Vĩnh Long qua các thời kỳ lịch sử


280 năm thành lập dinh Long Hồ (1732-2012)

 

I. Sự hình thành và phát triển dinh Long Hồ- đơn vị hành chính đầu tiên của tỉnh Vĩnh Long

1. Quá trình hình thành dinh Long Hồ

Nam Bộ nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng, vốn có bề dày lịch sử lâu đời, trong các thư tịch cổ vẫn còn ghi chép lại những tư liệu về vùng đất này. Từ dinh Long Hồ xưa kia đến Vĩnh Long ngày nay là một thời kỳ lịch sử oai hùng với bao mồ hôi, nước mắt cùng những chiến công hiển hách của nhiều thế hệ tạo nên giá trị vật chất và tinh thần của người dân Vĩnh Long từ khi đến vùng đất này khai hoang lập làng cho đến ngày nay

Từ thế kỷ XVII, chế độ phong kiến nước ta và các nước lân cận trong khu vực Trung Hoa, Chân Lạp lâm vào khủng hoảng, xã hội rơi vào cảnh rối ren, loạn lạc đã đẩy nông dân vào cảnh bần cùng, buộc họ phải bỏ quê hương đi tìm vùng đất mới yên bình để sinh sống. Và, những nông dân bị bần cùng ấy đã đến với Đồng bằng sông Cửu Long, cùng chung sống, cùng khai phá vùng đất này.

Từ đó, Đồng bằng sông Cửu Long đã đón nhận từng đoàn người đến sinh sống và làm ăn. Người Việt đến vùng đất này từ trước thế kỷ XVII, tiếp theo là người Khmer rồi người Hoa… Trong đó, dân cư người Việt chiếm đa số nên có ưu thế lớn và sớm khẳng định ví trí hàng đầu của mình trong việc khai phá vùng đất mới. Đó là cơ sở khách quan để Chúa Nguyễn chủ động triển khai tổ chức di dân người Việt vào Nam Bộ. Đồng thời, tạo điều kiện cho một số người Hoa đến cộng cư với người Việt, người Khmer trên vùng đất đang được khai phá. Mặt khác, Chúa Nguyễn cũng tiến hành thiết lập bộ máy hành chính ở đây.

Sau khi đặt phủ Gia Định, dựng dinh Trấn Biên và dinh Phiên Trấn (1698), Chúa Nguyễn Phúc Trú (1725- 1738) thiết lập ở phía Nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ (1732). Đây là sự kiện có ý nghĩa vô cùng to lớn. Lần đầu tiên trong lịch sử, tên Long Hồ dinh được xuất hiện. Đó là một sự kiện quan trọng, một bước ngoặt trong tiến trình lịch sử vùng đất thuộc lưu vực sông Tiền. Dinh Long Hồ sau khi được thành lập đã từng bước ổn định và phát triển.

Lỵ sở của dinh Long Hồ lúc đầu đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là đình Cái Bè (huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang hiện nay). Năm 1757 chuyển đến xứ Tầm Bào (nay thuộc địa phận TP Vĩnh Long).

2. Từ dinh Long Hồ đến tỉnh Vĩnh Long

Ngay từ khi mới thành lập, dinh Long Hồ và vùng phụ cận (địa phận Vĩnh Long ngày nay) luôn ở vị trí đặc biệt quan trọng. Dinh Long Hồ là thủ phủ của toàn vùng đất phía Nam sông Tiền đương thời; đồng thời là đại bản doanh của quân đội Chúa Nguyễn làm nhiệm vụ phòng thủ đất nước, giữ vị trí, vai trò trọng yếu trong sự nghiệp bảo vệ ổn định và phát triển đất nước.

Đến cuối thế kỷ XVIII, dinh Long Hồ tập trung được nhiều thế mạnh: đất đai màu mỡ, nguồn lao động được bổ sung, tổ chức quản lý hành chính được kiện toàn, trật tự xã hội được thiết lập, an ninh quốc phòng được chuẩn bị chu đáo… Từ đây, dinh Long Hồ ngày càng thể hiện vị trí chiến lược quan trọng về các mặt kinh tế, văn hóa, quân sự.

Quá trình phát triển dinh Long Hồ luôn chịu chi phối bởi diễn biến lịch sử nên có nhiều thay đổi. Cuối năm 1779, Chúa Nguyễn Ánh quyết định thay tên gọi dinh Long Hồ bằng tên gọi mới là dinh Hoằng Trấn và dời lỵ sở về bãi Bà Lúa (thuộc huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh ngày nay). Năm 1780, Chúa Nguyễn Ánh lại dời lỵ sở về xứ Tầm Bào và đổi tên thành Vĩnh Trấn. Sau khi Chúa Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế (lấy hiệu là Gia Long), đến năm 1806 dinh Vĩnh Trấn được gọi là trấn Vĩnh Thanh. Ngày 22 tháng 2 năm Gia Long thứ 12 (1813) triều đình sai Lưu thủ Lưu Phước Tường đắp thành trấn Vĩnh Thanh trên đất 2 ấp Bình An và Trường Xuân, thôn Long Hồ, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn.

Đến năm 1832, vua Minh Mạng cắt 2 huyện Vĩnh Định và Vĩnh An của trấn Vĩnh Thanh vào đạo Châu Đốc thuộc trấn Hà Tiên, đổi thành các tỉnh. Vùng đất Nam Bộ chia thành 6 tỉnh (gọi là Nam kỳ lục tỉnh). Trấn Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long.

Từ năm 1867 đến năm 1900, người Pháp chia Vĩnh Long là một trong ba hạt của miền Tây Nam Kỳ (Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh). Từ năm 1900 đến năm 1945, Vĩnh Long và 1 trong 21 tỉnh của Nam Kỳ.

Ngày 27/6/1951, theo Nghị định số 174/NĐ-51 của Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ, hai tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Vĩnh Trà thuộc Phân liên khu miền Tây. Đến tháng 10 năm 1954, Xứ ủy Nam Bộ và Liên Tỉnh ủy miền Tây họp tại Chắc Băng, Cà Mau, quyết định chia lại địa bàn các tỉnh. Trong đó, tỉnh Vĩnh Trà được tách ra thành 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh. Từ năm 1976, 2 tỉnh Vĩnh Long- Trà Vinh sáp nhập thành tỉnh Cửu Long. Từ ngày 5/5/1992, tỉnh Cửu Long lại được chia tách thành 2 tỉnh Vĩnh Long- Trà Vinh cho đến nay.

Sự thành lập dinh Long Hồ (1732) đã trở thành mốc lịch sử đặc biệt quan trọng đối với tiến trình lịch sử vùng đất phía Nam sông Tiền nói chung và lịch sử tỉnh Vĩnh Long nói riêng. Như vậy, tỉnh Vĩnh Long được khai sinh với tên gọi đầu tiên là dinh Long Hồ.

Thời chúa Nguyễn, dinh Long Hồ bao gồm các phần đất tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang, Bến Tre và Trà Vinh.

Trước 1948, huyện Chợ Lách (Bến Tre) thuộc tỉnh Vĩnh Long, sau đó giao cho Bến Tre.

Đến năm 1957- 1965, huyện Chợ Lách giao về cho Vĩnh Long.

Năm 1966, tách huyện Chợ Lách về Bến Tre (theo sự phân chia địa giới hành chính của chính quyền Sài Gòn thì huyện Chợ Lách vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Long).

Trước năm 1948, hai huyện Cầu Kè và Trà Ôn thuộc tỉnh Cần Thơ; từ năm 1948- 1950, hai huyện này thuộc tỉnh Vĩnh Long; từ năm 1951- 1954 thuộc tỉnh Vĩnh Trà; từ năm 1954- 1971, thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ năm 1971- 1975, Trà Ôn thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Từ năm 1957- 1974, các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, Sa Đéc nhập vào Vĩnh Long.

Từ 1957 về trước, huyện Vũng Liêm thuộc tỉnh Vĩnh Long; từ giữa năm 1957 đến 1971 thuộc tỉnh Trà Vinh. Từ năm 1972 đến nay thuộc tỉnh Vĩnh Long.

Trải qua quá trình phát triển lâu dài Vĩnh Long đã xây dựng nên những giá trị văn hóa vật chất tinh thần to lớn. Có được một Vĩnh Long giàu đẹp, thiên thời, địa lợi nhân hòa như ngày nay là kết quả của bao thế hệ đã đổ mồ hôi, công sức, trí tuệ và máu xương chống chọi với thiên nhiên, với đói nghèo, với ngoại xâm, để bảo vệ và xây dựng quê hương, để trường tồn và phát triển nhanh, bền vững.

Hiện nay, Vĩnh Long là tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, nằm giữa hai nhánh của sông Tiền và sông Hậu, có diện tích tự nhiên là 1.487,37km2. Phía Bắc giáp với tỉnh Tiền Giang; phía Đông giáp tỉnh Bến Tre; phía Đông- Nam giáp tỉnh Trà Vinh; phía Tây giáp TP Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây- Bắc giáp với tỉnh Đồng Tháp.

Là một tỉnh nằm giữa đồng bằng, không có rừng, không có núi và cũng không có biển, chỉ có đồng ruộng và vườn cây ăn trái, nước ngọt quanh năm, có hàm lượng phù sa lớn bồi đắp ruộng đồng luôn màu mỡ, trù phú. Vĩnh Long có nhiều sông rạch chằng chịt liên thông với nhau tạo nên một hệ thống giao thông thủy thuận lợi cho việc đi lại chuyên chở hàng hóa. Hiện nay, sông Tiền và sông Hậu đã được nối liền bằng hai cây cầu dây văng Mỹ Thuận và Cần Thơ nối liền Quốc lộ 1A đi qua tỉnh Vĩnh Long. Sông Mang Thít xuyên qua tỉnh, nối liền giữa sông Tiền và sông Hậu, là đường giao thông thủy huyết mạch giữa miền Đông và miền Tây Nam Bộ.

Dân cư Vĩnh Long là một cộng đồng đa dân tộc, mà truyền thống và sự giao lưu văn hóa là nguồn nội lực tạo ra tiềm năng to lớn cho tỉnh Vĩnh Long trên con đường phát triển.

Nói tóm lại, Vĩnh Long là một tỉnh được thiết lập đơn vị hành chính sớm nhất ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dinh Long Hồ xưa là thủ phủ của vùng đất miền Tây. Vì vậy, trở thành trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, đồng thời là căn cứ quân sự trấn giữ phía Nam của Chúa Nguyễn và triều đình nhà Nguyễn chống giặc ngoại xâm, giữ yên bờ cõi. Cũng là nơi Chúa Nguyễn đặt bộ máy cai trị sớm nhất của vùng đất này.

Vùng đất rộng lớn của dinh Long Hồ từ khi mới thành lập (1732) cho đến nay, trải qua quá trình lịch sử lâu dài, đã nhiều lần thay đổi địa giới hành chính và tên gọi. Sự thay đổi địa giới hành chính là do yêu cầu quản lý hành chính của các triều đại. Trong thời gian nhân dân ta tiến hành hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước và sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc cũng có sự thay đổi địa giới và tên gọi. Chính vì vậy đã để lại trong lịch sử có sự chồng lấn trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn, nên về mặt lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân Vĩnh Long không thể tách rời với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre, Đồng Tháp, Cần Thơ, là những tỉnh vừa có mối quan hệ lịch sử về mặt địa giới hành chính (tách, nhập) vừa có mối quan hệ về thành tích kháng chiến và những nhân vật lịch sử.

 

 

I. Chặng đường lịch sử vẻ vang 280 năm thành lập Long Hồ dinh đến Vĩnh Long ngày nay (1732- 2012)

1. Dinh Long Hồ dưới các triều đại phong kiến

Sau khi dinh Long Hồ được thành lập, dưới thời Chúa Nguyễn vùng đất này lấy khai hoang làm hoạt động hàng đầu, sản xuất nông nghiệp giữ trung tâm trong các hoạt động kinh tế. Sản lượng lúa của dinh Long Hồ vào thời kỳ này không chỉ thỏa mãn nhu cầu đời sống của dân cư tại chỗ mà còn dư thừa cung cấp cho miền Trung và đưa vào kho dự trữ của quốc gia hoặc trở thành hàng hóa trao đổi với các nơi khác. Hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa ngày càng thêm phát triển. Mặt khác, Chúa Nguyễn còn thiết lập quanh lỵ sở và trên địa bàn dinh Long Hồ nhiều điểm đồn trú của binh lính nhằm làm nhiệm vụ phòng thủ đất nước. Nhờ sự quan tâm của Chúa Nguyễn nên dinh Long Hồ thời kỳ 1758 đến 1771 là thời kỳ bình yên.


Đến những năm cuối thế kỷ XVIII, sản xuất lương thực đã đạt được bước tiến quan trọng, dân không còn bị đói, giá lúa ở thị trường tương đối thấp. Chúa Nguyễn Ánh cũng tăng cường kiểm soát, phát triển thương mại, chú ý đến ngoại thương. Chợ Long Hồ là chợ trung tâm được mở rộng quy mô.

Đến tháng 7/1802, chúa Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long, lên ngôi Hoàng đế (lấy hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân- Huế) và tiến hành sắp xếp lại các đơn vị hành chính trên toàn quốc.

Đến 22/2/1813 (năm Gia Long thứ 12), thành trì và công thự được xây dựng tại lỵ sở trấn Vĩnh Thanh trên phần đất thuộc thôn An Bình và thôn Trường Xuân của làng Long Hồ (nay Phường 1, TP Vĩnh Long) còn được gọi là thành Long Hồ. Thành Long Hồ có 5 cầu bắc qua hào lũy để vào cửa thành là cửa Đông, cửa Tây, cửa Bắc, cửa Đông Nam, của Tây Nam.

Khi vua Gia Long mất, vua Minh Mạng nối ngôi và tiếp tục tiến hành cải cách hành chính, trấn Vĩnh Thanh có nhiều thay đổi. Năm 1932, toàn bộ vùng đất Nam Bộ được chia thành 6 tỉnh. Từ đây, trấn Vĩnh Thanh được gọi là tỉnh Vĩnh Long. Dưới triều các vua Minh Mạng- Thiệu Trị- Tự Đức, tổ chức hành chính đã được kiện toàn; địa giới hành chính của tỉnh Vĩnh Long được phân định rạch ròi và quản lý chặt chẽ. Về kinh tế, Vĩnh Long có nhiều đồn điền và nhiều chợ nhất Nam Kỳ lục tỉnh và phôi thai nền kinh tế có cơ cấu: nông- thương- thủ công nghiệp. Về xã hội, dân số tăng nhanh, tầng lớp địa chủ phát triển. Về giáo dục đã hình thành học xá, nền tảng của nền giáo dục và tinh thần hiếu học của người dân Vĩnh Long. Đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần có những chuyển biến đáng ghi nhận. Nhưng cũng từ đây, tình hình xã hội ngày càng phức tạp, xuất hiện mâu thuẫn ngày càng rõ nét hơn.

Ngày 20 tháng 5 năm 1862, thực dân Pháp tấn công Vĩnh Long với 11 tàu chiến và hơn 1.000 binh lính. Thành Vĩnh Long thất thủ. Triều đình nhà Nguyễn ký Hiệp ước nhường 3 tỉnh miền Đông cho Pháp.

Ngày 20 tháng 7 năm 1867, quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long lần thứ hai; sau đó là An Giang, Hà Tiên. Toàn bộ Nam Kỳ lục tỉnh trở thành thuộc địa của Pháp.

2. Truyền thống văn hóa, truyền thống yêu nước và truyền thống cách mạng của các tầng lớp nhân dân ở Vĩnh Long

Vĩnh Long là vùng đất cộng cư của nhiều dân tộc: Việt, Khmer, Hoa… Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng nhưng đồng thời có sự giao thoa, tiếp biến, hài hòa, bổ sung cho nhau, tạo nên nét văn hóa đặc trưng của vùng đồng bằng sông nước; làm cho đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư ở đây ngày thêm phong phú, đa dạng. Các dân tộc đoàn kết, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, cùng sống chung, cùng khai phá và gìn giữ mảnh đất này. Đó là nét văn hóa được lưu truyền từ đời này sang đời khác, được gìn giữ và đã trở thành truyền thống của nhân dân từ bao đời nay.

Yêu nước là truyền thống quý báu của người dân Vĩnh Long. Từ những ngày đầu khai hoang, lập ấp, chống quân Xiêm La, cho đến thời kỳ đấu tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, nhờ phát huy tinh thần yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã lập nên những chiến công, góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc.

Trước khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhiều cuộc nổi dậy của nông dân chống lại bọn cường hào ác bá, chống lại triều đình phong kiến áp bức của nhà Nguyễn và thực dân Pháp đã diễn ra nhiều nơi.

Cửa Hữu xưa…

… và nay


Khi thực dân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây, phong trào nông dân, sĩ phu yêu nước nhất tề đứng lên chống Pháp ở nhiều địa phương trong tỉnh. Từ năm 1867, Phan Tôn, Phan Liêm, Lê Công Thành, Phạm Văn Đồng, Lâm Lễ, Âu Dương Lân, Nguyễn Xuân Phụng, Đoàn Công Bửu, đô đốc Lê Cẩn và phó tướng Nguyễn Giao, Lê Tấn Kế, Trần Bình lần lượt lãnh đạo các phong trào chống Pháp ở Vĩnh Long, điển hình là trận phục kích do đô đốc Lê Cẩn và phó tướng Nguyễn Giao tổ chức tại Cầu Vông (Vũng Liêm) giết chết tên chánh tham biện Pháp Salicetty và một số binh lính của chúng (1872).

Sau các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương bị thất bại và các phong trào khởi nghĩa vũ trang khắp nơi lắng xuống thì ở Vĩnh Long vào đầu thế kỷ XX xuất hiện nhiều tổ chức yêu nước như phong trào “Duy Tân”, phong trào “Đông Du cầu học”… được nhân dân trong tỉnh hưởng ứng tích cực. Đồng thời với các hoạt động trên, nhiều tổ chức yêu nước chống Pháp khác cũng được thành lập ở Vĩnh Long theo chủ trương của các tổ chức: “Phục Việt”, “Quốc dân đảng”, “Thiên địa hội”…, tiêu biểu là phong trào đi theo con đường cách mạng vô sản tháng Mười Nga. Đầu năm 1928, Chi bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập tại ngã tư Long Hồ, kế đó là Vĩnh Xuân, Ba Chùa (Trà Ôn), Mỹ Lộc (Tam Bình).

Tháng 3 năm 1930, ông Châu Văn Liêm, Ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ được cử đến Vĩnh Long, tổ chức hội nghị tại ngã tư Long Hồ triển khai việc chuyển đổi các chi bộ An Nam Cộng sản Đảng ở Vĩnh Long thành các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Các chi bộ Đảng Cộng sản (tiền thân của Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long) được thành lập vào thời gian này. Các cơ sở Đảng Cộng sản vừa mới ra đời đã nhanh chóng tập hợp và lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh. Tháng 6 năm 1930, trên 2.000 quần chúng của 3 quận Châu Thành, Tam Bình, Vũng Liêm tập hợp kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động (1 tháng 5), sau đó kéo vào tỉnh lỵ Vĩnh Long đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ…

Đến cuối năm 1930, có thêm các chi bộ Mỹ Hưng, An Hưng, Phú Lộc Cựu, Phú Lộc Đồng (Tam Bình),… Trên cơ sở đó, tháng 2 năm 1931, Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Vĩnh Long được thành lập.

Sau khi được thành lập, Tỉnh ủy Vĩnh Long đã lãnh đạo các chi bộ tập hợp nhân dân vào các hội tương tế, các nông hội đỏ,… nhằm đoàn kết nông dân và xây dựng khối liên minh công nông; giác ngộ, hướng dẫn và tổ chức quần chúng đấu tranh đòi quyền lợi kinh tế trước mắt, chống sưu thuế, thu tô quá nặng, kết hợp với khẩu hiệu chống thực dân, phong kiến với nhiều hình thức như tuyên truyền, mít tinh, rải truyền đơn,..

Dưới sự tuyên truyền vận động, giáo dục và lãnh đạo của Đảng, quần chúng được giác ngộ cách mạng, tinh thần ngày được nâng cao. Nhiều cuộc đấu tranh, cao trào cách mạng liên tiếp nổ ra ở Vĩnh Long.

Ngày 23 tháng 11 năm 1940, thực hiện lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Vĩnh Long, nhân dân nhiều nơi trong tỉnh như: Vũng Liêm, Tam Bình, Cái Ngang… đã nổi dậy cướp chính quyền. Tuy cuộc khởi nghĩa chưa đạt yêu cầu đặt ra, bị địch đàn áp dã man nhưng có ý nghĩa chính trị rất to lớn, nó là nguồn cổ vũ cho sức mạnh quật khởi và tinh thần chiến đấu ngoan cường của những đảng viên Đảng Cộng sản và quần chúng cách mạng. Đó thực sự là cuộc tổng diễn tập, bằng bạo lực cách mạng, tiền đề của cuộc tổng khởi nghĩa giành được chính quyền về tay nhân dân vào ngày 25 tháng 8 năm 1945.

Thực dân Pháp trở lại xâm chiếm nước ta lần thứ hai. Sau khi phá vỡ được phòng tuyến phía Nam Sài Gòn, quân Pháp tiến đánh Tân An, Mỹ Tho và Gò Công, vượt qua sông Tiền đánh chiếm các tỉnh miền Tây.

Sáng ngày 29 tháng 10 năm 1945, chúng đổ bộ lên tỉnh lỵ Vĩnh Long. Quân và dân Vĩnh Long đánh trả quyết liệt, gần một tuần lễ chúng mới chiếm được. Để bảo tồn lực lượng, ta vừa chống địch, vừa rút lui về nông thôn để củng cố, xây dựng lực lượng cùng cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp giành thắng lợi.

Đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, nhảy vào thay thế, dựng nên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, phá hoại hiệp định Genève. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, nhân dân Vĩnh Long một lần nữa cùng với nhân dân miền Nam tiếp tục kháng chiến chống Mỹ cứu nước và kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh đại thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam và ngày 30 tháng 4 năm 1975.

3. Những dấu son trong xây dựng hệ thống chính trị của tỉnh Vĩnh Long từ năm 1975 đến nay

Thực hiện Nghị quyết số 245-NQ/TW, ngày 20/9/1975 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 19/NQ, ngày 20/12/1975 của Bộ Chính trị về việc điều chỉnh hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Tháng 2/1976, Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Nghị định về việc giải thể khu, hợp nhất tỉnh ở miền Nam. Theo Nghị định này ở miền Nam có 21 đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh được sáp nhập lại thành tỉnh Cửu Long. Ủy ban Nhân dân lâm thời tỉnh Cửu Long được thành lập vào đầu năm 1976 do đồng chí Nguyễn Ký Ức làm Chủ tịch; Tỉnh ủy lâm thời Cửu Long, do đồng chí Hồ Nam làm Bí thư.

Bên cạnh việc xây dựng hệ thống chính quyền các cấp, công tác xây dựng Đảng được chú trọng, từng bước nâng dần trình độ Đảng lãnh đạo ngang tầm với tình hình mới.

 

A. Giai đoạn tỉnh Cửu Long

1. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ I (1976- 1980)

Được diễn ra gồm 2 vòng: Vòng 1 khai mạc vào ngày 26/11/1976; vòng 2 từ 18/3- 8/4/1976, có 296 đại biểu dự, thay mặt cho 10.000 đảng viên trong toàn tỉnh. Đại hội đã bầu ra 35 ủy viên chính thức và 3 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đáng (Năm Trung) được bầu là Bí thư, đồng chí Nguyễn Ký Ức, Trịnh Văn Lâu được bầu làm Phó Bí thư.

Đại hội đề ra mục tiêu chủ yếu là: “…Tập trung cao độ lực lượng toàn tỉnh thực hiện kế hoạch 5 năm (…) Ra sức khôi phục và phát triển sản xuất nông nghiệp đi đôi với phát triển công nghiệp nhẹ, tiểu thủ công nghiệp, đẩy mạnh công tác y tế, giáo dục, thực hiện tốt chính sách thương binh liệt sĩ, giải quyết triệt để các tệ nạn văn hóa xã hội cũ, xây dựng nếp sống mới, con người mới. Cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh (…) đẩy mạnh phong trào làm ăn tập thể (…) tạo điều kiện đi nhanh lên hợp tác hóa nông nghiệp…”.

2. Đại hội Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ II (1980- 1983)

Tiến hành từ ngày 3/1- 9/1/1980; có gần 400 đại biểu thay mặt cho hơn 11.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ về dự Đại hội đã bầu Ban chấp hành gồm 43 đồng chí và 2 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đáng- ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng- tái đắc cử Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Ký Ức và đồng chí Trịnh Văn Lâu tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản (…) là vừa phải đẩy mạnh sản xuất, bảo đảm đời sống nhân dân, (…) ra sức đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực; đồng thời phải xây dựng một bước cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội…”.

3. Đại hội Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ III (1983- 1985)

Đại hội triệu tập 422 đại biểu, đại diện cho hơn 12.000 đảng viên trong toàn tỉnh về dự. Đại hội diễn ra hai vòng. Vòng 1 khai mạc ngày 29/3 và bế mạc ngày 1/4/1983. Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Tỉnh ủy khóa III gồm 43 đồng chí là ủy viên chính thức và 2 đồng chí là ủy viên dự khuyết. Đồng chí Nguyễn Đáng (Năm Trung) – Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng- tiếp tục được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Nguyễn Ký Ức và đồng chí Trịnh Văn Lâu tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư.

Đại hội đã xác định nhiệm vụ chủ yếu là: …Đẩy mạnh cải tạo XHCN đối với các ngành kinh tế, nỗ lực phấn đấu đến năm 1985 hoàn thành cơ bản hợp tác hóa nông nghiệp, đưa 70% nông dân vào làm ăn tập thể, kết hợp sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp…

– Xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các ngành kinh tế, văn hóa. Củng cố và tăng cường hệ thống chuyên chính vô sản, trước hết xây dựng Đảng về mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Thường xuyên đề cao cảnh giác, không ngừng tăng cường quốc phòng toàn dân, tăng sức chiến đấu phòng thủ ở các vùng xung yếu.

– Tăng cường công tác vận động quần chúng, nâng cao tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phát huy truyền thống anh hùng, nâng cao ý thức tự lực vươn lên, chủ động sáng tạo, nhằm thực hiện tốt 2 nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…

4. Đại hội Đảng bộ tỉnh Cửu Long lần thứ IV (1986-1990)

– Đại hội lần thứ tư là đại hội của ”Đoàn kết và thắng lợi”. Đại hội đã triệu tập 600 đại biểu, thay mặt cho hơn 17.300 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đại hội khai mạc ngày 6/10 và bế mạc ngày 8/10/1986.

Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành mới gồm 45 đồng chí là ủy viên chính thức (trong đó có 3 đồng chí nữ) và 15 đồng chí là ủy viên dự khuyết. Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí (có 1 đồng chí nữ). Đồng chí Nguyễn Ký Ức được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Đức Toàn và đồng chí Hồ Minh Mẫn được bầu giữ chức Phó Bí thư.

Đại hội đã đề ra nhiệm vụ của tỉnh trong giai đoạn này là: “Nắm vững phương hướng phát triển sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý, phấn đấu thực hiện kỳ được 3 mục tiêu kinh tế then chốt, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt bộ mặt kinh tế- xã hội, nhằm ổn định và nâng cao một bước đời sống của nhân dân, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa. Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Củng cố và tăng cường an ninh quốc phòng…”.

B. Giai đoạn tỉnh Vĩnh Long


1. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ V (1991- 1995)

Đại hội khai mạc ngày 27/8 và bế mạc ngày 29/8/1991. Về dự đại hội có 199 đại biểu đại diện cho hơn 11.000 đảng viên của 7 đảng bộ huyện, thị và 3 đảng bộ khối trực thuộc Tỉnh ủy.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành mới gồm 39 đồng chí là ủy viên chính thức (trong đó có 4 đồng chí nữ). Đồng chí Trịnh Văn Lâu- Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng- được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Đồng chí Phan Tấn Tài và đồng chí Nguyễn Văn Cương được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra mục tiêu chủ yếu cho giai đoạn 1991- 1995 là: “… tập trung sức thực hiện trọng tâm phát triển kinh tế- xã hội, giải quyết việc làm cho người lao động, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân, tạo điều kiện cho bước phát triển sau nhanh hơn. Đổi mới và chỉnh đốn Đảng nâng cao năng lực và hiệu quả lãnh đạo, nâng cao vai trò tiên phong và ý chí chiến đấu của đảng viên…”.

2. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ VI (1996- 2000)

Đây là đại hội “Đẩy mạnh công cuộc đổi mới và bước vào thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế” của tỉnh. Đại hội triệu tập 300 đại biểu, đại diện cho gần 12.000 đảng viên về dự. Đại hội khai mạc ngày 6/5 và bế mạc ngày 10/5/1996.

Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm 47 đồng chí là ủy viên chính thức (trong đó có 9 đồng chí nữ). Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí (trong đó có 2 đồng chí nữ). Đồng chí Nguyễn Văn Quân được bầu giữ chức vụ Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Võ Công Lý, Phan Tấn Tài và Nguyễn Văn Cương được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra mục tiêu chủ yếu là: “Từ nay đến năm 2010, Vĩnh Long ra sức đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước nhất là công nghiệp hóa nông nghiệp và xây dựng nông thôn, biến Vĩnh Long thành một tỉnh có nền nông nghiệp phát triển toàn diện và tương đối hiện đại, có công nghiệp và dịch vụ phát triển vững chắc. Thực hành tiết kiệm, tăng tích lũy để tái đầu tư sản xuất mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cùng với chính sách hợp lý thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, thu hút chất xám và khoa học tiên tiến, chuyển dịch nhanh cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung, đẩy mạnh xây dựng cơ sở kinh tế hạ tầng đồng bộ với phát triển kinh tế- xã hội bền vững. Tránh nguy cơ tụt hậu so với khu vực và cả nước. Tăng tưởng kinh tế găn với tiến bộ và công bằng xã hội, tạo việc làm, chăm lo phát triển văn hóa- giáo dục- đào tạo nâng cao chất lượng lao động, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là vùng nông thôn sâu, vùng căn cứ kháng chiến, vùng đồng bào Khmer. Bảo đảm quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội trong quá trình phát triển”.

 

3. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII (2001- 2005)

Đại hội đã triệu tập 349 đại biểu đại diện cho hơn 14.700 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đại hội khai mạc ngày 1/1 và bế mạc ngày 4/1/2001.


Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm 43 đồng chí (trong đó có 5 đồng chí nữ). Đồng chí Nguyễn Văn Quân- Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng- được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Phan Đức Hưởng và đồng chí Trương Văn Sáu được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra mục tiêu chủ yếu trong giai đoạn 2001- 2005 là: “Đẩy mạnh công nghiệp hóa- hiện đại hóa nông nghiệp và phát triển nông thôn, đồng thời đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với đầu tư theo hướng phát triển công nghiệp và thương mại- dịch vụ. Khắc phục những tồn tại yếu kém trong nền kinh tế, nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao hơn nhiệm kỳ qua. Tranh thủ thời cơ, khai thác tốt tiềm năng, lợi thế và lợi thế so sánh, phát huy tối đa các nguồn lực trong, ngoài tỉnh và nước ngoài để phát triển kinh tế- xã hội, tạo bước chuyển biến mới về xã hội, chuẩn bị tốt các điều kiện theo lộ trình hội nhập của cả nước. Nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, giáo dục đào tạo, phát huy nhân tố con người, chăm lo giải quyết các vấn đề bức xúc về việc làm, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân, tăng cường cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội và tạo các tiền đề cần thiết khác, tạo đà cho giai đoạn phát triển tiếp theo. Bảo đảm quốc phòng an ninh”.

4. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII (2005- 2010)

Đại hội đã triệu tập 295 đại biểu đại diện cho hơn 18.000 đảng viên toàn tỉnh về dự. Đại hội khai mạc ngày 21/12 và bế mạc ngày 23/12/2005.


Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VIII (2005- 2010) gồm 49 đồng chí và bầu đoàn đại biểu dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng gồm 12 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết. Đồng chí Trương Văn Sáu được bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Phan Đức Hưởng và đồng chí Phạm Văn Đấu được bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội đã đề ra phương hướng chủ yếu trong giai đoạn 2005- 2010 là: “Huy động mọi nguồn lực, tập trung khai thác tiềm năng, lợi thế để có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, trọng tâm là đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và các ngành dịch vụ trên cơ sở phát triển nông nghiệp toàn diện, hiện đại. Phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, chất lượng cao, đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa. Phát triển nền văn hóa tiên tiến, lành mạnh làm nền tảng tư tưởng xã hội. Nâng cao chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, đẩy lùi các tệ nạn xã hội. Xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới”.

5. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX (2010- 2015)


Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long lần thứ IX được tiến hành từ ngày 18- 20/10/2010, Tại TP Vĩnh Long. Đại hội đã bầu ra 54 đồng chí vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa IX. Đồng chí Đặng Thị Ngọc Thịnh được Đại hội tín nhiệm bầu giữ chức vụ Bí thư, các đồng chí Phạm Văn Lực và Nguyễn Văn Diệp được bầu làm Phó Bí thư.

III. Những thành tựu nổi bật sau 280 năm hình thành và phát triển

Trải qua gần ba thế kỷ, cộng đồng các dân tộc sinh sống trên đất Vĩnh Long đã nỗ lực khai phá, biến rừng hoang, đầm lầy thành đất sản xuất; chống chọi với thiên tai, ác thú, vượt qua nghèo khó, thiếu thốn, đói rách, bệnh tật, sự hà khắc của chế độ phong kiến; chiến đấu và chiến thắng giặc ngoại xâm để bảo vệ, xây dựng tỉnh Vĩnh Long ngày càng tươi đẹp.

Sau 280 năm hình thành và phát triển, tỉnh Vĩnh Long đã đạt được những thành tựu nổi bật:

1. Về đất nước- con người

Xưa, Vĩnh Long đã sản sinh ra nhiều danh nhân nổi tiếng như: nhà thơ Phan Văn Trị, Nhiêu Tâm, Học Lạc, nhà bác học Trương Vĩnh Ký, quan đại thần Phan Thanh Giản,…

Thời cận đại có cố Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng; cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt; Thiếu tướng- Giáo sư Viện sĩ Trần Đại Nghĩa,…

Nhân dân Vĩnh Long đã sáng tạo ra và phát triển nhiều loại hình văn học nghệ thuật dân gian như: nói thơ Vân Tiên, hát tuồng, vè, cải lương,…

Sáng tạo, xây dựng và để lại nhiều công trình, kiến trúc văn hóa độc đáo như: thành xưa Long Hồ; Văn Thánh Miếu; Văn Xương Các; miếu Quốc công; miếu Công Thần; đình Tân Giai; chùa Tiên Châu…

Ngày nay, Đảng bộ và nhân dân Vĩnh Long đang tiếp tục phát huy bản sắc văn hóa để xây dựng các công trình mới như Khu tưởng niệm đồng chí Phạm Hùng; Khu tưởng niệm đồng chí Võ Văn Kiệt; Khu di tích cách mạng Cái Ngang; Công viên Tượng đài Chiến thắng Mậu Thân; Công viên sông Tiền; Quảng trường TP Vĩnh Long và nhiều công trình kiến trúc hiện đại khác. Đồng thời ra sức xây dựng con người mới Vĩnh Long vừa hiện đại vừa mang tính nhân văn, đậm đà bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc.

2. Về kinh tế

Xưa, những người đi mở cõi đã biến vùng hoang hóa, đầm lầy, nhiều cọp beo, thú dữ,… trở thành một vùng đồng bằng trù phú, màu mỡ với những cánh đồng lúa và vườn cây ăn trái bạt ngàn. Phố xá, làng mạc cùng các ngành nghề truyền thống cùng với nền văn minh lúa nước cũng được hình thành. Đó là tiền đề, vốn liếng quan trọng để các thế hệ con cháu nối tiếp nhau xây dựng và phát triển.


Bước vào thế kỷ XXI, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Vĩnh Long tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với việc hội nhập kinh tế quốc tế. Tập trung huy động mọi nguồn lực, khai thác hiệu quả các tiềm năng và lợi thế để có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững, phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế ngang bằng hoặc cao hơn các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội đồng bộ, chất lượng cao; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân,… Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đạt 28,24 triệu đồng (1.346 USD) năm 2011.


Thành tựu quan trọng là sản xuất nông nghiệp tăng nhanh và toàn diện. Vĩnh Long đạt được thành tựu quan trọng về thâm canh tăng vụ, tăng năng suất, tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm. Đến nay tỉnh đã hình thành được một số vùng sản xuất chuyên canh, đa canh, luân canh với chất lượng, hiệu quả cao. Mặt khác, do thực hiện tốt công tác thủy lợi, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, phòng trị kịp thời dịch bệnh nên sản xuất nông nghiệp phát triển khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội khu vực nông thôn được quan tâm đầu tư xây dựng. Đời sống của nông dân được nâng lên, bộ mặt nông thôn không ngừng được đổi mới. Giá trị trồng trọt và nuôi trồng thủy sản bình quân đến năm 2010 đạt trên 92 triệu đồng/ha/năm. Đóng góp vào sự tăng trưởng chung của kinh tế tỉnh còn có lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.


Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Vĩnh Long chưa phải là ngành kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, nhưng rất đa dạng bao gồm nhiều ngành như: cơ khí, kỹ thuật điện, điện tử, gia công kim loại hóa chất, vật liệu xây dựng, chế biến lương thực, thực phẩm, dệt, da, may… được hình thành và phát triển dựa trên nguồn nguyên liệu và lao động địa phương nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Những ngành chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu công nghiệp của tỉnh như: công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất và dược liệu…

Một số cơ sở xí nghiệp nhà máy được cải tiến, trang bị đầu tư đi vào sản xuất như: Nhà máy thuốc lá Cửu Long, Nhà máy cơ khí; Xí nghiệp liên hiệp chế biến hàng xuất khẩu;… và Xí nghiệp liên hợp dược (Công ty CP Dược phẩm Cửu Long ngày nay) và còn có hơn 10 ngàn hộ sản xuất kinh doanh cá thể. Riêng giai đoạn 2005- 2010, tỉnh đã thành lập được các khu, tuyến công nghiệp của tỉnh (Khu công nghiệp Hòa Phú; Bình Minh; tuyến công nghiệp Cổ Chiên). Năm 2011 giá trị sản xuất công nghiệp đạt trên 5.766,78 tỷ đồng, tăng 19,2% góp phần đáng kể trong tăng tỷ trọng bình quân GDP của tỉnh nhà hàng năm trong nhiệm kỳ VIII trên l1%.

Ngành thương mại- dịch vụ đã có bước chuyển biến đáng kể, làm cầu nối gắn kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng; hệ thống bán buôn, bán lẻ phát triển mạnh, hàng hóa phong phú và đa dạng, lưu thông thông suốt và đáp ứng được nhu cầu của người dân, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

 

3. Về xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội

Phát triển điện

Hiện nay nguồn lưới điện đã được phủ khắp từ thành thị đến nông thôn góp phần thay đổi diện mạo đời sống kinh tế của tỉnh, các nguồn lực đầu tư xây dựng

cải tạo không ngừng tăng cường nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển công nghiệp, nông nghiệp của tỉnh theo hướng hiện đại. Đến nay toàn tỉnh đã có 100% số xã có lưới điện quốc gia và trên 98,5% hộ dân có điện sử dụng.

Phát triển hạ tầng giao thông

Trong những năm qua Vĩnh Long đã tập trung huy động nhiều nguồn lực đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông trên phạm vi toàn tỉnh và đã đạt được những thành tựu to lớn.

Đặc biệt khi cầu Mỹ Thuận, cầu Cần Thơ đưa vào sử dụng cùng với việc đầu tư nâng cấp mở rộng các tuyến quốc lộ đã giúp cho giao thông đường bộ của tỉnh với các tỉnh trong khu vực và cả nước được thông suốt, là động lực mạnh mẽ để phát triển kinh tế- xã hội cho các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và tỉnh Vĩnh Long nói riêng từng bước đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước; phát huy hiệu quả và tăng cường năng lực vận tải, góp phần bảo đảm tăng trưởng kinh tế, phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.

Đến nay hệ thống giao thông đã được đầu tư khá toàn diện và đồng bộ, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa, vận tải hành khách, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển sản xuất, thương mại và dịch vụ, góp phần phát triển kinh tế trên địa bàn tỉnh, rút ngắn khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và đảm bảo quốc phòng an ninh.

Phát triển hệ thống thủy lợi

Hệ thống thủy lợi của tỉnh Vĩnh Long được đánh giá khá nhất so với 13 tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long: thủy lợi thực sự là yếu tố quyết định đến tăng vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và các biện pháp kỹ thuật quan trọng thâm canh tăng năng suất cây trồng, thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản.

Cung cấp nước sạch

Sau 20 năm đầu tư và phát triển, mạng lưới trạm cấp nước tập trung và đường ống phân phối đến các hộ dân sử dụng, góp phần đưa tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch từ các trạm cấp nước tập trung khu vực thành thị đạt 78% hộ khu vực đô thị và 32% hộ khu vực nông thôn sử dụng nước từ các nhà máy nước tập trung.

Phát triển đô thị

Hai trung tâm đô thị lớn của tỉnh là TP Vĩnh Long và thị trấn Cái Vồn được nâng cấp, chỉnh trang về nhiều mặt, đây là hai trung tâm được tỉnh tập trung quy hoạch và đầu tư phát triển tạo sự đột phá và lan tỏa cho cả tỉnh, để xứng đáng với vai trò là những đô thị trung tâm và động lực phát triển của toàn tỉnh.

Các trung tâm xã, thị trấn khác cũng được quan tâm đầu tư, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng.

4. Về văn hóa- xã hội

Sự nghiệp giáo dục đạt được nhiều thành tựu quan trọng, 100% trường lớp được ngói hóa thay cho tre lá tạm bợ. Trên 99% học sinh trong độ tuổi các bậc học đều được huy động đến trường. Quy mô các bậc học, ngành học, số học sinh ngày càng tăng lên. Toàn tỉnh hiện có 494 trường, số lượng giáo viên đảm bảo đủ về số và chất lượng.

Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có Trường Đại học Cửu Long, Trường Đại học Xây dựng Miền Tây và các trường cao đẳng, trung cấp- góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.

– Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân không ngừng phát triển, tất cả các trạm y tế xã đều được xây dựng kiên cố và đều có bác sĩ phục vụ. Công tác khám chữa bệnh được thực hiện từ các cơ sở y tế công lập và các dịch vụ y tế tư nhân.

Mạng lưới y tế của tỉnh đã trải rộng khắp địa bàn, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân được chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh. Đội ngũ cán bộ, công chức, y bác sĩ thuộc ngành y tế thực hiện khá tốt 12 điều quy định về y đức, tạo được sự tin tưởng của nhân dân. Trên địa bàn tỉnh, hiện có 9 bệnh viện, 6 phòng khám đa khoa, 102 trạm y tế với tổng số giường bệnh là 1.780 giường, đạt 18 giường/1 vạn dân. Trong đó Bệnh viện đa khoa tỉnh với 600 giường bệnh là tuyến điều trị đầu ngành của tỉnh, có đội ngũ cán bộ và thầy thuốc chuyên sâu và phương tiện điều trị hiện đại.

– Công tác xây dựng nếp sống mới luôn được Đảng bộ và các cấp chính quyền quan tâm lãnh chỉ đạo. Nhất là từ sau năm 1996, thực hiện Chỉ thị số 01/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư và nếp sống văn minh nơi công cộng. Đến cuối năm 2010 toàn tỉnh đã có 81,75% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa.

– Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch của tỉnh có bước phát triển vượt bậc và đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Các hoạt động văn hóa, văn nghệ ngày càng phong phú, thiết thực như: tổ chức biểu diễn nghệ thuật, họp mặt, lễ kỷ niệm, hội diễn, liên hoan, sinh hoạt câu lạc bộ…, đóng góp quan trọng vào việc giữ gìn, nâng cao mức hưởng thụ, sáng tạo văn hóa trong nhân dân. Nổi rõ là phong trào văn nghệ quần chúng đã thể hiện vai trò chuyển tải thông tin, đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi và cuộc sống. Hoạt động thể dục, thể thao có nhiều tiến bộ, các giải thể thao phong trào như: bóng đá, bóng chuyền, cầu lông được tổ chức thường xuyên, nhất là vào các dịp lễ hội, kỷ niệm ngày truyền thống của các ngành, địa phương trong tỉnh. Hoạt động bảo tàng và công tác bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được quan tâm, góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc và địa phương.

– Các cơ quan báo chí đảm bảo nhu cầu thông tin, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân. Nhìn chung, hoạt động thông tin và truyền thông tỉnh Vĩnh Long đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu hưởng thụ thông tin, tuyên truyền, giải trí, thực hiện dân chủ xã hội, góp phần nâng cao dân trí, giáo dục truyền thống, phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội và quốc phòng an ninh của tỉnh thông tin và truyền thông đã trở thành công cụ hỗ trợ trên tất cả các lĩnh vực phát triển của xã hội, góp phần giảm chi phí, tăng sản lượng trong các ngành sản xuất kinh doanh, góp phần rút ngắn khoảng cách giữa thành thị và nông thôn.

– Công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được kết quả khả quan. Ban chỉ đạo giảm nghèo của tỉnh, phối hợp với các cấp, các ngành, đoàn thể đã lồng ghép xây dựng kế hoạch với nhiều giải pháp triển khai thực hiện tốt các chính sách, các dự án như hỗ trợ trực tiếp đến người nghèo, hộ nghèo, xã khó khăn… tạo cơ hội cho người dân tiếp cận các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục,… từng bước cải thiện và nâng cao đời sống các tầng lớp dân cư. Đến cuối năm 2011 tỉnh hoàn thành việc chủ trương xây dựng nhà cho hộ nghèo trên địa bàn. Hộ nghèo và cận nghèo, gia đình chính sách, hộ đồng bào dân tộc được hỗ trợ và cấp thẻ bảo hiểm y tế, miễn học phí, cứu tế đột xuất, cứu trợ thường xuyên… góp phần thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội ở địa phương.

5. An ninh- quốc phòng

Cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, lực lượng công an, quân sự tỉnh nhà phát huy truyền thống trong kháng chiến chống giặc ngoại xâm đã luôn vượt qua mọi khó khăn thử thách, dũng cảm kiên cường, tiên phong trong mọi nhiệm vụ, xứng đáng là công cụ tin cậy của Đảng và nhân dân, đã không ngừng xây dựng lực lượng ngày càng lớn mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cao, đáp ứng kịp thời yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; xây dựng vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, đảm bảo quốc phòng, an ninh tại địa phương.

6. Xây dựng hệ thống chính trị

Đảng bộ tỉnh Vĩnh Long luôn tập trung cho công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức làm cho đảng bộ tỉnh ngày một trưởng thành và vững mạnh, ngang tầm với sự nghiệp đổi mới của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và đã đạt được những thành tựu quan trọng.

Hệ thống chính trị không ngừng được củng cố, kiện toàn và phát triển; khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân ngày càng củng cố, tạo được sự đồng thuận xã hội cao, góp phần đưa kinh tế- xã hội của tỉnh tiếp tục tăng trưởng cao, toàn diện, hiệu quả và đúng hướng. Đội ngũ cán bộ đảng viên không ngừng được đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, chất lượng ngày được nâng cao; bộ máy chính quyền và các đoàn thể nhân dân đảm bảo đủ sức gánh vác sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn, mới; góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Theo baovinhlong

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: