại cũng đã được trùng tu lại, nhưng nó còn “nguyên vẹn” hơn nhiều so với tháp Chót Mạt.

Tháp Bình Thạnh nằm trên đất Trảng Bàng, nhưng ngay khu vực biên giới với Campuchia, và sát đất huyện Gò Dầu.
Từ Sài Gòn, theo QL22 qua thị trấn Trảng Bàng, đi tiếp đến thị trấn Gò Dầu, rồi tiếp theo QL22 hướng tới cửa khẩu Mộc Bài. Qua cầu Gò Dầu 3,5km – qua tấm biển báo “Chợ đường biên cửa khẩu Mộc Bài 6km” chừng 300m – bên trái đường QL22 có một ngã ba đường nhựa lớn, rẽ vào con đường ấy, đi qua hết xã Phú Lưu (huyện Gò Dầu) thì lại vào đất Trảng Bàng – ấp Bình Hòa. Đúng 7,5km từ ngoài ngã ba vào, là đến giữa ấp Bình Hòa, xã Bình Thạnh. Ở đó có một ngã tư, rẽ tay phải 800m thì hết con đường ấy, nó bắt vào một con đường nhựa lớn tai một ngã ba. Rẽ trái vào con đường nhựa lớn ấy (đường đi Đức Hòa – Long An). Đi tiếp 1,5km là đến tháp, ngay bên phải đường.


Biển báo tháp Bình Thạnh


Nếu vừa đi vừa nhìn tìm, có khi thấy tháp trước khi thấy tấm biển ven đường. Tháp nằm cách đường một khu ruộng.


Tòa tháp cổ nằm giữa khuôn viên có cây cối xanh mướt


Từ đường nhựa vào tháp là con đường thế này


Một khu nghĩa địa ngay trước cổng vào khuôn viên tháp


Khuôn viên khu tháp có cổng, nhưng không khóa, và không cần khóa, vì khuôn viên tháp không có tường bao, chỉ xây các cột trụ.


Các cột trụ bao quanh khuôn viên khu tháp, không có xây tường bao như ở tháp Chót Mạt

Khu tháp cổ Chót Mạt ở huyện Tân Biên – Tây Ninh được xác định xây dựng vào thế kỷ thứ VIII, nếu xét về thời gian, nó được xây dựng cùng thời với các tháp thuộc phong cách cổ.

Dò tìm ở các tài liệu giấy in thì không thấy nói về khu tháp này, nhưng lên mạng thì thấy có nó (và cả khu tháp cổ Bình Thạnh, cũng ở Tây Ninh). Theo báo Tây Ninh Online, tháp Chót mạt và tháp Bình Thạnh cùng được các nhà khảo cổ Pháp tìm thấy năm 1886. Nhưng tháp Bình Thạnh còn được một tòa tháp gần như nguyên vẹn, còn khu tháp Chót Mạt, các tòa tháp hoặc đã sụp đổ hết, hoặc gần sập đổ.

Một ngày cuối tháng tư nắng như dổ lửa, tôi lên đường tìm đến khu tháp cổ Chót Mạt.
Từ Sài Gòn theo QL 22 qua Củ Chi, qua Trảng Bàng, tới thị trấn Gò Dầu, rẽ tay phải theo QL22B đến thị xã Tây Ninh.
Tiếp tục đi theo QL22B về phía cửa khẩu Xa Mát, qua khỏi thị xã Tây Ninh hơn 17km, bên trái đường có biển báo chỉ đường vào tháp.


Biển báo chỉ đường vào di tích, đặt ngay bên trái QL22B, cách Tây Ninh chừng 17,5km


Rẽ trái theo biển chỉ dẫn, đi vào con đường đất, từ xa đã trông thấy ngôi tháp giữa cánh đồng

Con đường đất ấy thực ra mới được mở rộng gần đây, và nó cũng chỉ được chừng vài trăm mét. Nghe nói trước đây đường đất nhỏ hơn nhiều, và mùa mưa thì nếu là người lạ đến, chắc không ai biết đó là con đường, vì nó giống ruộng, toàn trâu đầm giữa … đường. Và tuy mới được cải tạo, mở rộng, nhưng con đường này, nếu vào mùa mưa, chắc ngựa sắt của tôi cũng phải gửi bên ngoài lộ.
Đi chừng 1km trên con đương đất trắng xóa ấy (vẫn liên tục trông thấy tòa tháp giữa cánh đồng), ta phải rẽ trái khoảng 200m nữa mới vào được tháp.


Rẽ trái khoảng 200m để vào tháp


Giờ còn có đường thế này, chứ trước đây là đoạn này không có đường, muốn vào tháp, phải đi bộ trên các bờ ruộng.


Chỗ xe đậu, rẽ phải để vào tháp. Với mặt “đường” thế này, mùa mưa không nên dại … vác ngựa sắt vào tận nơi.


Một rãnh nước cắt ngang con “đường” vào tháp, và cây “cầu” tạm bằng mấy thân gỗ tròn bắc ngang qua.

Trở lại với tháp Chót Mạt, trong khuôn viên khu tháp này, người ta tìm thấy 2 ngôi tháp. Vào thời điểm được phát hiện, một tháp đã sụp đổ hoàn toàn và bị vùi lấp dưới đất, tòa tháp còn lại thì … sắp đổ, chỉ còn lại bức tường phía Tây (phía sau lưng) là còn tương đối nguyên vẹn, và một phần bức tường phía Bắc xiêu vẹo.
Sau đó, người ta tiến hành tu sửa nhỏ một lần vào năm 1938, rồi đến đầu những năm 2000 mới được đầu tư trùng tu, xây tường bao,… để có được ngôi tháp như ta thấy hiện nay.


Ngôi tháp trùng tu xong năm 2004

Theo một tài liệu dạng tờ -rơi mà ông già coi tháp đưa cho tôi (chắc do Sở Văn hóa Tây Ninh in), thì : Toàn bộ khu tháp được xây dựng trên một gò đất (đắp) hình chữ nhật 70mX65m theo hướng Đông – Tây. Gò đất đắp cao hơn mặt ruộng khoảng 0.8 – 1m, phía trước là một bàu nước kích thước 100mX85m (bàu nước này xuất hiện do đất bị đào đi để đắp cái gò nền tháp). Tuy nhiên, ngày nay chẳng còn bàu nước, mà là bát ngát ruộng lúa.


Tháp phía Bắc đã sụp đổ và bị vùi lấp, người ta phải đào bới đất cát phủ, và làm một mái nhà che cho nó


Phế tích đổ nát của tòa tháp phía Bắc

uả thật là tôi chưa đọc thấy dòng nào khẳng định tháp Chót Mạt là tháp Chăm, mà chỉ đọc thấy trong tài liệu của ông già coi tháp có nói “… Hình dáng của tháp gần giống như tháp Chàm hiện có ở các tỉnh miền Trung…”, nghe từ những người dân gặp xung quanh đó nói rằng, đó là tháp Chăm.
Tuy nhiên, tháp cổ Chót Mạt có nhiều điểm giống các tháp Chăm khác ở miền Trung, về hình dáng, kỹ thuật xây dựng, hướng của các vách tháp, … và ngoài ra trong một số di vật tìm thấy, có mấy phiến đá được đục đẽo rất giống các bệ Yoni ở Mỹ Sơn.

Thường các khu đền tháp Chăm cổ đều thờ một (hoặc vài) vị thần, hoặc vị vua nào đó. Trong số các tháp Chăm hiện còn ở miền Trung, có lẽ chỉ có tháp Hòa Lai và tháp Nhạn là không có thờ cúng vị thần nào.
Hai cụm tháp cổ ở Tây Ninh cũng thế, nhưng ít ra ở tháp cổ Bình Thạnh, còn có bộ Linga – Yoni bằng đá khá nguyên vẹn.
Trong tài liệu khảo cổ học năm 1909, H. Parmentier có ghi : “… Chúng tôi không biết đền này thờ vị thần nào, tướng Beylic chỉ tìm thấy ở đây những cái chân và bệ của một tượng đồng; và ông quân trưởng, người đã tiến hành cuộc điều tra đầu tiên thì tìm thấy một cánh tay bằng đồng mà sau đó đã thất lạc…”


Cửa chính tháp quay về hướng Đông – như đại đa số các tháp Chăm

Tuy nhiên, mặt vách phía trước này là mới được làm mới. Thời điểm tháp được phát hiện, mặt trước gần như không còn, chỉ còn lại cái khung cửa, là một phiến đá nằm gác lên hai phiến đá khác đứng dọc (chính là 3 phiến đá tạo ra khung cửa trong ảnh)


Hai cột đá trắng và bức họa tiết bên trên cửa là mới được làm


Bậc đá lên tháp thì cũng còn lại từ ngày xưa


Nền đế tháp – cũ và mới

Tháp cổ Chót Mạt có nền vuông mỗi chiều 5m, vì đã bị mất phần chóp nên không rõ khi xưa cao bao nhiêu, nhưng nay còn chừng 10m.


Chóp tháp đã bị hư hỏng mất

Khi được tìm thấy, chỉ còn bức tường phía Bắc và phía Tây còn một phần đang đứng, nhưng đã xiêu, còn tường phía Đông (mặt trước) và phía Nam gần như đã sụp hết. Sau này người ta buộc phải dùng sắt thép néo chìm bên trong các vách tường cổ khi trùng tu.


Tường phía Bắc còn được hơn một nửa là tường cổ ngày xưa, các chỗ màu sáng là phần mới xây chèn thêm khi trùng tu dịp 2004…


… nhưng đã bị xiêu về phía Tây


Tường phía Tây (mặt sau) – khi H.Parmatier đến đây đầu thế kỷ XX, nó là bức tường còn gần như nguyên vẹn, nhưng sau này cũng bị sụp mất góc phía Nam

Theo những ghi chép của ông H. Parmentier năm 1909 về các nét trang trí ở tháp Chót Mạt lúc đó :

– ” …Tượng phía Đông của mặt Bắc (bên trái nhìn từ ngoài vào vách) hầu như không còn gì, nhưng tượng phía Tây (của mặt Băc) thì được bảo tồn tốt hơn. … tượng thể hiện cái đầu và những cái tay, bàn tay khoanh trước ngực không thể nhìn thấy. Chúng mang một chiếc ngà voi mà mũi nhọn vượt cao hơn bờ vai …“.


Bức tượng trên tường phía Tây của mặt Bắc tháp – sau 101 năm, so với những gì Parmentier ghi chép lại, cũng đã mờ nhạt đi nhiều.

– ” … Trên mặt tường phía Tây (mặt sau tháp) còn hai hình người trong tình trạng bảo tồn tốt. Tượng phía Bắc được thấy ba phần tư, cánh tay phải đưa về trước ngực, cánh tay trái để dọc một “phương trượng” cán dài,… Tượng còn lại cũng nhìn được ba phần tư, hai tay giữ một cây kiếm nhô cao hơn đầu.
Đến nay – 101 năm sau – bức tường phía Tây (phía sau) cua tháp đã bị sụp mảng phía Nam, làm biến mất bức tượng cũ mà H.Parmetier miêu tả là “… Tượng còn lại cũng nhìn được ba phần tư, hai tay giữ một cây kiếm nhô cao hơn đầu.“.


Tượng ở phía Bắc trên mặt tường phía Tây tháp (mặt sau tháp) được H.Parmentier miêu tả lại ở trên


Tượng ở phía Nam của tường Tây, được “phục dựng” lại hồi 2004 theo miêu tả xưa của H.Parmentier

– “… Trên mặt tường phía nam chỉ còn lại một tượng người, nó được nhìn thẳng, tay phải cầm đinh ba, trang phục giống các tượng khác. Chỉ có đồ đội đặc biệt, nhưng gần như không thể nhận biết được…
Tuy nhiên đến khi trùng tu năm 2004 (đúng ra là đợt trùng tu kéo từ năm 2001 đến năm 2004) thì bức tượng ấy cũng đã sụp đổ mất, người ta theo những ghi chép xưa của H.Parmentier mà khắc lại hai bức tượng ở mặt tường phía Nam của tháp.


Tượng người cầm đinh ba, theo ghi chép của H.Parmentier, ở mặt Nam tháp


Tượng còn lại giống bức tượng mặt sau tháp mới phục dựng lại

Xét về niên đại, tháp Chót Mạt được xác định là xây từ thế kỷ thứ VIII, nghĩa là có thể nó thuộc về phong cách Mỹ Sơn E1, nhưng do khi được các nhà khảo cổ tìm thấy lại hồi cuối thế kỷ XIX, nó bị sụp đổ quá nhiều, các hình tượng trên các vách tường cũng bị mờ nhiều, khó có thể nhận rõ.
Tuy nhiên có một chi tiết nhỏ gợi đến Mỹ Sơn E1 : phiến đá dưới cùng của bậc cấp vào tháp (mà ông già coi tháp nói rằng, nó là phiến đá từ ngày xưa) trông hình thù giống với phiến đá ở bậc cấp của đài thờ ở tháp Mỹ Sơn E1 (hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng). Tuy nhiên nó chỉ giống về hình dạng, chứ ở tháp Chót Mạt, phiến đá bậc cấp không có khắc họa hoa văn gì.


Phiến đá dưới cùng của bậc cấp, có hình dạng khá giống với bậc cấp ở đài thờ của tháp Mỹ Sơn E1(cái mỏm nhọn ở giữa và hai cái xoáy hai bên)

Trong lòng tháp không còn gì, ngay cả lớp nền lát gạch cũng là mới lát lại, nhưng trong khuôn viên tháp Chót Mạt lại có nhiều phiến đá khác – những di tích của bệ thờ. Đó là những Yoni, có tới 6 – 7 phiến đá lớn nhỏ hình chữ nhật như vậy. Không thấy còn cái Linga nào cả.


Những phiến đá – di vật tìm thấy trong đống đổ nát của tháp hồi người ta phát hiện được tháp.


Một Yoni, với rãnh thoát nước khi tắm tượng (Linga) mỗi dịp tế lễ

Hiện tại, lãnh công việc trông nom quét dọn tháp Chót Mạt là một ông cụ ngoài 70 tuổi. Nhà ông cụ ngay chỗ ngã ba từ con đường đất lớn bên ngoài rẽ vào tháp. Cứ thấy có khách vào tháp là ông cụ lại lóc cóc leo lên chiếc Chaly cũ kỹ chạy vào, đem theo chai nước suôi và một tờ giới thiệu về tháp. Dĩ nhiên mùa mưa thì đoạn đường từ nhà ông cụ vào tháp chỉ có cách đi bộ, và vì là ngôi nhà gần tháp nhất, nên người ta thường vào trúng nhà ông để gửi xe.


Ông già trông coi tháp, bên căn phòng phía góc phía Tây Bắc khuôn viên tháp – phòng của người bảo vệ.
Ngày nay, tháp cổ Bình Thạnh nằm trong một khuôn viên có cả đình làng Bình Thạnh. Khuôn viên này được giới hạn bằng các cột trụ không xây tường bao, cây cối um tùm mát mẻ.


Tháp cổ và đình Bình Thạnh nằm cạnh nhau


Đình Bình Thạnh nhìn ngoài vào


Từ trong đình nhìn ra


Khuôn viên rợp mát bóng cấy. Tòa tháp cổ nằm cạnh ngôi đình.


Khuôn viên được xác định bằng hàng cột bao quanh, nhưng không có tường bao. Lũ trâu núp nắng dưới tàng cây, cạnh các cột trụ. Trong khuôn viên này, vì thế có nhiều … kít trâu khô.

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp tìm thấy lại tháp Bình Thạnh và tháp Chót Mạt. Khi đó, ở Bình Thạnh chỉ còn 1 ngôi tháp. Sau này, trong công tác khảo cổ năm 1994 tại khu vực quanh tháp, người ta mới phát hiện thêm phế tích của 2 ngôi tháp khác sát cạnh ngôi tháp cũ.
3 ngôi tháp nằm trên trục Bắc – Nam. Ngôi tháp còn lại là ngôi tháp phía Nam, ngôi tháp giữa chỉ còn là một đống phế tích gạch (giống ở phế tích Chót Mạt), còn ngôi tháp phía Bắc chỉ còn lại dấu vết một cái hố ở trung tâm tháp, với các vách hố bằng gạch.


Ngôi tháp còn lại đến nay (tháp phía Nam, được trùng tu năm 1998 – 1999)


Phế tích hai ngôi tháp bên cạnh được dựng mái che để bảo quản, nằm ngay sau lưng ngôi đình


Phế tích ngôi tháp giữa


Dấu vết duy nhất của phế tích ngôi tháp Bắc


“Bia đi tích” ở tháp Bình Thạnh


Hình ảnh tổng thể ngôi tháp

Nhìn hình dáng tổng thể, tháp Bình Thạnh trông khá giống với tháp Po Sha Inư ở Phan Thiết, tuy nhiên về cách trang trí trên các cột, vách thân tháp thì lại không giống nhau. Cả hai cụm tháp này đều được cho là có niên đại từ khoảng thế kỷ thứ VIII.
Lại nói về cách xác định niên đại các tháp Chăm cổ, đọc nhiều tài liệu, tôi thấy hình như các nhà khảo cổ xác định niên đại các ngôi tháp bằng phương pháp … quy nạp. Không có một tài liệu nào nói về các phương pháp xác định niên đại bằng khoa học hiện đại cả.
Ở một số khu tháp Chăm cổ, người xưa có để lại các bia ký bằng đá, nên có thể dễ dàng xác định niên đại của khu tháp đó. Còn lại, các nhà nghiên cứu phải phân loại các phong cách kiến trúc nghệ thuật của các tháp Chăm, rồi lại dựa vào phân loại ấy để … xác định niên đại của một ngôi tháp.
Điều đó dẫn đến việc, có một vài ngôi tháp, nếu xác định niên đại theo phong cách, thì lại muộn hơn nhiều nếu so với bia ký tìm được tại khu vực tháp đó.
Nhưng thôi, những việc “lằng nhằng” ấy đề cập sau. Nói về tháp Bình Thạnh, mặc dù được cho là cùng niên đại khoảng thế kỷ thứ VIII như tháp Po Sha Inư, và có hình dáng bên ngoài khá giống nhau, nhưng tháp Po Sha Inư được khẳng định là tháp Chăm (dù sau này tiếp cận được nhiều tài liệu hơn, mới thấy thực tế không đơn giản, có cả những ý kiến nói tháp Po Sha Inư là tháp Khơme, hặc ngay như việc tháp Po Sha Inư thuộc phong cách nào trong các phong cách tháp cổ Chăm cũng vẫn chưa đạt sự đồng thuận trong giới nghiên cứu), thì tháp Bình Thạnh lại không được thừa nhận rõ ràng như vậy.
Dò tìm trên mạng, thấy tháp Bình Thạnh được ghi nhận là tháp Chăm, những người dân bản địa cũng nói đó là tháp Chăm chứ không phải tháp của người Khơme – dù nó nằm trong vành đai biên giới với Campuchia và khu vực ấy hiện cũng không có người Chăm sinh sống. Tuy nhiên, ngay cả tấm bia Di tích của Sở VHTT Tây Ninh dựng lên trước tháp, cũng không nói nó là tháp Chăm hay tháp Khơme.

Trong các tài liệu in trên giấy, thỉnh thoảng cũng có tài liệu nhắc đến, nhưng cực kỳ vắn tắt. Ông Ngô Văn Doanh – một tác giả có nhiều sách về Văn hóa Chăm, tháp cổ Chăm – trong một lần hiếm hoi, có nhắc đến một câu khi nói về tháp Po Sha Inư : “… các tháp Phú Hài có nhiều điểm giống với những ngôi tháp Khơme được phát hiện vào cuối những năm 80 ở vùng Tây Ninh…” ( Ngô Văn Doanh – Tháp cổ Chămpa, sự thật và huyền thoại – NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1994).
Như vậy ông ấy cho rằng tháp Bình Thạnh là tháp Khơme, nhưng nói các tháp ở Tây Ninh được tìm thấy vào những năm 80 (của thế kỷ XX – vì sách đó in năm 1994) thì lại không đúng với thực tế là hai ngôi tháp ở Tây Ninh được tìm thấy lại từ cuối thế kỷ XIX, và một nhà “Chăm học” có tiếng như ông ấy, khó có thể có sự nhầm lẫn như thế.
Trong khi đó, một tác giả khác (có vẻ ít nổi tiếng hơn) cũng nghiê cứu về Chămpa, thì cũng có nhắc đến tháp Bình Thạnh cụ thể : “… tháp Bình Thạnh qua trùng tu đã biến dạng hoàn toàn…” – Nguyến Hồng Sơn – Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chămpa – NXB Đà Nẵng 2008.
Đó là tất cả những gì tôi đọc được trên các tài liệu in, nói về tháp Bình Thạnh. Nên việc “nhét” tháp Chót Mạt và tháp Bình Thạnh vào nhóm tháp Chăm cổ trong topic này, là hoàn toàn do nhận định chủ quan cá nhân của tôi.


Tầng 2 và 3 mặt trước của tháp (quay về hướng Đông)


Tầng trên cùng và chóp tháp bằng đá


Tượng tạc trên khuôn cửa giả ở mặt trước, tầng 2


Hoa văn ô bên phía Bắc mặt trước, tầng 2 – đây là hoa văn cổ xưa, đã mờ, mòn nhiều …


… và được phục chế lại ở ô bên phía đối diện.


Cửa tháp mở về phía Đông


Các hoa văn bên trên cửa chính.


Bức phù điêu bên trên khung cửa chính


Tượng tạc trên ô tường phía Nam của mặt trước tháp – tượng xưa đã bị mòn quá nhiều …


… và được phục chế bên ô đối diện

Trong số các ngôi tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt, có một số tháp/cụm tháp khiến các nhà khoa học gặp rắc rối trong việc xếp phong cách và xác định niên đại. Chủ yếu vì những đặc điểm khá khác biệt của chúng so với các tháp khác (tháp Bằng An, tháp Dương Long, tháp Đôi, …). Điểm chung nhất của các cụm tháp này, là chúng mang nhiều ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Khơme.
Điều đó người ta có thể giải thích được do những mối quan hệ lịch sử giữa người Khơme và người Chămpa xưa (cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, có đến mấy chục năm, Chămpa bị nước Chân Lạp của người Khơme xâm chiếm, biến thành một tỉnh của Chân Lạp)

Hai ngôi tháp ở Tây Ninh lại nằm ngay khu vực biên giới Campuchia, có thể vào thời điểm (được cho là) tháp được xây dựng, thậm chí đất ấy là đất của người Khơme, thì việc bị ảnh hưởng phong cách Khơme là chuyện bình thường.
Ơ tháp Bình Thạnh, khung cửa chính nhô ra ngắn, không dài ra như các tháp phong cách Hòa Lai ở đầu thế kỷ IX, các khung của giả cũng vậy. Vòm trên cửa chính và các cửa giả cũng không tạo thành vòm hình mũi giáo như các tháp Chăm ở miền Trung.
Nếu coi niên đại của nó khoảng thế kỷ VIII, thì có thể nó nằm trong phong cách cổ (Mỹ Sơn E1), nhưng rủi một điều, cho tới trước khi tìm ra tháp Mỹ Khánh bị vùi trong cát ở Huế, thì các nhà khoa học chỉ được biết về phong cách cổ qua lời miêu tả, hoặc các hình vẽ của các nhà khảo cổ Pháp hồi đầu thế kỷ XX. Nhưng sau này phát hiện ra tháp Mỹ Khánh, vòm cửa của nó cũng được vuốt nhọn lên chứ không như ở tháp Bình Thạnh. Tuy nhiên các hoa văn, và cách tạc hoa văn, tượng trực tiếp lên gạch trên tháp, lại mang đặc trưng Chămpa.

(Tất nhiên, nếu thực sự hai ngôi tháp ở Tây Ninh là tháp Khơme thì các “lý luận” trên là chả có giá trị gì . Lạ một điều là, ở Tây Ninh, dân sở tại đều nói 2 ngôi tháp này là tháp Chăm, còn ở tháp Hòa Lai, ngày trước dân ở đó vẫn gọi đó là tháp của Khơme)

Nhưng dù sao, ở Tháp Bình Thạnh còn “khá” hơn tháp Chót Mạt, vì trong lòng tháp vẫn còn đồ thờ là bộ Linga – Yoni bằng đá, được đặt trên một bệ đá (cái chân bệ bằng đá này, có vẻ sau khi trùng tu, người ta cho vào quá), và mặt tường trong lòng tháp có các ô khám nhỏ lõm vào để làm nơi đặt đèn nến.


Bộ Linga – Yoni được đặt trên một chân bệ bằng đá. Chân bệ trông khá … hiện đại


Linga – Yoni bằng đá. Yoni có rãnh thoát nước


Linga đá. Bộ Linga – Yoni đặt theo đúng nguyên tắc giống các tháp Chăm khác


Các ô khám nhỏ được khoét lõm vào vách tường trong lòng tháp


Từ của tháp nhìn ra phía trước là một con đường được lát gạch sau này, rợp bóng cây, xa xa là khoảng ruộng, rồi đến con đường nhựa.

Hết hai ngôi tháp cổ ở Tây Ninh – mà việc coi chúng là tháp Chăm chỉ là ý kiến cá nhân – giờ sang đến các tháp Chăm cổ “truyền thống” đã được ghi nhận từ lâu nay ở miền Trung và Nam Trung bộ.

(Rất) Sơ lược về lịch sử Chămpa.

Mặc dù di sản văn hóa Chămpa vẫn đang hiện diện rất nhiều trên đất Việt, nhưng quốc gia cổ Chămpa thì đã không còn tồn tại nữa. Lịch sử vương quốc cổ này, được khôi phục lại chỉ dựa trên mấy nguồn :
– Các “văn bản” còn lại bằng tiếng Phạn và tiếng Chăm trên các bia đá (bia ký)
– Dựa trên các ghi chép sử của Trung Quốc và Việt Nam xưa.
– Một phần nữa là dựa trên các truyền thuyết còn lưu truyền đến nay (việc này tính chính xác thấp, vì đã được truyền thuyết hóa)

Người ta cho rằng, người dân Chămpa có nguồn gốc Malayo – Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh, khoảng thế kỷ I, II Trước Công nguyên.
Theo chiều dài lịch sử, vương quốc của người Chămpa được gọi bằng vài cái tên, theo từng thời kỳ :
Nước Lâm Ấp (sử Trung Quốc, từ năm 192 Công nguyên, đến năm 756)
Nước Hoàn Vương (sử Trung Quốc, từ khoảng năm 758 đến khoảng năm 875)
Nước Chiêm Thành (sử Trung Quốc, từ năm 877)

Cho đến nay, giữa các nhà nghiên cứu dường như vẫn tồn tại hai giả thuyết về thể chế chính trị của vương quốc cổ Chămpa.
Họ chỉ thống nhất được một điều là, đất Chămpa gồm các địa khu : Amaravati, Indrapura, Vijaya, KauthHara, Panduranga trải từ Bắc xuống Nam.

Một thuyết cho rằng, Chămpa là một liên bang gồm nhiều tiểu quốc, có chính quyền trung ương, nhưng mỗi tiểu vương vẫn toàn quyền cai trị tiểu quốc của mình. Họ cho rằng, việc ở mỗi một giai đoạn khác nhau, các tài liệu bia ký lại xuất hiện dày đặc ở mỗi địa khu khác nhau, chứng tỏ giai đoạn đó, thủ đô Chămpa nằm tại địa khu đó (ví dụ, thế kỷ X, tài liệu về Indrapura rất phong phú, thế kỷ XII, tài liệu về Vijaya rất phong phú, còn thế kỷ XV về sau, tài liệu về Panduranga rất phong phú)

Một thuyết khác thì cho rằng, Chămpa chưa bao giờ là một quốc gia thống nhất, và không coi việc giàu tài liệu lịch sử về một vùng đất trong một gia đoạn lịch sử nào đó là đủ cơ sở để coi vùng đất đó là thủ đô của quốc gia thống nhất.

Vị trí các địa khu của Chămpa cổ so với ngày nay :
Amaravati : là vùng Bắc Chămpa, từ Quảng Ngãi, Quảng Nam trở lên
Indrapura : Vùng Thăng Bình – Quảng Nam
Vijaya : Vùng Bình Định. Vào thời điểm mở rộng nhất, bao gồm đến Phú Yên và Quảng Nam
KauthHara : vùng Phú Yên, Khánh Hòa
Panduranga : Vùng Ninh Thuận, Bình Thuận
(theo nguoicham.com)

Một số tài liệu khác thì cho rằng Chămpa ban đầu chỉ gồm 3 địa khu :
– Phía Bắc là Amaravati
– Ở giữa là Vijaya
– Phía Nam là Panduranga
Sau đó địa khu Panduranga tách ra thành KauthHara ở phía Bắc và Panduranga ở phía Nam

Về các vương triều trong lịch sử Chămpa :
– Cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ VIII : vương triều Gangaraja* – ở khu vực Bắc Chămpa (thời kỳ Lâm Ấp)
– Giữa thế kỷ VIII đến nửa cuối thế kỷ IX : vương triều Panduranga – ở phía Nam Chămpa (thời kỳ Hoàn Vương)
– Nửa cuối thế kỷ IX đến cuối thế kỷ X : vương triều Indrapura, với kinh thành Indrapura (Đồng Dương)
– Từ thế kỷ X đến khoảng giữa thế kỷ XV : vương triều Vijaya với kinh thành Vijaya (Chà Bàn)
– Nửa sau thế kỷ XV đến 1832 : tạm gọi là vương triều Panduranga, nhưng thực ra sau cuộc chiến bại của người Chiêm Thành trước quân Đại Việt của vua Lê Thánh Tông (năm 1470), lãnh thổ Chiêm Thành chỉ còn một phần đất Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Sau đó các chúa Nguyễn cũng liên tục Nam tiến, và người Chăm bị đẩy lùi dần về phía Nam và dần sáp nhập vào với Đại Việt.

(*) : Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chămpa – NXB Đà Nẵng 2008

Tương tư Sài Gòn

1. Nếu đặt câu hỏi: “Vì sao bạn chọn đất Sài Gòn để sống?” thì cũng chẳng khác nào cắc cớ hỏi: “Vì sao bạn yêu?”. Đã yêu thì đâu biết vì sao! Nhưng, nói là nói vậy, chứ việc tôi chọn Sài Gòn để sống cũng có một vài lý do. Nguyên do đầu tiên, thoạt nghe rất mơ hồ nhưng ngẫm lại thì thấy đấy chính là sự lan tỏa của cảm thức văn hóa.  Tôi vẫn còn nhớ như in cái buổi chiều ngày tôi còn thơ bé, tôi đang cùng mấy đứa bạn nhảy tâng tâng đi mót lúa, un lửa nướng dế ngoài đồng thì mẹ tôi xuất hiện. Trên tay bà là một cây roi và bà quất tới tấp vào mông tôi. Bầu trời đang căng phồng niềm vui hồn nhiên tuổi thơ chợt như bị kéo sập xuống. Tôi vừa khóc vừa chạy lúp xúp qua những bờ ruộng, suy nghĩ: “Được rồi. Nhớ nghen. Lớn lên tui sẽ không thèm ở cái nhà này nữa. Tui sẽ vô Sài Gòn sống!…”.  Thành phố Sài Gòn lúc ấy tôi nào biết mô tê, ất giáp gì. Tôi cũng chưa hề được thấy hình ảnh Sài Gòn qua bưu ảnh hay tivi. Chỉ mơ hồ cảm nhận rằng, được đến Sài Gòn là sướng…

 

2. Tuổi trưởng thành, tôi vào Sài Gòn như một lẽ tự nhiên. Nhưng, thú thật, Sài Gòn của buổi ban đầu ấy làm tôi… vỡ mộng. Sài Gòn ồn ào; Sài Gòn bụi bặm; Sài Gòn bon chen; Sài Gòn người dưng, kẻ chợ; Sài Gòn lạc những lối về…  Cảm giác ban đầu là vậy. Nhưng, ở riết rồi, chợt một ngày nhận ra Sài Gòn sao dễ thương quá đỗi. Ồn ào là thế nhưng đừng nghĩ Sài Gòn không có nơi tĩnh lặng. Bụi bặm là thế nhưng trong vắt một vòm trời thì Sài Gòn vẫn có. Bon chen là đương nhiên nhưng Sài Gòn bon chen mà dễ sống, nếu ta biết chịu thương, chịu khó. Cũng đừng nghĩ Sài Gòn chỉ toàn người dưng kẻ chợ mà lắng trong bụi bặm đời thường vẫn thấy ấm lòng tình người nơi xóm trọ, hay chốn vỉa hè…  Tôi nghĩ, Sài Gòn làm cho con người ta “tương tư” cũng bởi đặc tính tổng hợp ấy. Cũng như khi yêu, ta có cơ hội chạm vào nhiều cung bậc tình cảm, nó khiến ta được sống thăng hoa và bộc lộ hết mình. Và, có phải vì chính đặc tính đa chiều, muôn sắc ấy mà Sài Gòn là nơi thu hút khá nhiều văn nhân, hào kiệt. Không chỉ có những người “thất cơ, lỡ vận” mà những người khao khát đi tìm vùng đất hào sảng, phóng khoáng… đều đến Sài Gòn. Ngày xưa đã thế, ngày nay những người “tương tư” Sài Gòn càng thêm nhiều.

 

3. “Vì sao bạn chọn Sài Gòn để sống?”, câu hỏi này thực ra không phải là… một câu hỏi, mà nó như là một vế gợi ý, mào đầu, để chúng ta bước vào một câu chuyện dông dài về cuộc sống. Sống là chọn nhưng sống cũng là chia sẻ. Vậy thì hà cớ gì, chúng ta lại không thể chia sẻ cho nhau những tình cảm, suy nghĩ, kỷ niệm… cùng nhịp sống Sài Gòn.

TRẦN NHÃ THỤY

teambuilding