Các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam


Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) là một khu vực trên đất liền hoặc trên biển được khoanh vùng để bảo vệ đa dạng sinh học, các tài nguyên thiên nhiên và văn hoá đi kèm, được quản lý bằng các công cụ pháp luật hoặc các hình thức quản lý có hiệu quả khác” (IUCN 1994).

     Các khu BTTN được xây dựng, phục hồi với các mục đích sau:

– Nghiên cứu khoa học

– Bảo vệ các vùng hoang dã

– Bảo vệ sự đa dạng loài và gen.

– Duy trì các lợi ích về môi trường từ thiên nhiên.

– Bảo vệ các cảnh quan đặc biệt về thiên nhiên và văn hoá.

– Sử dụng cho du lịch và giải trí.

– Giáo dục.

– Sử dụng hợp lí các tài nguyên từ các hệ sinh thái tự nhiên.

– Duy trì các biểu trưng văn hoá và truyền thống.

Các tiêu chí để được công nhận là một Khu BTTN được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đưa ra nhằm triển khai hiệu quả chiến lược quản lý hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam giai đoạn 2005-2010 như sau:

–   Có các loài động thực vật hoặc các loài sống ở rạn san hô, có cảnh quan địa lý có giá trị về khoa học, giáo dục và có ít nhất 1 loài động thực vật đặc hữu hoặc trên 5 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (ngoại trừ các khu bảo tồn biển, do Sách Đỏ Việt Nam không liệt kê các loài sống ở rạn san hô).

–   Diện tích tối thiểu là 5.000ha nếu ở trên đất liền, 3.000ha nếu ở trên biển và 1.000ha nếu là đất ngập nước, có diện tích các hệ sinh thái tự nhiên có đa dạng sinh học chiếm ít nhất 70% và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp cùng đất thổ cư so với diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên dưới 5%.

–   Có điều kiện phát triển giáo dục môi trường và du lịch sinh thái mà không ảnh hưởng đến các mục tiêu bảo tồn.

 

STT Tên

(NămTL)

Diện tích (ha) Vị trí Đặc điểm tự nhiên thuận lợi phát triển DLST Cơ quan quản lý
       1 Đồng Sơn-Kỳ Thượng

(2003)

14.851 Quảng Ninh       Hệ thực vật: Có 485 loài thực vật bậc cao, có mạch thuộc 280 chi và 101 họ của các ngành thực vật. Trong đó có 5 loài được xếp trong Sách đỏ Việt Nam: Trầm hương Trung hoa, Vù hương, Lát hoa, Đại hải, Ba kích….là những loài có giá trị cao trên thị trường trong nước và Thế giới.Hệ động vật rừng: đã giám định thống kê được trong phạm vi khu rừng bảo tồn có 249 loài thuộc 79 họ và 28 bộ của 4 lớp động vật là thú, chim, bò sát và ếch nhái. Đã phát hiện 30 loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, đặc biệt như các loài: Khỉ vàng, Báo gấm, Chó sói, Tê tê vàng, Công Trĩ….có giá trị bảo tồn gen rất cao đang được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trong nước và trên thế giới. Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh

 

       2 Tây Yên Tử

(2002)

13.023 Bắc Giang       Hệ thực vật:rừng Tây Yên Tử có tới 728 loài thực vật thuộc 189 chi của 86 họ. Trong đó có hàng chục loài thực vật đặc hữu, quý hiếm như: Pơ mu, Thông tre, Đinh, Lim, Sến mật, Gụ, Lát hoa, Trầm hương, Ba kích, Sa nhân…Hệ động vật:  226 loài động vật rừng, thuộc 81 họ của 24 bộ. Trong đó có hàng chục loài động vật đặc hữu, quý hiếm được xếp trong sách đỏ Việt Nam đang có nguy cơ tuyệt chủng, như: Cu li nhỏ, Voọc đen má trắng, Sói lửa, Gấu ngựa, Khỉ vàng, Hươu vàng, Gà tiền mặt vàng, Gà lôi trắng, Rùa vàng, Rắn hổ mang chúa. Gần đây qua nghiên cứu mới phát hiện thêm các loài động vật đặc biệt quý hiếm như: Cá cóc sần Việt Nam, Ếch Yên Tử. Chi cục kiểm lâm Bắc Giang
       3 Hữu Liên 8.293 Lạng Sơn       Đây là vùng đất tự nhiên có dự trữ tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học cao, có nhiều giá trị về khoa học và du lịch, được coi như là lá phổi của vùng Đông Bắc.Hệ thực vật: Rừng nguyên sinh Hữu Liên có nhiều loài cây nguyên sinh quí hiếm hàng trăm năm tuổi như Hoàng đàn, Nghiến, Trai lý, Cây một lá, Đinh, Thiên tuế…

Hệ động vật: có nhiều loài động vật quí hiếm nằm trong danh mục sách đỏ thế giới như Hươu Xạ, Voọc đen má trắng, Voọc đen tuyền, Gấu ngựa, Trăn đất…

Văn hóa: Không chỉ đa dạng về sinh cảnh với  khu rừng đặc dụng quí hiếm, những hang động núi đá và thác nước hùng vĩ, Hữu Liên còn là nơi có nhiều giá trị về di tích lịch sử, văn hóa, lễ hội và các trò chơi dân gian…tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mô hình du lịch sinh thái cộng đồn

Chi cục kiểm lâm Lạng Sơn
       4 Núi Pia Oắc 10.261 Cao Bằng       Hệ thực vật:thảm thực vật phong phú, có nhiều thực vật quý hiếm như Hà thủ ô đỏ, Tam Thất, các loại rau quả ôn đới…rừng có nhiều sản vật quý hiếm. Trong khu bảo tồn có một nơi mà các nhà khoa học gọi đó là “rừng rêu”, rừng của khí hậu ôn đới. Cây nào cũng mềm mụp rêu, cành lá la đà. Những cây trúc cũng chỉ cao độ hai gang tay mọc kín các đỉnh núi, lác đác có vài cây đen đúa, gầy guộc như vừa móc dưới đáy đại dương đầy rong rêu lên.Hệ động vật: có nhiều loài quý hiếm như Gà Đen, các loại côn trùng dùng cho nghiên cứu khoa học và sưu tập… Chi cục kiểm lâm tỉnh Cao Bằng

 

       5 Kim Hỷ

(2003)

14.772 Bắc Kạn       Thực vật đặc hữu và quý hiếm: 789 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 541 chi và 169 họ, trong đó có 35 loài thực vật quý hiếm được ghi trong SĐVN như: Chò chỉ, Re hương, Sưa bắc, Sam vàng, Lát hoa, Nghiến, Lan kim tuyến, Sến mật, Giổi nhung…      Động vật đặc hữu và quý hiếm: có 386 loài, 108 họ thuộc 29 bộ của 4 lớp động vật trong đó có 68 loài thú, 235 loài chim, 51 loài bò sát, 32 loài Ếch nhái, có 47 loài động vật quý hiếm ghi trong Sách Đỏ Việt Nam cần được bảo vệ đặc biệt, tiêu biểu như: Voọc mũi hếch, Hươu sạ, Voọc đen, Sói đỏ, Cáo vàng, Hổ, Rắn lửa, Rùa hộp, Trĩ đỏ… Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Cạn
       6 Thần Sa-Phượng Hoàng 18.859 Thái Nguyên        Hệ thực vật:thảm thực vật có 6 kiểu, loại thực vật có 1.069 loài, 162 họ, 645 chi, 5 ngành, 2 lớp, trong đó có 56 loài trong sách đỏ Việt Nam và thế giới thuộc đối tượng phải bảo tồn.       Hệ động vật: có 295 loài, 93 họ, 30 bộ, trong đó có 47 loài quý hiếm trong danh sách đỏ Việt Nam cần được bảo tồn.

Văn hóa: Khu bảo tồn còn có hệ thống hang động, di tích lịch sử – khảo cổ học đặc biệt của Việt Nam, là cái nôi của người Việt cổ.

Chi cục kiểm lâm Thái Nguyên
       7 Chạm Chu

(2001)

15.902 Tuyên Quang      Khu BTTN có khu hệ động, thực vật phong phú, đặc trưng bởi hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi vùng Đông Bắc Việt Nam.     Hệ thực vật: thực vật có mạch ở đây lên đến 1.500 – 2.000 loài, trong đó 10 loài đặc hữu, quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế cao như Hoàng Đàn, Pơ Mu, Thông tre, Nghiến và Trai Lý, Chò chỉ, Gù hương…

Hệ động vật: có 45 loài thú, 127 loài Chim, 38 loài Bò sát và 15 loài lưỡng cư; trong đó 32 loài đặc hữu, quý hiếm có nhiều loài nằm trong Sách đỏ Việt nam và Thế giới, đặc biệt là sự tồn tại của các loài linh trưởng đang đe doạ trên toàn cầu như: Voọc mũi hếch, Voọc đen má trắng, Cu ly lớn, Cu ly nhỏ….

Chi cục kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang

 

       8 Na Hang 22.402 Tuyên Quang       Hệ thực vật: còn khoảng 68% diện tích  là rừng ẩm nhiệt đới vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự tác động của con người. Trong đó có khoảng 70% là rừng trên núi đá vôi, tuy nhiên còn có những vùng rừng thường xanh còn lại trên các đai thấp (Cox 1994). Cho đến nay đã xác định được trên 2.000 loài thực vật, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon. 1996) như Trai, Mun, Nghiến, Lát Hoa, Đinh, Thông tre, Hoàng đàn, Trầm gió theo Hill và Hallam (1997).     Hệ động vật: đã ghi nhận được 90 loài thú, 263 loài Chim, 61loài Bò sát và 35 loài Ếch nhái. Trong đó, có 13 loài thú ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon. 1992). Đây là nơi duy nhất ở Việt Nam có loài Voọc mũi hếch sinh sống với quần thể lớn nhất. Tại đây có 8 loài Khỉ hầu bị đe doạ tuyệt chủng mang tính toàn cầu. Vùng phân bố thế giới của loài Voọc mũi hếch và Voọc đầu trắng đều ở trong hệ sinh thái này, cho nên Quỹ bảo tồn thế giới của Mỹ (WWF-US) đã xác định đây là vùng nằm trong 01 của 223 hệ sinh thái có giá trị ĐDSH cao nhất trên thế giới (Olson & Dinnerstein, 1998) Chi cục kiểm lâm tỉnh Tuyên Quang

 

       9 Bắc Mê

(1994)

9.043 Hà Giang Theo số liệu được thống kê từ các Dự án đầu tư xây dựng các khu bảo tồn:Hệ thực vật: 290 loài, trong đó có 25 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Kim tuyến đá vôi, Mạy châu, Tuế balansae, Hoàng tinh hoa trắng, Nghiến, Đảng sâm…

Hệ động vật: có 53 loài thú, 83 loài Chim, 15 loài Bò sát, 10 loài Lưỡng cư. Trong đó 47 loài quý hiếm được ghi trong Sách đỏ Việt Nam và Thế giới như: Dơi tai sọ cao, Cu li lớn, Khỉ mặt đỏ, Voọc đen má trắng, Cheo cheo, Gà lôi trắng, Rồng đất, Rắn hổ mang chúa…..

UBND tỉnh Hà Giang
  10 Bát Đại Sơn

(2000)

4.531 Hà Giang      Hệ thực vật: có tới 361 loài thuộc 103 họ và 249 chi. Ngoài ra KBT còn 1 số cây có giá trị dược liệu như Kim Ngân, Cốt toái bổ, Thảo quả, Đỗ trọng, Quế. đặc biệt Bát Đại Sơn còn có 18 loài cây quý hiếm có giá trị bảo tồn cần bảo vệ     Hệ động vật: có tới 195 loài động vật có xương sống thuộc 80 họ trong 24 bộ. Trong đó, có tới 18 loài động vật quý hiếm, 4 loài ở nhóm nguy cấp như: Gấu ngựa, Voọc đen má trắng, Vượn đen, Phượng Hoàng đất và một số loài khác đang ở tình trạng hiếm, sẽ nguy cấp. Chi cục kiểm lâm Hà Giang
  11 Du Già(1994) 11.540 Hà Giang     Hệ thực vật:Thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và rừng kín thường xanh á nhiệt đới ẩm vùng núi cao. KBT có 289 loài thực vật bậc cao thuộc 83 họ trong đó Thông đất 2 loài; Ngành Quyết 13 loài; Hạt trần 3 loài; Hạt kín 271 loài; lớp lá mầm 2: 232 loài; Lớp lá mầm 1: 39 loài. Đặc biệt sự có mặt của Pơ Mu (loài đặc hữu nổi tiếng của Việt Nam) là cây có giá trị xuất khẩu và là nguồn gen quý hiếm. Ngoài ra còn Hoàng Đàn, Đinh, Hương, Nghiến, Trai lý. Phân bố trên diện tích lớn trữ lượng cao. Hệ động vật: Hệ động vật có xương sống đã thống kê được 171 loài trong 73 họ và 24 bộ. Đặc điểm cơ bản của khu hệ động vật rừng là hệ động vật núi đá vôi, ưu thế là các loài thích nghi với địa hình hiểm trở, sống leo trèo như Sơn Dương, các loài Khỉ, Sóc…Động vật khu Du Già đặc trưng cho hệ động vật phía Bắc Việt Nam có ưu thế của nhiều loài vùng Hoa Nam (TQ) như Cáo, Lưng chó, Gấu Ngựa, Sóc bụng đỏ. Những loài động vật quý hiếm trong Sách đỏ Việt Nam tổng số 27 loài: Lớp thú 17 loài, Chim 2 loài, Bò sát 8 loài. Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà giang
  12 Phong Quang

(1998)

7.911 Hà Giang      Theo tài liệu từ khi thành lập KBT trong KBT có 55 loài thú, 125 loài chim, 21 loài bò sát, 12 loài lưỡng cư, 377 loài thực vật bậc cao, 32 loài động vật quý hiếm và 11 loài thực vật quý hiếm như: Chim, Bò sát, Lưỡng cu, Linh trưởng, Đinh, Nghiến, Trai….. Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang
  13 Tây Côn Lĩnh

(2002)

14.489 Hà Giang      Theo tài liệu điều tra nhanh đa dạng sinh học của dự án nâng cao năng lực do VFC tài trợ như sau:         Hệ thực vật: Là nơi giao thoa của nhiều luồng thực vật. Các loài đặc hữu có giá trị cần bảo vệ: Cây Vù Hương, Cây Bồ An, Cây Bồ Đề lá bời bời. Có 796 loài thực vật bậc cao và 54 loài thực vật quý hiếm.

     Hệ động vật:: 58 loài thú, 100 loài Chim, 55 loài bò sát lưỡng cư và 37 loài động vât quý hiếm.

Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang
  14 Văn Bàn 25.173 Lào Cai      Hệ thực vật:KBT có 891 loài thực vật thuộc 167 họ và 18 loài thực vật đặc hữu, quý hiếm ( Sách đỏ VN) như: Chò đãi, Trầm, Gù hương, Vù hương, Pơ mu, Hồi núi, Sến mật; loài đặc hữu Bách tán Đài Loan (Cha nâu)Hệ động vật: có 486 loài, trong đó 52 loài đặc hữu, quý hiếm. Chi cục kiểm lâm tỉnh Lào Cai
  15 Mường Tè 33.775 Lai Châu      Hệ thực vật: 542 loài thực vật, trong đó có 57 loài thực vật quý hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam và 7 trong sách đỏ thế giới, đa số là những loài thuốc quý hiếm; 22 loài đặc hữu hẹp cho vùng Tây Bắc, 7 loài nằm trong Nghị định số 32 của Chính phủ và 6 loài đặc trưng cho vùng Tây Bắc: Trám đen, chò nước, giổi xương, chò nâu, đinh, sến, lát hoa
  16 Mường Nhé

(1996)

44.940 Điện Biên      Hệ thực vật:phân bố trên nhiều sinh cảnh khác nhau tạo nên các kiểu rừng với ưu hợp điển hình như: Ưu hợp Sồi, Dẻ, Giổi, Re, Thích, Pơ Mu, Thông nàng; đến nay đã thống kê được 740 loài thực vật thuộc 500 chi trong 156 họ của 5 ngành thực vật. Trong đó có 35 loài thực vật quí hiếm; 29 loài có tên trong sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Nhiều loài phân bố trong khu vực như: Họ Ba mảnh vỏ, họ Dâu tằm, họ Cà phê, họ Lan, họ Đậu, họ Re.Hệ động vật: Qua thống kê khảo sát tháng 12 năm 2006 do Chuyên gia động vật Viện Điều tra quy hoạch rừng thực hiện đã thống kê có 291 loài động vật thuộc 95 họ của 27 bộ trong các lớp động vật. Trong đó có 55 loài động vật đặc hữu, quý hiếm; 45 loài có tên trong Sách đỏ Việt nam như: Gấu ngựa, Gấu chó, Vượn bạc má, Voọc xám, các loài Khỉ, Công, Niệc cổ hung, Trăn mốc Python, các loài Rái cá,…. Sở Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tỉnh Điện Biên
  17 Copia 11.996 Sơn La
  • Hệ thực vật: Thảm thực vật gồm 5 kiểu: Rừng kín hỗn giao cây lá rộng, lá kim, ẩm á nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (phân bố ở độ cao từ 1700 – 1821 m; rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa á nhiệt đới núi thấp đã bị khai thác (độ cao từ 800-1700 m); rừng thứ sinh; trảng cỏ cây bụi cao và rừng trồng thông. Đã xác định được 609 loài thực vật bậc cao thuộc 406 chi của  149 họ trong 5 ngành thực vật. Trong đó có 21 loài quý hiếm có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007
  •  Hệ động vật: có 65 loài thú thuộc 25 họ, 8 bộ. Trong đó có 17 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 184 loài chim, thuộc 47 họ, 14 bộ. Trong đó có 20 loài chim quý hiếm có trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và 6 phân loài đặc hữu; 22 loài lưỡng cư, thuộc 6 họ, 1 bộ và 36 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ. Trong đó có 13 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007; 252 loài côn trùng thuộc 4 bộ: Bộ cánh nửa (Heteroptera) được 47 loài thuộc 8 họ, bộ cánh cứng (Coleoptera) được 107 loài thuộc 11 họ, bộ cánh màng (Hymenoptera) được 29 loài thuộc 4 họ, bộ cánh phấn (Lepidoptera) được 69 loài thuộc 9 họ.
Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  18 Sốp Cộp 17.369 Sơn La       Hệ thực vật:đặc hữu và quí hiếm có 37 loài như: Bách xanh, Chò nâu, Trai lý, Kim giao, Re hương, Lát hoa, Sến mật…Hệ động vật: đặc hữu và quí hiếm có 72 loài như: Khỉ vàng, Voọc xám, Cầy giông, Cầy hương, Báo hoa mai, Tê giác, Sơn dương, Gà lôi trắng, Công, Gà tiền mặt vàng… Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  19 Tà Xùa 13.412 Sơn La       Hệ thực vật: có 613 loài thực vật, trong đó có 59 loài quý hiếm như Pơ mu, Thông tre, Lát hoa, Đinh, Chò chỉ, Vù hương, Nghiến, Sến mật, Trai lý, Pơ mu, Táu mật…      Hệ động vật: có 348 loài động vật (59 Loài động vật quý hiếm thuộc sách đỏ Việt Nam) như: Cu ly lớn, Khỉ mặt đỏ, Voọc xám, Gấu chó, Mèo rừng, Báo gấm, Sơn dương, Tê tê, Triết bụng vàng… Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  20 Xuân Nha 16.317 Sơn La       Hệ thực vật: Có 1010 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 180 họ thực vật. Trong đó có 65 loài thực vật quý hiếm, nhiều loài cây gỗ quí như: Lát hoa, Du Sam, Chò chỉ, Đinh thối, Giổi xanh, Kim Giao, Thông nàng, Trầm, Ba kích, Sến mật…         Hệ động vật: có 345 loài động vật thuộc 27 bộ, 95 họ. Trong đó, 43 loài động vật quý hiếm thuộc sách đỏ Việt Nam như: Cu ly nhỏ, Khỉ mặt đỏ, Voọc đen má trắng, Vượn đen, Sói đỏ, Cầy vằn bắc, Bò tót, Sơn dương, Tê tê Java… Chi cục kiểm lâm tỉnh Sơn La
  21 Nà Hẩu 16.400 Yên Bái       Hệ thực vật:thảm thực vật phong phú gồm trên 40 loại cây quý hiếm như: dẻ tùng sọc trắng, thảo quả, sa nhân đỏ, gù hương…      Hệ động vật: cũng có nhiều loài động vật có giá trị bảo tồn trong nước và quốc tế. Loài thú có: báo hoa mai, mèo gấm, báo lửa, cầy vằn bắc…; loài chim có: hồng hoàng, gà lôi trắng và nhiều loài trong họ khướu, bộ sẻ; các loài bò sát có: hổ mang chúa, rùa đầu to, kỳ đà hoa… Chi cục kiểm lâm tỉnh Yên Bái

 

  22 Hang Kia-Pà Cò 5.258 Hoà Bình       Hệ thực vật:đặc hữu và quý hiếm gồm 9 loài: Thông đỏ, Thông Pà cò, Các loài lan kim tuyến, Bách xanh, Pơ mu, Trai lý, Nghiến, Củ bình vôi, Cây một lá.Hệ động vật: đặc hữu, quý hiếm gồm có 11 loài: Cu li nhỏ, Mèo rừng, Sơn dương, Gà lôi trắng, Hổ mang chúa, Cầy vằn, Chim yểng, Rắn ráo trâu, Rắn cạp nia bắc, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang. Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình
  23 Ngọc Sơn-Ngổ Luông 15.891 Hoà Bình      Ngọc Sơn cũng đã ghi nhận sự có mặt của quần thể Voọc quần đùi trắng Trachypithecus delacouri, là loài đặc hữu của Việt Nam và đang bị đe doạ tuyệt chủng toàn cầu.Ngọc Sơn là mắt xích quan trọng trong một tổ hợp các khu đề xuất bảo vệ, trải dài từ VQG Cúc Phương đến biên giới Việt Lào. Điều này cho thấy, các khu vực rừng chuyển tiếp có thể được bảo vệ cũng như các hành lang sinh cảnh sẽ được tái thiết lập tại các khu vực rừng đã bị tàn phá. Ngọc Sơn là nơi có thể tồn tại các cảnh quan tự nhiên nguyên sơ nhất tại Việt Nam. Chi cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình

 

  24 Phu Canh 5.647 Hoà Bình       Hệ thực vật:rất phong phú, đa dạng các loài cây đặc hữu và quý hiếm có 14 loài như: Thông tre lá ngắn, Bách xanh, Sến mật, Re hương, Táu mật, Lát hoa, Trai lý, Kháo xanh, Vù hương, Du sam, Lát hoa, Ba gạc lá nhỏ, Đinh vàng, Đinh thối.Hệ Động vật: đặc hữu và quý hiếm có 13 loài như: Cu li nhỏ, Khỉ đuôi lợn, Sơn Dương, Tê vàng, Gà tiền mặt vàng, Yểng, Rắn hổ mang chúa… Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình
  25 Thượng Tiến 5.873 Hoà Bình       Hệ thực vật:có giá trị như Kim Giao, Thông tre lá ngắn, Re hương, Gù hương.      Hệ động vật: có giá trị như Báo gấu, Gấu ngựa, Rắn hổ mang chúa, Cầy bay, Cu ly, Rắn hổ trâu, Mèo rừng, Gà lôi trắng, Rái cá. Chi Cục kiểm lâm tỉnh Hòa Bình
  26 Tiền Hải(1994) 3.245 Thái Bình       Hệ thực vật:có hơn 180 loài cây rừng ngập mặn (sú, vẹt, bần, mắm…)Hệ động vật: có hơn 150 loài chim nước, trong đó nhiều loài nằm trong Sách đỏ (Cò thìa Ptalaleaminor, Bồ nông chân xám Pelecanus philippensis), hơn 80 loài cá và 20 loài giáp xác (tôm sú, ngao, cá đối). 08 loài chim và 02 loài động vật (Rái cá và Cá Thủ vàng) đặc hữu quý hiếm, cùng với VQG Xuân Thuỷ, KBT Tiền Hải khu RamSar đầu tiên của Việt Nam, năm 2004 đã được Uỷ ban UNESCO công nhận là một trong vùng lõi quan trọng của Khu dự trữ sinh quyển Thế giới. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình
  27 Vân Long

(2002)

1.974 Ninh Bình       Hệ thực vật: có khoảng 457 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 327 chi, 127 họ. Đặc biệt, có 8 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam (1996) là kiêng, lát hoa, tuế lá rộng, cốt toái bổ, sắng bách bộ, mã tiền, hoa tán, bò cạp núi.Hệ động vật: có 39 loài, 19 họ, 7 bộ thú, trong đó 12 loài động vật quý hiếm như voọc quần đùi với số lượng cá thể lớn, gấu ngựa, sơn dương, khỉ mặt đỏ, báo hoa mai, báo gấm. Có 9 loài bò sát được ghi trong sách đỏ Việt Nam vẫn có ở Vân Long như rắn hổ chúa, kỳ đà hoa, trăn đất, rắn ráo trâu, rắn sọc đầu đỏ…Vân Long cũng có khả năng hình thành được một vườn chim vì có 62 loài, 32 họ, 12 bộ chim và hiện nay có khoảng gần 300 con cò bợ, cò ruồi, cò trắng thường xuyên kiếm ăn ở bãi sình lầy và ruộng lúa. Tuy vùng đất ngập nước ở Vân Long chưa được nghiên cứu đầy đủ, nhưng đây cũng rất có thể là nơi quan trọng đối với các loài chim nước di cư như sâm cầm. Một trong những ghi nhận đáng chú ý ở Vân Long là đại bàng Bonelli. Đến nay, khu đề xuất bảo tồn thiên nhiên Vân Long là điểm duy nhất đã ghi nhận chính xác loài đại bàng này ở Việt Nam. Điều đáng chú ý là tại các khu vực ngập nước Vân Long có các loài cà cuống, một nhóm côn trùng quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam. Ngoài giá trị dược lý gắn liền với văn hoá ẩm thực, cà cuống sống được là biểu hiện sự trong sạch của môi trường nước, giúp con người tiêu diệt một số loài thân mềm mang bệnh ký sinh trùng, loài ốc bươu vàng. Chi cục kiểm lâm tỉnh Ninh

Bình

 

  28 Pù Hu 23.028 Thanh Hóa  Hệ thực vật:có 2 kiểu rừng chính. Rừng thường xanh đất thấp phân bố ở độ cao dưới 700 m, với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Đậu Fabaceae, họ Xoan Meliaceae và họ Bồ hòn Sapindaceae. Ở những nơi có độ cao thấp hơn, kiểu rừng này đã bị tàn phá để lấy đất làm nương rẫy. Kiểu rừng thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao trên 700 m, với các loài thực vật ưu thế của họ Dẻ Fagaceae, họ Dâu tằm Moraceae và họ Re Lauraceae (Anon. 1998). Ở đó có 508 loài thực vật khác nhau.Hệ động vật: Đã ghi nhận được 266 loài động vật, một số loài thú có giá trị bảo tồn như Gấu ngựa, Gấu chó, Bò tót và Vượn – có thể là loài Vượn đen má trắng (Anon. 1998); 1 loài chim có vùng phân bố hẹp là Trèo cây mỏ vàng (Theo Lê Trọng Trải, 2000).

 

UBND tỉnh và chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa
  29 Pù Luông 16.902 Thanh Hóa      Hệ thực vật: có05 loại kiểu rừng chính tồn tại do kết quả của sự đa dạng độ cao và các tầng chất nền: rừng lá rộng đất thấp trên núi đá vôi (60-700 m); rừng lá rộng đất thấp trên các phiến thạch, sa thạch và đất sét (60-1.000 m); rừng lá rộng chân núi đá vôi (700-950 m); rừng lá kim chân núi đá vôi (700-850 m) và rừng lá rộng chân núi Bazan (1.000-1.650 m). Khu bảo tồn cũng tồn tại các thảm rừng thứ sinh như rừng tre nứa, cây bụi và đất nông nghiệpHệ độngvật: 598 loài động vật thuộc 130 họ động vật có xương sống, trong đó có 51 loài quý hiếm (gồm 26 loài thú, 5 loài dơi, 6 loài chim, 5 loài cá nước ngọt, 6 loài bò sát). Có tổng số 84 loài thú (gồm cả 24 loài dơi), 162 loài chim, 55 loài cá, 28 loài bò sát và 13 loài ếch nhái đã được ghi nhận. Khu hệ côn trùng tại Pù Luông có ít nhất là 158 loài bướm, 96 loài thân mềm trên cạn, trong đó có 12 loài thân mềm có thể là đặc hữu cho khu vực. Khu bảo tồn này là nơi cư trú của báo gấm, beo lửa, hươu sao, gấu ngựa, sơn dương, voọc quần đùi trắng

 

UBND tỉnh và chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa
  30 Xuân Liên 23.475 Thanh Hóa      Hệ thực vật: có hơn 6.000 ha rừng nguyên sinh, 572 loài thực vật, trong đó có 156 cây thuốc quý, hơn 40 loài cây ăn quả, hơn 300 loài cây lấy gỗ, 23 loài cây lấy nhựa và dầu như trầm gió, bời lời, quế và hàng trăm cây thuốc quý, cây đan lát, hàng chục họ lan. Đặc biệt, ở đây còn có loài cọ Bắc Sơn quanh năm tốt tươi, tán lá mọc chụm ở ngọn, dáng to cao, tạo nên vẻ đẹp uy nghi, hùng vĩ…Trong đó có 4 loài là các loài đặc hữu Việt Nam là cây vù hương, Cọ mai nháp lá nhỏ, loài Croton boniana và cây lá nến không gai.Hệ động vật: Tổng số có 38 loài thú được ghi nhận, 10 trong số đó là các loài bị đe dọa trên toàn cầu. Các loài thú được ghi nhận có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác bảo tồn bao bồm bò tót, voọc xám, vượn đen má trắngmang Roosevelt. Tổng số có 136 loài chim thuộc 11 bộ 29 họ điển hình, một số loài có số lượng lớn như gà rừng, hồng hoàng; 53 loài bò sát và lưỡng cư, 143 loài bướm.

Di tích, danh lam thắng cảnh: Cùng nằm trong KBTTN Xuân Liên có đền thờ Cầm Bá Thước, người lãnh đạo phong trào Cần vương ở phía Tây Thanh Hóa.

UBND tỉnh và chi cục kiểm lâm tỉnh Thanh Hóa
  31 Pù Hoạt 35.723 Nghệ An       Hệ thực vật:          – Kiểu rừng nhiệt đới núi cao: nhiều loài đặc hữu và đặc biệt là sự tồn tại của các loài cây lá kim (hạt trần) cổ như: Pơ mu, Bách xanh, Sa mu, các loài này tuy số lượng và sinh khối trên toàn rừng không lớn nhưng là những cây có tầm vóc lớn cả về chiều cao và đường kính mà không có loài nào cây nào ở trong nước có thể sánh nổi. Nếu so sánh với 8 cây đã được P.W. Richards giới thiệu trong “Rừng mưa nhiệt đới” như Cự tùng  H = 102, D = 8; Bạch đàn vua ở Úc; Bạch quả ở Trung Quốc chu vi 16vm; cây Com pat ở Sarawark… thì những cây Sa mu của Pù Hoạt có thể đứng vào hàng thứ 8 hoặc thứ 9 trong số các cây có tầm vóc lớn nhất thế giới. Do đó những quần thể các loài lá kim trong kiểu rừng này của Pù Hoạt là một trong số các mẫu ít ỏi của trái đất còn tồn tại và tạo nên những cảnh ngoạn mục trên vùng đỉnh núi cao luôn luôn có mây che phủ.

Kiểu Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi trung bình: Thực vật chiếm ưu thế là cây lá rộng, sinh trưởng tốt, cây lá kim có Thông nàng, Kim giao rải rác đôi chỗ trên các sườn giông và rất dốc. Cây lá rộng với các loài tiêu biểu của các Họ sau: Họ Dẻ (Fagaceae) có khá nhiều loài và cũng chiếm ưu thế trong một số tổ thành đai diện của Họ Dẻ như: Cà ổi, Dẻ đá, Sồi , Dẻ cau; Họ Re có 30 loài của các chi, trong đó chi phân bố rộng; Họ Dầu tuy ít loài nhưng ở nhiều lâm phần ở Thông thụ  và Phu Pha Nhà đã chiếm ưu thế tuyệt đối tới trên 50% trong tổ thành. Họ Mộc lan với nhiều cây gỗ lớn của các chi Giổi; Họ Hồng xiêm với nhiều loài cây gỗ nổi tiếng Sến Mật với đường kính trên 60 – 80 cm cũng đôi khi chiếm 3 – 5% trong tổ thành. Ở kiểu rừng này cá Họ sau xuất hiện và đóng vai trò quan trọng là Họ Xoan với các loài Gội; Họ Bồ hòn với các loài Sâng , Trường; Họ Thị có 6 – 7 loài của chi Diospyros. Kiểu rừng này phần lớn cũng là rừng ít bị tác động, tính nguyên sinh cao và có nhiều động vật quí hiếm sinh sống như: Voi, Bò tót, Hươu nai, Gấu, Hoẵng.

Kiểu Rừng kín lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới núi thấp:  Thảm thực vật không đồng đều với nhiều họ và nhiều đại diện ưa sáng của các Họ Thầu dầu, Sim, Xoan, Dâu tằm, Cánh bướm, Vang, Thị, Re, Dẻ, Côm. Rừng chia 3 tầng, tầng ưu thế sinh thái tạo thành tán rừng với các loài điển hình: Chẹo, Bứa, Vạng, Lim xẹt, Mọ, Muồng, Đa, Mãi táp, Ngát, Côm, Bời lời, Chắp.

Kiểm lâm, Ban quản lý Khu BTTN Pù Hoạt và Uỷ Ban Nhân dân xã, huyện có rừng
  32 Pù Huống 40.128 Nghệ An  Hệ thực vật: Đến nay, tổng cộng có 665 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có 43 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.Hệ động vật: đã ghi nhận được 291 loài thú, trong đó có 45 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam (Ban Quản lý Khu BTTN Pù Huống, 2003). Tổng cộng có 148 loài chim, trong đó có 10 loài trong Sách Đỏ Việt Nam. Pù Huống hiện có quần thể loài Vượn đen bạc má (Kemp và Dilger 1996). Khu BTTN Pù Huống có diện tích sinh cảnh tự nhiên đủ lớn cho sự tồn tại và phát triển của loài vượn này, vì vậy hiện tại mối đe doạ lớn nhất đối với loài này chính là săn bắn. Ngoài ra sự có mặt của Sao la Pseudoryx nghetinhensis trong vùng cũng được ghi nhận năm 1995 thông qua phỏng vấn và định loại mẫu tiêu bản (Kemp et al. 1997). UBND tỉnh Nghệ An
  33 Kẻ Gỗ 21.759 Hà Tĩnh        Hệ thực vật: có các loài thực vật quý như: táu, , chò chỉ, kim giao, sến, lát hoa, nhiều loại cây cho gỗ có tên trong sách đỏ Việt Nam như lim xanh, sến mật, gụ, lau, vàng tâm, trầm hương, song mật, lát hoa, côm bạch mã, chùm bao Trung Bộ, bời lời vàng, v.v… Đây là khu hệ thực vật (TV) phong phú đặc trưng cho nhiều luồng TV của khu hệ TV bản địa Bắc VN – Nam Trung Hoa, luồng TV Indonsia – Malaysia và luồng thực vật Hymalaya.      Hệ động vật: đã phát hiện được 364 loài động vật có xương sống thuộc 99 họ. Các loại động vật quý hiếm như: trĩ sao, gà lôi lam đuôi trắng, gà lôi hồng tía, ngan cánh trắng, vượn, gấu, hổ, tê tê, sóc bay. Ở đây có gà lôi lam mào đen, 100 loài bò sátlưỡng cư. Các loài thú lớn hiếm hoi do tình trạng săn bắt bừa bãi. Đến nay, tại khu BTTN Kẻ Gỗ Gà lôi lam đuôi trắng, một trong ba loài gà lôi đặc hữu của Việt Nam đang trong tình trạng bị đe doạ tuyệt chủng, và nhiều loại quý hiếm khác. Trong 47 loài thú ở đây có 18 loài (chiếm 21%) được ghi vào sách đỏ Việt Nam và thế giới. Rừng Kẻ Gỗ cũng là xứ sở của các loại mộc lan, phong lan đẹp và quý như quế hương, tai tượng, tai trâu, đuôi chồn, nghinh xuân, phượng vĩ… Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Tĩnh
  34 Bắc Hướng Hóa 25.200 Quảng Trị   Hệ thực vật: Tại khu BTTN Bắc Hướng Hóa, trong tổng số 35 họ và 117 loài thuộc 2 ngành Thực vật bậc cao có mạch thì ngành Thông gồm 2 họ, 6 loài; ngành Ngọc lan gồm 33 họ, 111 loài. Những họ có nhiều loài cho gỗ là: Đậu– 12 loài; Long não– 11 loài; Dẻ  – 10 loài; Đào lộn hột, Vang, Thị  và Bồ hòn, mỗi họ có 6 loài; Xoan và Kim giao, mỗi họ có 5 loài. Đáng chú ý là những loài cho gỗ tốt như Hoàng đàn giả, Gụ lau, Lim vàng, Lim xẹt, Xoay, Dẻ giáp, Vù hương, Giổi xanh, Lát hoa. Trong đó có 9 loài đã được cấp báo trong Sách Đỏ Việt Nam.Đây là những cây gỗ lớn có kích thước với đường kính thân từ 60 cm trở lên hay bị săn lùng và khai thác trái phép, cần bảo tồn những loài cây trên và có phương án gây trồng những cây con từ nguồn giống của những cây này trong khu bảo tồn.Bên cạnh đó có nhiều loài làm cảnh là Lan: 13 loài; Dứa sợi: 5 loài; Dâu tằm – 4 loài; Lộc vừng, Thu hải đường, Kim giao, Tuế, mỗi họ có 3 loài; Mai – 2 loài. Trong số đó có 3 loài đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Một số loài chủ yếu Dendrobium spp. (họ Lan – Orchidaceae), Barringtonia spp. (họ Lộc vừng) và một số loài thuộc ngành Dương xỉ và Thông.

Hệ động vật: đã ghi nhận sự có mặt của bò tót với số lượng không nhiều.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị

 

  35 Đakrông 37.640 Quảng Trị       Hệ thực vật:Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông với đặc trưng sinh thái lá rộng, thường xanh trên đất thấp.Hệ động vật: đã ghi nhận về sự có mặt của loài gà lôi lam mào trắng có tên khoa học là Lophura edwardsi, một loài đặc hữu có giá trị bảo tồn cao và đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên. Nhiều loại động thực vật ở đây đã có tên trong sách đỏ Việt Nam như: Sao la, Mang Trường Sơn, Chà vá chân nâu, Voọc, Lim xanh…và được tổ chức Bảo tồn chim thế giới xếp vào vùng chim quan trọng Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Trị

 

  36 Phong Điền 30.263 Thừa Thiên-Huế        Hệ động vật: có143 loài bướm, thuộc 10 họ. Trong đó có loài bướm quý papipio noblie; đã ghi nhận 44 loài Thú, trong 7 bộ và 20 họ. Trong tổng số loài thú có 19 loài được ghi trong sách đỏ Thế Giới (IUCN,1996) Chi cục kiểm lâm tỉnh TTH

 

  37 Sơn Trà 3.871 Đà Nẵng      Hệ thực vật:Đây là khu bảo tồn thiên nhiên vừa có hệ sinh thái đất ướt ven biển vừa có thảm rừng nhiệt đới mưa ẩm nguyên sinh. Nguồn gen thực vật nhiệt đới của Sơn Trà rất đa dạng, phong phú với số lượng cá thể lớn có khả năng cung cấp giống cây bản địa phục vụ trồng rừng như: Chò chai, Dẻ cau, Dầu lá bóng…     Hệ động vật: có những loài động vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng, trong đó Voọc vá được xem là loài thú sinh trưởng đặc hữu của Đông Dương cần được bảo vệ.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Đà Nẵng

 

  38 Bà Nà-Núi Chúa 30.206
(Đà Nẵng)
2.753
Quảng Nam)
Đà NẵngQuảng Nam      Bà Nà có hệ động thực vật phong phú và đa dạng. Trong những cánh rừng nguyên sinh đại ngàn là nơi cư trú của 256 loài động vật, trong đó có 61 loài thú, 178 loài chim và 17 loài bò sát. Hệ thực vật ở đây có 543 loài gồm 136 họ và 379 chi. Bà Nà là nơi có nhiều loài động vật quý hiếm cư trú như trĩ sao, gấu đen châu Á, vượn bạc má hung…Năm 1986, Bà Nà đã được Chính phủ công nhận là khu dự trữ thiên nhiên, đối tượng bảo vệ là rừng nhiệt đới và nhiều loại động thực vật quý hiếm.
  39 Ngọc Linh 17.576 Quảng Nam       Hệ thực vật:có nhiều loài thực vật đặc hữu Việt Nam như Thông đà lạt và Sâm ngọc linh.      Hệ động vật: Hệ động vật rừng của khu bảo tồn này rất đa dạng với 53 loài thú. 183 loài chim, 44 loài bò sát, 21 loài lưỡng cư, 25 loài cá… Ngoài ra, đây cũng là nơi phân bố của một số loài chim, thú đặc hữu mới được phát hiện gần đây như Mang Trường Sơn và Khướu Ngọc Linh là loài phân bố giới hạn cho vùng Trung Trường Sơn của Việt Nam.

Ngọc Linh là một trong bốn Vùng Chim Đặc hữu của Việt Nam vừa được công bố (Tordoff et al. 2000), và đã được công nhận là một Vùng Chim Quan trọng của Việt Nam (Tordoff 2002).

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam

 

  40 Sông Thanh 79.694 Quảng Nam       Hệ thực vật:Hệ thực vật có tổng số 831 loài thực vật bậc cao trong đó có 38 loài thực vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.     Hệ động vật: có sự hiện diện của nhiều loài thú lớn và hiếm như hổ, báo, voi, voọc cá chân nâu, voọc cá chân xám, mang Trường Sơn…với 14 loài động vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Quảng Nam

 

  41 An Toàn 22.545 Bình Định       Hệ thực vật: KBT có 19.414 ha rừng tự nhiên, 127 ha rừng trồng. Thành phần thực vật trong khu vực tương đối đa dạng với một số loài cây gỗ có giá trị kinh tế cao như Gõ đỏ, Giáng hương quả to.      Hệ động vật: có một số loài thú có giá trị bảo tồn: loài Chà vá chân xám Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Định

 

  42 Hòn Bà 19.164 Khánh Hòa      Cảnh quan:đỉnh Hòn bà rất hùng vỹ nhưng còn rất hoang sơ , chưa được bàn tay con người khai thác để phục vụ du lịch.Hệ thực vật: đã thống kê được 43 loài quý hiếm được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam, trong đó đáng kể là các loài Thông 2 lá dẹp, Pơ mu, Hồng quang, Gỏ đỏ, Trắc dây, Mun (Diospyros mun), Xoay, cây Ớt làn mụn cóc là loài đặc hữu hẹp mới chỉ tìm thấy ở Hòn Bà và Ninh Hòa (Khánh Hòa). Hòn Bà là nơi có nguồn dược liệu tự nhiên hết sức phong phú và giá trị cao: Nấm Linh chi, Sa nhân, Dó bầu, Lười ươi, Cốt toái bổ, Ngũ gia bì, Ba gạc, Bời lời chanh…

       Hệ động vật: theo kết quả thống kê sơ bộ cho thấy hệ ĐVR bao gồm 255 loài thuộc 88 họ; nằm trong 4 lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái. Đặc biệt có sự hiện diện của các đàn Chà vá chân đen và Vượn bạc má.

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Khánh Hòa

 

  43 Krông Trai 13.392 Phú Yên       Hệ thực vật:có khoảng 36 loài thực vật.Hệ động vật: 50 loài thú, 182 loài chim và 22 loài bò sát, trong số đó có nhiều loài động quí hiếm có giá trị cao cho nghiên cứu khoa học, tham quan tìm hiểu.

Văn hóa: Khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai còn là nơi bảo tồn các văn hóa truyền thống mang đậm bản sắc của các đồng bào dân tộc ít người như đồng bào Ê Đê, Ba Na với các lễ hội: đâm trâu, lễ bỏ mả, lễ hội mùa, kể khan, nghệ thuật nhà mồ.

  44 Núi Ông 24.017 Bình Thuận        Hệ thực vật:Các kiểu rừng chính tại khu bảo tồn gồm rừng thường xanh, rừng rụng lá và nửa rụng lá (Anon. 1992). Kiểu rừng phân bố rộng nhất là rừng thường xanh đất thấp, tuy nhiên ở những vùng bị xáo trộn mạnh nhất bởi hoạt động khai thác gỗ là nơi có rừng nửa rụng lá ưu thế bởi các loài họ Dầu Dipterocarpaceae. Khu vực còn có một số diện tích nhỏ của kiểu rừng rụng lá nguyên sinh ở vùng xa nhất về phía đông nam của khu bảo tồn. Tại những đai cao hơn có kiểu rừng thường xanh núi thấp và rừng lùn xuất hiện ở đai cao nhất xung quanh đỉnh núi Ông. Ngoài ra còn có trảng cỏ, trảng cây bụi, trảng cây bụi có cây gỗ rải rác ở những vùng thấp.Tổng số có 332 loài thực vật bậc cao có mạch đã được ghi nhận tại Khu BTTN Núi Ông, trong đó có một số loài đang bị đe dọa trên toàn cầu như Gõ đỏ, Trắc bà rịa.Hệ động vật: có 52 loài thú, 96 loài chim, 21 loài bò sát, 7 loài ếch nhái và 22 loài cá đã được ghi nhận. Trong đó có nhiều loài bị đe dọa tuyệt chủng trên toàn cầu như Voọc vá chân đen Pygathrix nemaeus nigripes và Vượn đen má hung Hylobates gabriellae (Anon. 1992)

 

Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Thuận

 

  45 Tà Kóu 8.468 Bình Thuận         Hệ thực vật:gồm 3 kiểu rừng: rừng nhiệt đới thường xanh núi thấp, rừng nhiệt đới bán rụng lá núi thấp và rừng nhiệt đới lá rộng rụng lá mùa khô. Đây là nơi cung cấp một lượng lớn cây lấy thuốc nổi tiếng chất lượng cao ở miền Nam. Hệ thực vật của núi ước khoảng 1.000 loài thực vật có mạch trong đó đã ghi nhận hơn ¼ có thể sử dụng làm dược liệu.Có ít nhất 15 loài thực vật quý hiếm và nguy cấp ở Tà Kóu.       Hệ động vật: Có ít nhất 10 loại động vật quý hiếm và  nguy cấp được ghi nhận ở Tà Kóu. Chi cục kiểm lâm tỉnh Bình Thuận

 

  46 Ngọc Linh 38.109 Kon Tum        Hệ thực vật:có 874 loài thực vật bậc cao thuộc 537 chi, họ. Khu bảo tồn có kiến tạo địa chất lâu đời, còn tồn tại nhiều loài loài thực vật cổ xưa như các họ ngọc lan, họ na, họ chè, họ cáng lồ và các họ thực vật ôn đới. Có 9 loài thực vật đặc hữu, trong đó sâm Ngọc Linh là cực kỳ quý hiếm. Có nhiều kiểu rừng như rừng cây lá rộng, lá kim…Hệ động vật: 309 loài động vật hoang dã. Động vật có 5 loài thú được ghi trong Sách Đỏ thế giới: Khỉ mặt đỏ, khỉ đuôi lợn, báo gấm, hổ, nhím đuôi ngắn và 15 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam. Trong khu hệ chim phát hiện hai loài mới là khướu đầu hung, khướu đuôi vằn; khu hệ bò sát có 3 loài đặc hữu là thằn lằn đuôi đỏ, rùa hộp trán vàng và ếch da cóc…

 

  47 Kon Cha Răng
(Kon Chư Răng)
15.446 Gia Lai        Hệ thực vật:Kiểu rừng chính ở đây là rừng nhiệt đới thường xanh núi thấp phân bố ở độ cao từ 900 – 1.000 m ở phía tây bắc khu bảo tồn. Kiểu rừng này chiếm 70 – 80% diện tích rừng trong khu vực, với thành phần thực vật ưu thế bởi các loài cây thuộc họ Dẻ Fagaceae, Re Lauraceae, Mộc lan Magnoliaceae mọc hỗn giao với các loài cây lá kim như Thông nàng Podocarpus imbricatus, Hoàng đàn giả Dacrydium elatum. Chỉ có khoảng 2% diện tích là rừng thứ sinh, chủ yếu là trảng cây gỗ rải rác và cây bụi (Anon. 1999).      Hệ động vật: có 62 loài thú, 169 loài chim và 161 loài bướm. KBTTN là một bộ phận của vùng Chim Đặc hữu Cao nguyên Kon Tum và đã được công nhận là một trong số các vùng chim quan trọng tại Việt Nam (Tordoff 2002)

 

  48 Ea Sô 24.017 Đắk Lắk        Địa hình rất phong phú và đa dạng, nổi bật là vùng núi cao hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi , trảng bằng, đồng cỏ tạo nên một vùng đặc sắc với nhiều kiểu thảm thực vật và được đánh giá là môi trường sống lí tưởng nhất hiện tại ở Việt Nam của nhiều loài động vật rừng thuộc bộ thú móng guốc ăn cỏ. Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới là: bò tót, bò rừng… 
  49 Nam Kar 21.912 Đắk Lắk        Hệ thực vật: Địa hình ở đây hiểm trở, chia cắt phức tạp chuyển tiếp từ núi cao đến đồi gò, trảng bằng, đồng cỏ đầm hồ, sông suối tạo nên một vùng đặc sắc gần như hội đủ các dạng địa hình nên cũng có đủ các kiểu thảm thực vậtmôi trường sống lí tưởng của nhiều loài động vật rừng. Ở đây có các kiểu rừng chủ yếu là kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới, rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới, rừng thứ sinh tre, nứa, gỗ- lồ ô tre nứa, rừng trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác… Tổng diện tích có rừng là 20.932,3 ha có độ che phủ là 95,5%. Có 586 loài thực vật bậc caocó mạch thuộc 149 họ của 67 bộ trong 5 ngành thực vật.Hệ động vật: Lớp chim có 140 loài thuộc 43 họ của 17 bộ. Lớp Thú có 56 loài thuộc 24 họ của 9 bộ. Lớp Lưỡng cư-bò sát có 50 loài thuộc 16 họ của 4 bộ. Có một số loài thú quý hiếm nằm trong sách đỏ thế giới là: bò tót, hổ, beo, vọoc vá, cầy giông, gà lôi, gà tiền, cu li nhỏ

 

  50 Nam Nung 10.912 Đắk Nông        Hệ thực vật:có 408 loài thực vật bậc cao có mạch. KBT có 3 kiểu thảm thực vật chính là: Rừng nhiệt đới thường xanh núi thấp, rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp và kiểu rừng nửa rụng lá đất thấp.-  Rừng nhiệt đới núi thấp phân bố ở độ cao trên 1.000 m với thực vật ưu thế thuộc các họ: Re, Dẻ, Chè, Mộc lan, Kim giao, và Đỗ quyên.

–  Kiểu rừng nhiệt đới thường xanh đất thấp phân bố ở đội cao từ 800 – 1.000 m. Thực vật ưu thế trong kiểu rừng này thuộc về các loài: Sao đen, Dầu rái và một số loài thuộc họ Re và họ Dẻ.

–  Kiểu rừng nửa rụng lá phân bố ở độ cao dưới 800 m, với các loài thực vật ưu thế thuộc họ Dầu (Anon. 1994).

Hệ động vật: 58 loài thú, 127 loài chim và 33 loài bò sát đã ghi nhận cho khu bảo tồn (Anon. 1994).

 

  51 Tà Đùng 17.915 Đắk Nông       Hệ thực vật:đã ghi nhận 931 loài thực vật bậc cao có mạch, trong đó có nhiều loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam như: Vù hương, Giáng hương quả to, Thông Đà lạt, Hồng quang và Trầm hương.Hệ động vật:  đã ghi nhận được 47 loài thú thuộc 18 họ và 5 bộ. Đặc biệt, trong quá trình khảo sát đã phát hiện mẫu tiêu bản của loài Mang lớn Muntiacus vuquangensis là loài thú lớn mới được phát hiện gần đây và Bò tót Bos gaurus là loài thú lớn bị đe dọa toàn cầu. Không chỉ quan trọng đối với các loài thú, Tà Đùng cũng ghi nhận một số loài lưỡng cư đang bị đe dọa trên toàn cầu như Limnonectes toumanoffi, loài này chỉ được ghi nhận tại phía nam Việt Nam và đông Cămpuchia (IUCN-SSC and CI-CABS 2003).

 

  52 Bình Châu-Phước Bửu 10.905 Bà Rịa – Vùng Tàu        Hệ thực vật:gồm 732 loài thuộc 123 họ với 114 loài thực vật quý hiếm như gõ đỏ, cẩm lai Bà Rịa, xoan đào, trắc, giáng hương, huỳnh đàn, bình linh…Hệ động vật: gồm 205 loài có xương sống, trong đó có 49 loài thú thuộc 21 họ, 9 bộ với 36 loài quý hiếm như gấu chó, khỉ đuôi lợn, cu li lớn, cu li nhỏ, voọc xám bạc, mèo rừng. 106 loài chim, trong đó có các loài quý như gà lôi hông tía, gà lôi vằn, bồ câu nâu, yến núi và rất nhiều loài bò sát như trăn gấm, trăn đất, rắn hổ mang, tắc kè, nhông cát…

 

  53 Vĩnh Cửu 53.850 Đồng Nai        Hệ thực vật:Thảm thực vật chiếm ưu thế là rừng thường xanh và bán thường xanh đất thấp.      Hệ động vật: Kết quả của một số đợt điều tra đa dạng sinh học tại Vĩnh Cửu đã cho thấy cùng với diện tích rừng liền kề tại VQG Cát Tiên, khu vực là nơi quan trọng trong công tác bảo tồn một số loài thú bị đe dọa toàn cầu như Voi châu Á Elephas maximus.

 

  54 Láng Sen 5.030 Long An        Hệ thực vật:Thực vật trong khu vực Láng Sen khá phong phú với 156 loài thực vật hoang dã trong đó có 152 loài đã xác định được tên khoa học thuộc 60 họ được tìm thấy, trong đó khuyết thực vật có 7 loài, song tử diệp có 88 loài và đơn tử diệp có 57 loài.       Hệ động vật: có 128 loài động vật có xương sống (không kể lớp Cá) được ghi nhận có mặt ở Láng Sen. Trong đó: lớp Lưỡng thê: 4 loài, lớp Bò sát:17 loài, lớp Chim: 101 loài, lớp Thú: 6 loài. Ngoài ra đã phát hiện được 61 loài chim ở Láng Sen. Như vậy, tổng số các loài chim phát hiện được đã lên đến 122 loài và tổng số các loài động vật có xương sống (không kể cá) lên đến 149 loài, trong đó có 13 loài có trong Sách Đỏ Việt Nam.
  55 Thạnh Phú 2.584 Bến Tre Hệ thực vật: Thực vật ưu thế trong rừng ngập mặn ven biển ở Thạnh Phú như là Đước, các loài Mắm, A. officinalis, Giá và Bần Sonneratia spp.. Trong đó, rừng Đước Rhizophora apiculata chiếm diện tích lớn nhất Rừng ngập mặn là sinh cảnh quan trọng đối với quần xã sinh vật thuỷ sinh có giá trị kinh tế cao.

Các bãi ngập triều là sinh cảnh quan trọng đối với các loài chim nước. Tuy nhiên, tất cả các loài chim nước ghi nhận ở Thạnh Phú đều là các loài phổ biến và phân bố rộng như Choi choi xám Pluvialis squatarola, Choắt lớn Tringa nebularia và Rẽ cổ xám Calidris alba. Hơn nữa, khu vực Thạnh Phú không nằm trong 3 tiêu chuẩn đánh giá nhanh của BirdLife và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật nhằm xác định các khu đất ngập nước quan trọng đối với bảo tồn đa dạng sinh học ở đồng bằng sông Cửu Long, đó là: xuất hiện số lượng đáng kể các loài bị đe dọa hoặc sẽ bị đe dọa toàn cầu; xuất hiện các loài chỉ thị cho các giá trị của đất ngập nước; và xuất hiện các sinh cảnh có giá trị đa dạng sinh học cao (Buckton et al. 1999).

 

  56 Ấp Canh Điền 363 Bạc Liêu ( Chưa có tài liệu nghiên cứu chính xác)
  57 Hòn Chông 965 Kiên Giang  Hệ thực vật:– Phần đồng Hà Tiên ở huyện Kiên Lương phần lớn là vùng trảng cỏ ngập nước theo mùa, ngoài ra còn có một số vùng rừng Tràm trồng. Ở những vùng tiếp giáp, sinh cảnh tự nhiên đã bị chuyển đổi thành đất canh tác nông nghiệp và đầm tôm. Thực vật ưu thế ở các trảng cỏ tự nhiên còn lại chủ yếu là các loài Năng Eleocharis dulcis, E. ochrostachys E. retroflexa, Hoàng đầu, Đưng , Mua, Lác hến, Cỏ lông bò, Cỏ đuôi voi, Lác Cyperus spp. và Cỏ bàng (Buckton et al. 1999).

– Phần đồng Hà Tiên thuộc thị xã Hà Tiên là một vùng sinh cảnh hỗn hợp gồm các trảng cỏ, các vùng tràm gió tái sinh và đầm Dừa nước. Vùng đồng cỏ là kiểu đồng cỏ tự nhiên ngập nước theo mùa ưu thế bởi quần xã đơn loài chiếm những diện tích lớn của khu vực. Vùng tràm gió tái sinh gồm các cây bụi có chiều cao từ 2 – 6 m. Thành phần thảm thực vật sát đất biến đổi tuỳ thuộc vào điều kiện nước và đất, tuy vậy những loài thường gặp nhất vẫn là Sậy, Mây nước, một số nơi thường gặp là San, Dứa dại và Ráng đại. Hệ thực vật đầm lầy ưu thế bởi Nypa fruticans phân bố ở những vùng nước lợ. Các loài khác thường gặp là Ô rô, Cóc kèn, Mò trắng, Chà là, Mái dầm và Lác (Buckton et al. 1999).

      Hệ động vật:

– Phân loài Sếu đầu đỏ có số lượng cao nhất là 377 cá thể đã được đếm tại khu vực Hòn Chông vào năm 2002 chiếm một tỷ trọng lớn của tổng quần thể trong mùa không sinh sản của phân loài này là 821 cá thể (số liệu riêng của A. Tordoff).  Ngoài ra còn có loài Quắm cánh xanh tại khu vực vào năm 1999 và 2003.

– Các loài chim nước lớn khác đã được ghi nhận trong khu vực đề xuất là Giang sen, Hạc cổ trắng và Bồ nông chân xám (Buckton et al. 1999). KBTTNcó ít nhất là hai chi bọ cánh cứng được xác định là đặc hữu của khu vực (Ferrer in press).

–  Khu hệ ốc cạn của vùng cát-tơ đá vôi cũng có giá trị đa dạng sinh học cao với rất nhiều loài đặc hữu địa phương hoặc đặc hữu vùng (FFI in prep.). Ngoài ra, các vùng núi đá vôi tại đồng Hà Tiên còn là nơi cư trú của ít nhất hai quần thể voọc độc lập với nhau, định loại sơ bộ xác định loài này là Voọc xám

Tổng hợp

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: