Tháp Chăm cổ ở Tây Ninh


Các tháp Chăm là các sản phẩm kiến trúc đặc sắc của người Chăm ngày xưa, mà cho đến nay, sau quá trình dài nghiên cứu, người ta vẫn chưa thể tìm ra được chính xác phương pháp kỹ thuật xây dựng tháp của người Chăm cổ.

Người Chăm (hoặc còn gọi là người Chàm) trước kia từng sinh sống trên dải đất từ miền Trung trở vào – từ vùng Quảng Trị cho đến giáp sông Đồng Nai. Tuy nhiên, theo diễn biến phức tạp của lịch sử, người Chăm dần dần lùi xuống phía Nam và cuối cùng sáp nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ XIX (năm 1832 dưới triều vua Minh Mạng).

Qua bao lần vào Nam ra Bắc trước đây, tôi đã được trông thấy những ngôi tháp Chăm cổ nằm rải rác dọc miền Trung, nhưng lúc đó cũng chưa có ý niệm gì đặc biệt về các ngôi tháp này.
Sau này, khi tìm đến 3 cụm tháp Chăm trên đất Ninh Thuận (cụm tháp Hòa Lai, cụm tháp Poklong GiaRai, cụm tháp Porome’), ban đầu là vì mê mảnh đất nắng gió này – nơi tôi có những người bạn tốt.

Rồi một lần, trong một ngày mưa tầm tã, tôi đến Mỹ Sơn.
Lúc đó, giữa mưa rừng tầm tã, khung cảnh vừa hoang phế, vừa tráng lệ của Thánh địa Mỹ Sơn thực sự làm tôi bị mê hoặc.
Nhưng lần đó là đi bằng xe máy với cả một đoàn đông, từ Sài Gòn ra Huế, rồi mới vòng lại Đà Nẵng, vào Mỹ Sơn rồi về. Dầm trong mưa gió, mới đi sơ sơ được nhóm tháp E, thì cả đám bạn đã ùn ùn kéo ra, lên đường. Vì đi cả nhóm, lịch trình, thời gian đã có cụ thể, nên đành ngậm ngùi tiếp tục hành trình theo đoàn.
Rồi sau đó, bắt đầu bị hình ảnh những ngôi tháp Chăm cổ rêu phong đổ nát ở Mỹ Sơn ám ảnh, đồng thời rút ra “kinh nghiệm” rằng, để đi và chụp, nên tìm cho được người cùng yêu thích đối tượng sẽ chụp, nếu không thì tốt nhất là đi một mình.
Thế là bắt đầu tìm hiểu một cách … nghiêm túc về các tháp Chăm cổ còn hiện diện trên đất Việt, và tiếp tục rong ruổi tìm đến với những ngôi tháp cổ.
Trước đây, khi đi các khu tháp Chăm ở Ninh Thuận, tôi đi một mình, sau lần bất khả kháng phải rời Mỹ Sơn sớm, lại càng … đi một mình. Cứ một mình một xe, xách máy lên đường.
Tuy thế, do công việc, do nhiều lý do khác, vẫn chưa đi hết được các khu tháp Chăm cổ trên đất Việt, nhất là những khu tháp ở Huế, ở Quảng Nam, và thậm chí ở Bình Định cũng chưa đi hết được. Nhưng cũng chẳng việc gì phải vội, cứ đi, rồi trước sau cũng đi hết.

Nghiên cứu về các tháp Chăm cổ thì xưa nay có nhiều các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu đã nghiên cứu rồi. Tài liệu về các nghiên cứu của họ cũng nhiều. Tôi không có tham vọng gì lớn, chỉ định tổng hợp một cách sơ lược về các di tích tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt, với các hình ảnh … xấu xấu lóc cóc tự chụp, các mẩu chuyện trên đường tìm đến các tháp cổ, …

Người ta đã thống kê được hơn hai chục cụm tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt, theo thứ tự từ Bắc xuống Nam, không kể các phế tích, gồm :

1. Nhóm tháp Liễu Cốc – xã Hương Xuân, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế: chỉ còn là phế tích
2. Nhóm tháp Mỹ Khánh – xã Phú Diên, Huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế
3. Nhóm tháp Bằng An – làng Bằng An, xã Điện An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam
4. Nhóm tháp Mỹ Sơn – xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam
5. Nhóm tháp Chiên Đàn – làng Chiên Đàn, xã Tam An, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam
6. Nhóm tháp Khương Mỹ – làng Khương Mỹ, xã Tam Xuân, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam
7. Nhóm tháp Cánh Tiên – xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
8. Nhóm tháp Phú Lốc – xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định
9. Nhóm tháp Thủ Thiện – xã Bình nghi, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
10. Nhóm tháp Dương Long – xã Tây Bình, huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định
11. Nhóm tháp Bánh Ít – thôn Đại Lộc, xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
12. Nhóm tháp Đôi – thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
13. Tháp Nhạn – thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên
14. Nhóm tháp Yang Praong – huyện Ea Sup, tỉnh Đắk Lắk
15. Nhóm tháp Po Nagar – thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hoà
16. Nhóm tháp Hòa Lai – làng Tam Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận
17. Nhóm tháp Po Klong Garai – phường Đô Vinh, thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận
18. Nhóm tháp Po Rome – làng Hậu Sanh, xã Phước Hữu, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận
19. Nhóm tháp Po Đam – làng Tuy Tịnh, xã Phong Phú, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận
20. Nhóm tháp Po Sah Inư – phường Phú Hài, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận
21. Nhóm tháp Bình Thạnh – ấp Bình Phú, xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh
22. Nhóm tháp Chót Mạt – ấp Xóm Mới, xã Tân Phong, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh

Trong các tài liệu đã in về tháp Chăm cổ mà tôi được đọc, không thấy nhắc đến 2 cụm tháp sau cùng ở Tây Ninh, nhưng sau khi cất công tìm tới, hỏi chuyện những người dân quanh đó, và cả người trông tháp, nghe người ta nói rằng đó là tháp của người Chăm chứ không phải của người Khơ me. Mặt khác, hình dáng kết cấu 2 cụm tháp đó, cùng những họa tiết trang trí và đồ thờ trong tháp thì thấy rất giống ở các khu tháp Chăm khác ở miền Trung.
Cả hai cụm tháp này, hồi đầu thế kỷ XX đều đã được nhà khảo cổ Henri Pacmentier đến nghiên cứu (ông người Pháp này là một trong số những người đã đặt dấu chân đến hầu như tất cả các di chỉ khảo cổ của người Chăm trên đất Việt – tất nhiên là trừ những di tích mới phát hiện sau này, như khu tháp Mỹ Khánh ở Huế, được phát hiện năm 2001).

Tuy về lịch sử, lãnh thổ của người Chăm bị co dần từ Bắc xuống Nam, các di tích tháp Chăm cổ, từ Huế vào đến Bình Thuận, nói chung đều có niên đại giảm dần, nhưng vì tôi ở tại Sài Gòn, nên các khu tháp ở Nam Trung bộ lại có điều kiện tìm hiểu trước.
Đành … đi ngược từ Nam ra Bắc.
Hơn nữa, hai khu tháp cổ ở Tây Ninh, cũng có niên đại từ cuối thế kỷ VIII – khá sớm so với các khu tháp ở duyên hải Nam Trung bộ. Vả lại, xét tổng thể, hai khu tháp cổ ở Tây Ninh có vẻ không được đẹp như các khu tháp có cùng niên đại ở khu vực miền Trung.

Về việc phân loại các tháp Chăm cổ, có nhiều ý kiến đưa ra, nhưng cá nhà nghiên cứu phần lớn dựa vào phương án phân loạiphong cách nghệ thuật kiến trúc Chăm của ôngP. Stern người Pháp đưa ra năm 1942. Theo đó, nghệ thuật kiến trúc Chăm phát triển liên tục theo các phong cách kế tiếp nhau, gồm :

– Phong cách cổ (phong cách Mỹ Sơn E1)
– Phong cách Hòa Lai
– Phong cách Đồng Dương
– Phong cách Mỹ Sơn A1
– Phong cách chuyển tiếp giữa Mỹ Sơn A1 và phong cách Bình Định
– Phong cách Bình Định
– Phong cách muộn

 

 

Trên đất Tây Ninh hiện còn lại hai ngôi tháp cổ, ngoài tháp Chót Mạt ở Tân Biên, còn tháp Bình Thạnh ở Trảng Bàng. Cả hai ngôi tháp này đều (được cho là) có niên đại từ thế kỷ thứ VIII. Tháp Bình Thạnh tuy hiện tại cũng đã được trùng tu lại, nhưng nó còn “nguyên vẹn” hơn nhiều so với tháp Chót Mạt.

Tháp Bình Thạnh nằm trên đất Trảng Bàng, nhưng ngay khu vực biên giới với Campuchia, và sát đất huyện Gò Dầu.
Từ Sài Gòn, theo QL22 qua thị trấn Trảng Bàng, đi tiếp đến thị trấn Gò Dầu, rồi tiếp theo QL22 hướng tới cửa khẩu Mộc Bài. Qua cầu Gò Dầu 3,5km – qua tấm biển báo “Chợ đường biên cửa khẩu Mộc Bài 6km” chừng 300m – bên trái đường QL22 có một ngã ba đường nhựa lớn, rẽ vào con đường ấy, đi qua hết xã Phú Lưu (huyện Gò Dầu) thì lại vào đất Trảng Bàng – ấp Bình Hòa. Đúng 7,5km từ ngoài ngã ba vào, là đến giữa ấp Bình Hòa, xã Bình Thạnh. Ở đó có một ngã tư, rẽ tay phải 800m thì hết con đường ấy, nó bắt vào một con đường nhựa lớn tai một ngã ba. Rẽ trái vào con đường nhựa lớn ấy (đường đi Đức Hòa – Long An). Đi tiếp 1,5km là đến tháp, ngay bên phải đường.


Biển báo tháp Bình Thạnh


Nếu vừa đi vừa nhìn tìm, có khi thấy tháp trước khi thấy tấm biển ven đường. Tháp nằm cách đường một khu ruộng.


Tòa tháp cổ nằm giữa khuôn viên có cây cối xanh mướt


Từ đường nhựa vào tháp là con đường thế này


Một khu nghĩa địa ngay trước cổng vào khuôn viên tháp


Khuôn viên khu tháp có cổng, nhưng không khóa, và không cần khóa, vì khuôn viên tháp không có tường bao, chỉ xây các cột trụ.


Các cột trụ bao quanh khuôn viên khu tháp, không có xây tường bao như ở tháp Chót Mạt

Khu tháp cổ Chót Mạt ở huyện Tân Biên – Tây Ninh được xác định xây dựng vào thế kỷ thứ VIII, nếu xét về thời gian, nó được xây dựng cùng thời với các tháp thuộc phong cách cổ.

Dò tìm ở các tài liệu giấy in thì không thấy nói về khu tháp này, nhưng lên mạng thì thấy có nó (và cả khu tháp cổ Bình Thạnh, cũng ở Tây Ninh). Theo báo Tây Ninh Online, tháp Chót mạt và tháp Bình Thạnh cùng được các nhà khảo cổ Pháp tìm thấy năm 1886. Nhưng tháp Bình Thạnh còn được một tòa tháp gần như nguyên vẹn, còn khu tháp Chót Mạt, các tòa tháp hoặc đã sụp đổ hết, hoặc gần sập đổ.

Một ngày cuối tháng tư nắng như dổ lửa, tôi lên đường tìm đến khu tháp cổ Chót Mạt.
Từ Sài Gòn theo QL 22 qua Củ Chi, qua Trảng Bàng, tới thị trấn Gò Dầu, rẽ tay phải theo QL22B đến thị xã Tây Ninh.
Tiếp tục đi theo QL22B về phía cửa khẩu Xa Mát, qua khỏi thị xã Tây Ninh hơn 17km, bên trái đường có biển báo chỉ đường vào tháp.


Biển báo chỉ đường vào di tích, đặt ngay bên trái QL22B, cách Tây Ninh chừng 17,5km


Rẽ trái theo biển chỉ dẫn, đi vào con đường đất, từ xa đã trông thấy ngôi tháp giữa cánh đồng

Con đường đất ấy thực ra mới được mở rộng gần đây, và nó cũng chỉ được chừng vài trăm mét. Nghe nói trước đây đường đất nhỏ hơn nhiều, và mùa mưa thì nếu là người lạ đến, chắc không ai biết đó là con đường, vì nó giống ruộng, toàn trâu đầm giữa … đường. Và tuy mới được cải tạo, mở rộng, nhưng con đường này, nếu vào mùa mưa, chắc ngựa sắt của tôi cũng phải gửi bên ngoài lộ.
Đi chừng 1km trên con đương đất trắng xóa ấy (vẫn liên tục trông thấy tòa tháp giữa cánh đồng), ta phải rẽ trái khoảng 200m nữa mới vào được tháp.


Rẽ trái khoảng 200m để vào tháp


Giờ còn có đường thế này, chứ trước đây là đoạn này không có đường, muốn vào tháp, phải đi bộ trên các bờ ruộng.


Chỗ xe đậu, rẽ phải để vào tháp. Với mặt “đường” thế này, mùa mưa không nên dại … vác ngựa sắt vào tận nơi.


Một rãnh nước cắt ngang con “đường” vào tháp, và cây “cầu” tạm bằng mấy thân gỗ tròn bắc ngang qua.

Trở lại với tháp Chót Mạt, trong khuôn viên khu tháp này, người ta tìm thấy 2 ngôi tháp. Vào thời điểm được phát hiện, một tháp đã sụp đổ hoàn toàn và bị vùi lấp dưới đất, tòa tháp còn lại thì … sắp đổ, chỉ còn lại bức tường phía Tây (phía sau lưng) là còn tương đối nguyên vẹn, và một phần bức tường phía Bắc xiêu vẹo.
Sau đó, người ta tiến hành tu sửa nhỏ một lần vào năm 1938, rồi đến đầu những năm 2000 mới được đầu tư trùng tu, xây tường bao,… để có được ngôi tháp như ta thấy hiện nay.


Ngôi tháp trùng tu xong năm 2004

Theo một tài liệu dạng tờ -rơi mà ông già coi tháp đưa cho tôi (chắc do Sở Văn hóa Tây Ninh in), thì : Toàn bộ khu tháp được xây dựng trên một gò đất (đắp) hình chữ nhật 70mX65m theo hướng Đông – Tây. Gò đất đắp cao hơn mặt ruộng khoảng 0.8 – 1m, phía trước là một bàu nước kích thước 100mX85m (bàu nước này xuất hiện do đất bị đào đi để đắp cái gò nền tháp). Tuy nhiên, ngày nay chẳng còn bàu nước, mà là bát ngát ruộng lúa.


Tháp phía Bắc đã sụp đổ và bị vùi lấp, người ta phải đào bới đất cát phủ, và làm một mái nhà che cho nó


Phế tích đổ nát của tòa tháp phía Bắc

uả thật là tôi chưa đọc thấy dòng nào khẳng định tháp Chót Mạt là tháp Chăm, mà chỉ đọc thấy trong tài liệu của ông già coi tháp có nói “… Hình dáng của tháp gần giống như tháp Chàm hiện có ở các tỉnh miền Trung…”, nghe từ những người dân gặp xung quanh đó nói rằng, đó là tháp Chăm.
Tuy nhiên, tháp cổ Chót Mạt có nhiều điểm giống các tháp Chăm khác ở miền Trung, về hình dáng, kỹ thuật xây dựng, hướng của các vách tháp, … và ngoài ra trong một số di vật tìm thấy, có mấy phiến đá được đục đẽo rất giống các bệ Yoni ở Mỹ Sơn.

Thường các khu đền tháp Chăm cổ đều thờ một (hoặc vài) vị thần, hoặc vị vua nào đó. Trong số các tháp Chăm hiện còn ở miền Trung, có lẽ chỉ có tháp Hòa Lai và tháp Nhạn là không có thờ cúng vị thần nào.
Hai cụm tháp cổ ở Tây Ninh cũng thế, nhưng ít ra ở tháp cổ Bình Thạnh, còn có bộ Linga – Yoni bằng đá khá nguyên vẹn.
Trong tài liệu khảo cổ học năm 1909, H. Parmentier có ghi : “… Chúng tôi không biết đền này thờ vị thần nào, tướng Beylic chỉ tìm thấy ở đây những cái chân và bệ của một tượng đồng; và ông quân trưởng, người đã tiến hành cuộc điều tra đầu tiên thì tìm thấy một cánh tay bằng đồng mà sau đó đã thất lạc…”


Cửa chính tháp quay về hướng Đông – như đại đa số các tháp Chăm

Tuy nhiên, mặt vách phía trước này là mới được làm mới. Thời điểm tháp được phát hiện, mặt trước gần như không còn, chỉ còn lại cái khung cửa, là một phiến đá nằm gác lên hai phiến đá khác đứng dọc (chính là 3 phiến đá tạo ra khung cửa trong ảnh)


Hai cột đá trắng và bức họa tiết bên trên cửa là mới được làm


Bậc đá lên tháp thì cũng còn lại từ ngày xưa


Nền đế tháp – cũ và mới

Tháp cổ Chót Mạt có nền vuông mỗi chiều 5m, vì đã bị mất phần chóp nên không rõ khi xưa cao bao nhiêu, nhưng nay còn chừng 10m.


Chóp tháp đã bị hư hỏng mất

Khi được tìm thấy, chỉ còn bức tường phía Bắc và phía Tây còn một phần đang đứng, nhưng đã xiêu, còn tường phía Đông (mặt trước) và phía Nam gần như đã sụp hết. Sau này người ta buộc phải dùng sắt thép néo chìm bên trong các vách tường cổ khi trùng tu.


Tường phía Bắc còn được hơn một nửa là tường cổ ngày xưa, các chỗ màu sáng là phần mới xây chèn thêm khi trùng tu dịp 2004…


… nhưng đã bị xiêu về phía Tây


Tường phía Tây (mặt sau) – khi H.Parmatier đến đây đầu thế kỷ XX, nó là bức tường còn gần như nguyên vẹn, nhưng sau này cũng bị sụp mất góc phía Nam

Theo những ghi chép của ông H. Parmentier năm 1909 về các nét trang trí ở tháp Chót Mạt lúc đó :

– ” …Tượng phía Đông của mặt Bắc (bên trái nhìn từ ngoài vào vách) hầu như không còn gì, nhưng tượng phía Tây (của mặt Băc) thì được bảo tồn tốt hơn. … tượng thể hiện cái đầu và những cái tay, bàn tay khoanh trước ngực không thể nhìn thấy. Chúng mang một chiếc ngà voi mà mũi nhọn vượt cao hơn bờ vai …“.


Bức tượng trên tường phía Tây của mặt Bắc tháp – sau 101 năm, so với những gì Parmentier ghi chép lại, cũng đã mờ nhạt đi nhiều.

– ” … Trên mặt tường phía Tây (mặt sau tháp) còn hai hình người trong tình trạng bảo tồn tốt. Tượng phía Bắc được thấy ba phần tư, cánh tay phải đưa về trước ngực, cánh tay trái để dọc một “phương trượng” cán dài,… Tượng còn lại cũng nhìn được ba phần tư, hai tay giữ một cây kiếm nhô cao hơn đầu.
Đến nay – 101 năm sau – bức tường phía Tây (phía sau) cua tháp đã bị sụp mảng phía Nam, làm biến mất bức tượng cũ mà H.Parmetier miêu tả là “… Tượng còn lại cũng nhìn được ba phần tư, hai tay giữ một cây kiếm nhô cao hơn đầu.“.


Tượng ở phía Bắc trên mặt tường phía Tây tháp (mặt sau tháp) được H.Parmentier miêu tả lại ở trên


Tượng ở phía Nam của tường Tây, được “phục dựng” lại hồi 2004 theo miêu tả xưa của H.Parmentier

– “… Trên mặt tường phía nam chỉ còn lại một tượng người, nó được nhìn thẳng, tay phải cầm đinh ba, trang phục giống các tượng khác. Chỉ có đồ đội đặc biệt, nhưng gần như không thể nhận biết được…
Tuy nhiên đến khi trùng tu năm 2004 (đúng ra là đợt trùng tu kéo từ năm 2001 đến năm 2004) thì bức tượng ấy cũng đã sụp đổ mất, người ta theo những ghi chép xưa của H.Parmentier mà khắc lại hai bức tượng ở mặt tường phía Nam của tháp.


Tượng người cầm đinh ba, theo ghi chép của H.Parmentier, ở mặt Nam tháp


Tượng còn lại giống bức tượng mặt sau tháp mới phục dựng lại

Xét về niên đại, tháp Chót Mạt được xác định là xây từ thế kỷ thứ VIII, nghĩa là có thể nó thuộc về phong cách Mỹ Sơn E1, nhưng do khi được các nhà khảo cổ tìm thấy lại hồi cuối thế kỷ XIX, nó bị sụp đổ quá nhiều, các hình tượng trên các vách tường cũng bị mờ nhiều, khó có thể nhận rõ.
Tuy nhiên có một chi tiết nhỏ gợi đến Mỹ Sơn E1 : phiến đá dưới cùng của bậc cấp vào tháp (mà ông già coi tháp nói rằng, nó là phiến đá từ ngày xưa) trông hình thù giống với phiến đá ở bậc cấp của đài thờ ở tháp Mỹ Sơn E1 (hiện đang lưu giữ ở Bảo tàng điêu khắc Chăm – Đà Nẵng). Tuy nhiên nó chỉ giống về hình dạng, chứ ở tháp Chót Mạt, phiến đá bậc cấp không có khắc họa hoa văn gì.


Phiến đá dưới cùng của bậc cấp, có hình dạng khá giống với bậc cấp ở đài thờ của tháp Mỹ Sơn E1(cái mỏm nhọn ở giữa và hai cái xoáy hai bên)

Trong lòng tháp không còn gì, ngay cả lớp nền lát gạch cũng là mới lát lại, nhưng trong khuôn viên tháp Chót Mạt lại có nhiều phiến đá khác – những di tích của bệ thờ. Đó là những Yoni, có tới 6 – 7 phiến đá lớn nhỏ hình chữ nhật như vậy. Không thấy còn cái Linga nào cả.


Những phiến đá – di vật tìm thấy trong đống đổ nát của tháp hồi người ta phát hiện được tháp.


Một Yoni, với rãnh thoát nước khi tắm tượng (Linga) mỗi dịp tế lễ

Hiện tại, lãnh công việc trông nom quét dọn tháp Chót Mạt là một ông cụ ngoài 70 tuổi. Nhà ông cụ ngay chỗ ngã ba từ con đường đất lớn bên ngoài rẽ vào tháp. Cứ thấy có khách vào tháp là ông cụ lại lóc cóc leo lên chiếc Chaly cũ kỹ chạy vào, đem theo chai nước suôi và một tờ giới thiệu về tháp. Dĩ nhiên mùa mưa thì đoạn đường từ nhà ông cụ vào tháp chỉ có cách đi bộ, và vì là ngôi nhà gần tháp nhất, nên người ta thường vào trúng nhà ông để gửi xe.


Ông già trông coi tháp, bên căn phòng phía góc phía Tây Bắc khuôn viên tháp – phòng của người bảo vệ.
Ngày nay, tháp cổ Bình Thạnh nằm trong một khuôn viên có cả đình làng Bình Thạnh. Khuôn viên này được giới hạn bằng các cột trụ không xây tường bao, cây cối um tùm mát mẻ.


Tháp cổ và đình Bình Thạnh nằm cạnh nhau


Đình Bình Thạnh nhìn ngoài vào


Từ trong đình nhìn ra


Khuôn viên rợp mát bóng cấy. Tòa tháp cổ nằm cạnh ngôi đình.


Khuôn viên được xác định bằng hàng cột bao quanh, nhưng không có tường bao. Lũ trâu núp nắng dưới tàng cây, cạnh các cột trụ. Trong khuôn viên này, vì thế có nhiều … kít trâu khô.

Cuối thế kỷ XIX, người Pháp tìm thấy lại tháp Bình Thạnh và tháp Chót Mạt. Khi đó, ở Bình Thạnh chỉ còn 1 ngôi tháp. Sau này, trong công tác khảo cổ năm 1994 tại khu vực quanh tháp, người ta mới phát hiện thêm phế tích của 2 ngôi tháp khác sát cạnh ngôi tháp cũ.
3 ngôi tháp nằm trên trục Bắc – Nam. Ngôi tháp còn lại là ngôi tháp phía Nam, ngôi tháp giữa chỉ còn là một đống phế tích gạch (giống ở phế tích Chót Mạt), còn ngôi tháp phía Bắc chỉ còn lại dấu vết một cái hố ở trung tâm tháp, với các vách hố bằng gạch.


Ngôi tháp còn lại đến nay (tháp phía Nam, được trùng tu năm 1998 – 1999)


Phế tích hai ngôi tháp bên cạnh được dựng mái che để bảo quản, nằm ngay sau lưng ngôi đình


Phế tích ngôi tháp giữa


Dấu vết duy nhất của phế tích ngôi tháp Bắc


“Bia đi tích” ở tháp Bình Thạnh


Hình ảnh tổng thể ngôi tháp

Nhìn hình dáng tổng thể, tháp Bình Thạnh trông khá giống với tháp Po Sha Inư ở Phan Thiết, tuy nhiên về cách trang trí trên các cột, vách thân tháp thì lại không giống nhau. Cả hai cụm tháp này đều được cho là có niên đại từ khoảng thế kỷ thứ VIII.
Lại nói về cách xác định niên đại các tháp Chăm cổ, đọc nhiều tài liệu, tôi thấy hình như các nhà khảo cổ xác định niên đại các ngôi tháp bằng phương pháp … quy nạp. Không có một tài liệu nào nói về các phương pháp xác định niên đại bằng khoa học hiện đại cả.
Ở một số khu tháp Chăm cổ, người xưa có để lại các bia ký bằng đá, nên có thể dễ dàng xác định niên đại của khu tháp đó. Còn lại, các nhà nghiên cứu phải phân loại các phong cách kiến trúc nghệ thuật của các tháp Chăm, rồi lại dựa vào phân loại ấy để … xác định niên đại của một ngôi tháp.
Điều đó dẫn đến việc, có một vài ngôi tháp, nếu xác định niên đại theo phong cách, thì lại muộn hơn nhiều nếu so với bia ký tìm được tại khu vực tháp đó.
Nhưng thôi, những việc “lằng nhằng” ấy đề cập sau. Nói về tháp Bình Thạnh, mặc dù được cho là cùng niên đại khoảng thế kỷ thứ VIII như tháp Po Sha Inư, và có hình dáng bên ngoài khá giống nhau, nhưng tháp Po Sha Inư được khẳng định là tháp Chăm (dù sau này tiếp cận được nhiều tài liệu hơn, mới thấy thực tế không đơn giản, có cả những ý kiến nói tháp Po Sha Inư là tháp Khơme, hặc ngay như việc tháp Po Sha Inư thuộc phong cách nào trong các phong cách tháp cổ Chăm cũng vẫn chưa đạt sự đồng thuận trong giới nghiên cứu), thì tháp Bình Thạnh lại không được thừa nhận rõ ràng như vậy.
Dò tìm trên mạng, thấy tháp Bình Thạnh được ghi nhận là tháp Chăm, những người dân bản địa cũng nói đó là tháp Chăm chứ không phải tháp của người Khơme – dù nó nằm trong vành đai biên giới với Campuchia và khu vực ấy hiện cũng không có người Chăm sinh sống. Tuy nhiên, ngay cả tấm bia Di tích của Sở VHTT Tây Ninh dựng lên trước tháp, cũng không nói nó là tháp Chăm hay tháp Khơme.

Trong các tài liệu in trên giấy, thỉnh thoảng cũng có tài liệu nhắc đến, nhưng cực kỳ vắn tắt. Ông Ngô Văn Doanh – một tác giả có nhiều sách về Văn hóa Chăm, tháp cổ Chăm – trong một lần hiếm hoi, có nhắc đến một câu khi nói về tháp Po Sha Inư : “… các tháp Phú Hài có nhiều điểm giống với những ngôi tháp Khơme được phát hiện vào cuối những năm 80 ở vùng Tây Ninh…” ( Ngô Văn Doanh – Tháp cổ Chămpa, sự thật và huyền thoại – NXB Văn hóa thông tin Hà Nội 1994).
Như vậy ông ấy cho rằng tháp Bình Thạnh là tháp Khơme, nhưng nói các tháp ở Tây Ninh được tìm thấy vào những năm 80 (của thế kỷ XX – vì sách đó in năm 1994) thì lại không đúng với thực tế là hai ngôi tháp ở Tây Ninh được tìm thấy lại từ cuối thế kỷ XIX, và một nhà “Chăm học” có tiếng như ông ấy, khó có thể có sự nhầm lẫn như thế.
Trong khi đó, một tác giả khác (có vẻ ít nổi tiếng hơn) cũng nghiê cứu về Chămpa, thì cũng có nhắc đến tháp Bình Thạnh cụ thể : “… tháp Bình Thạnh qua trùng tu đã biến dạng hoàn toàn…” – Nguyến Hồng Sơn – Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chămpa – NXB Đà Nẵng 2008.
Đó là tất cả những gì tôi đọc được trên các tài liệu in, nói về tháp Bình Thạnh. Nên việc “nhét” tháp Chót Mạt và tháp Bình Thạnh vào nhóm tháp Chăm cổ trong topic này, là hoàn toàn do nhận định chủ quan cá nhân của tôi.


Tầng 2 và 3 mặt trước của tháp (quay về hướng Đông)


Tầng trên cùng và chóp tháp bằng đá


Tượng tạc trên khuôn cửa giả ở mặt trước, tầng 2


Hoa văn ô bên phía Bắc mặt trước, tầng 2 – đây là hoa văn cổ xưa, đã mờ, mòn nhiều …


… và được phục chế lại ở ô bên phía đối diện.


Cửa tháp mở về phía Đông


Các hoa văn bên trên cửa chính.


Bức phù điêu bên trên khung cửa chính


Tượng tạc trên ô tường phía Nam của mặt trước tháp – tượng xưa đã bị mòn quá nhiều …


… và được phục chế bên ô đối diện

Trong số các ngôi tháp Chăm cổ còn lại trên đất Việt, có một số tháp/cụm tháp khiến các nhà khoa học gặp rắc rối trong việc xếp phong cách và xác định niên đại. Chủ yếu vì những đặc điểm khá khác biệt của chúng so với các tháp khác (tháp Bằng An, tháp Dương Long, tháp Đôi, …). Điểm chung nhất của các cụm tháp này, là chúng mang nhiều ảnh hưởng của phong cách kiến trúc Khơme.
Điều đó người ta có thể giải thích được do những mối quan hệ lịch sử giữa người Khơme và người Chămpa xưa (cuối thế kỷ XII, đầu thế kỷ XIII, có đến mấy chục năm, Chămpa bị nước Chân Lạp của người Khơme xâm chiếm, biến thành một tỉnh của Chân Lạp)

Hai ngôi tháp ở Tây Ninh lại nằm ngay khu vực biên giới Campuchia, có thể vào thời điểm (được cho là) tháp được xây dựng, thậm chí đất ấy là đất của người Khơme, thì việc bị ảnh hưởng phong cách Khơme là chuyện bình thường.
Ơ tháp Bình Thạnh, khung cửa chính nhô ra ngắn, không dài ra như các tháp phong cách Hòa Lai ở đầu thế kỷ IX, các khung của giả cũng vậy. Vòm trên cửa chính và các cửa giả cũng không tạo thành vòm hình mũi giáo như các tháp Chăm ở miền Trung.
Nếu coi niên đại của nó khoảng thế kỷ VIII, thì có thể nó nằm trong phong cách cổ (Mỹ Sơn E1), nhưng rủi một điều, cho tới trước khi tìm ra tháp Mỹ Khánh bị vùi trong cát ở Huế, thì các nhà khoa học chỉ được biết về phong cách cổ qua lời miêu tả, hoặc các hình vẽ của các nhà khảo cổ Pháp hồi đầu thế kỷ XX. Nhưng sau này phát hiện ra tháp Mỹ Khánh, vòm cửa của nó cũng được vuốt nhọn lên chứ không như ở tháp Bình Thạnh. Tuy nhiên các hoa văn, và cách tạc hoa văn, tượng trực tiếp lên gạch trên tháp, lại mang đặc trưng Chămpa.

(Tất nhiên, nếu thực sự hai ngôi tháp ở Tây Ninh là tháp Khơme thì các “lý luận” trên là chả có giá trị gì . Lạ một điều là, ở Tây Ninh, dân sở tại đều nói 2 ngôi tháp này là tháp Chăm, còn ở tháp Hòa Lai, ngày trước dân ở đó vẫn gọi đó là tháp của Khơme)

Nhưng dù sao, ở Tháp Bình Thạnh còn “khá” hơn tháp Chót Mạt, vì trong lòng tháp vẫn còn đồ thờ là bộ Linga – Yoni bằng đá, được đặt trên một bệ đá (cái chân bệ bằng đá này, có vẻ sau khi trùng tu, người ta cho vào quá), và mặt tường trong lòng tháp có các ô khám nhỏ lõm vào để làm nơi đặt đèn nến.


Bộ Linga – Yoni được đặt trên một chân bệ bằng đá. Chân bệ trông khá … hiện đại


Linga – Yoni bằng đá. Yoni có rãnh thoát nước


Linga đá. Bộ Linga – Yoni đặt theo đúng nguyên tắc giống các tháp Chăm khác


Các ô khám nhỏ được khoét lõm vào vách tường trong lòng tháp


Từ của tháp nhìn ra phía trước là một con đường được lát gạch sau này, rợp bóng cây, xa xa là khoảng ruộng, rồi đến con đường nhựa.

Hết hai ngôi tháp cổ ở Tây Ninh – mà việc coi chúng là tháp Chăm chỉ là ý kiến cá nhân – giờ sang đến các tháp Chăm cổ “truyền thống” đã được ghi nhận từ lâu nay ở miền Trung và Nam Trung bộ.

(Rất) Sơ lược về lịch sử Chămpa.

Mặc dù di sản văn hóa Chămpa vẫn đang hiện diện rất nhiều trên đất Việt, nhưng quốc gia cổ Chămpa thì đã không còn tồn tại nữa. Lịch sử vương quốc cổ này, được khôi phục lại chỉ dựa trên mấy nguồn :
– Các “văn bản” còn lại bằng tiếng Phạn và tiếng Chăm trên các bia đá (bia ký)
– Dựa trên các ghi chép sử của Trung Quốc và Việt Nam xưa.
– Một phần nữa là dựa trên các truyền thuyết còn lưu truyền đến nay (việc này tính chính xác thấp, vì đã được truyền thuyết hóa)

Người ta cho rằng, người dân Chămpa có nguồn gốc Malayo – Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh, khoảng thế kỷ I, II Trước Công nguyên.
Theo chiều dài lịch sử, vương quốc của người Chămpa được gọi bằng vài cái tên, theo từng thời kỳ :
Nước Lâm Ấp (sử Trung Quốc, từ năm 192 Công nguyên, đến năm 756)
Nước Hoàn Vương (sử Trung Quốc, từ khoảng năm 758 đến khoảng năm 875)
Nước Chiêm Thành (sử Trung Quốc, từ năm 877)

Cho đến nay, giữa các nhà nghiên cứu dường như vẫn tồn tại hai giả thuyết về thể chế chính trị của vương quốc cổ Chămpa.
Họ chỉ thống nhất được một điều là, đất Chămpa gồm các địa khu : Amaravati, Indrapura, Vijaya, KauthHara, Panduranga trải từ Bắc xuống Nam.

Một thuyết cho rằng, Chămpa là một liên bang gồm nhiều tiểu quốc, có chính quyền trung ương, nhưng mỗi tiểu vương vẫn toàn quyền cai trị tiểu quốc của mình. Họ cho rằng, việc ở mỗi một giai đoạn khác nhau, các tài liệu bia ký lại xuất hiện dày đặc ở mỗi địa khu khác nhau, chứng tỏ giai đoạn đó, thủ đô Chămpa nằm tại địa khu đó (ví dụ, thế kỷ X, tài liệu về Indrapura rất phong phú, thế kỷ XII, tài liệu về Vijaya rất phong phú, còn thế kỷ XV về sau, tài liệu về Panduranga rất phong phú)

Một thuyết khác thì cho rằng, Chămpa chưa bao giờ là một quốc gia thống nhất, và không coi việc giàu tài liệu lịch sử về một vùng đất trong một gia đoạn lịch sử nào đó là đủ cơ sở để coi vùng đất đó là thủ đô của quốc gia thống nhất.

Vị trí các địa khu của Chămpa cổ so với ngày nay :
Amaravati : là vùng Bắc Chămpa, từ Quảng Ngãi, Quảng Nam trở lên
Indrapura : Vùng Thăng Bình – Quảng Nam
Vijaya : Vùng Bình Định. Vào thời điểm mở rộng nhất, bao gồm đến Phú Yên và Quảng Nam
KauthHara : vùng Phú Yên, Khánh Hòa
Panduranga : Vùng Ninh Thuận, Bình Thuận
(theo nguoicham.com)

Một số tài liệu khác thì cho rằng Chămpa ban đầu chỉ gồm 3 địa khu :
– Phía Bắc là Amaravati
– Ở giữa là Vijaya
– Phía Nam là Panduranga
Sau đó địa khu Panduranga tách ra thành KauthHara ở phía Bắc và Panduranga ở phía Nam

Về các vương triều trong lịch sử Chămpa :
– Cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ VIII : vương triều Gangaraja* – ở khu vực Bắc Chămpa (thời kỳ Lâm Ấp)
– Giữa thế kỷ VIII đến nửa cuối thế kỷ IX : vương triều Panduranga – ở phía Nam Chămpa (thời kỳ Hoàn Vương)
– Nửa cuối thế kỷ IX đến cuối thế kỷ X : vương triều Indrapura, với kinh thành Indrapura (Đồng Dương)
– Từ thế kỷ X đến khoảng giữa thế kỷ XV : vương triều Vijaya với kinh thành Vijaya (Chà Bàn)
– Nửa sau thế kỷ XV đến 1832 : tạm gọi là vương triều Panduranga, nhưng thực ra sau cuộc chiến bại của người Chiêm Thành trước quân Đại Việt của vua Lê Thánh Tông (năm 1470), lãnh thổ Chiêm Thành chỉ còn một phần đất Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Sau đó các chúa Nguyễn cũng liên tục Nam tiến, và người Chăm bị đẩy lùi dần về phía Nam và dần sáp nhập vào với Đại Việt.

(*) : Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Chămpa – NXB Đà Nẵng 2008

Một phản hồi

  1. Rất cảm ơn Tác giả về bài viết rất chi tiết.Chả là cháu cũng có chút máu đi chụp ảnh những tháp cổ của chăm pa.Đa số đã đi hết các tháp cổ,lần này đi đa đến được tháp cổ Liễu Cốc,tuy đường vào vất vả khó khăn,nhưng cháu cũng đã đến được.Giờ cháu lên đường tìm nốt 3 tháp còn lại là 2 tháp ở Tây Ninh và 1 tháp ở Buân Mê Thuât.Giờ cháu đang oqr đất Con Tum.Cháu lại nghe nói có một thap ở Bạc Liêu.Mà qua tài liệu không thây bác nhác đến.Nên cháu đang phân vân không biết có nên đi không?

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: