Thực trạng đời sống văn hóa ĐBSCL


Cùng với sự tăng trưởng kinh tế liên tục trong nhiều năm qua, bộ mặt văn hóa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có nhiều chuyển biến. Người dân đã có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận, tham gia các loại hình văn học nghệ thuật, vui chơi giải trí. Tuy nhiên tại đây cũng đã bộc lộ một số bất cập đáng quan tâm. Nhìn lại để có định hướng phát triển là mục đích của loạt bài này.

Nhiều nỗ lực ở đất chín rồng

ĐBSCL là nơi sinh sống của cộng đồng 4 dân tộc anh em Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Đó là vùng đất của lễ hội, của nền văn hóa đa dạng, đầy bản sắc. Bên cạnh tăng trưởng kinh tế, bộ mặt văn hóa đất chín rồng ngày thêm khởi sắc.

Sóc Trăng có đến 30% dân số là người dân tộc Khmer, có 65/94 điểm chùa Khmer toàn tỉnh được công nhận là tụ điểm văn hóa; vừa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, vừa là điểm bảo tồn văn hóa phi vật thể và thường xuyên nhận được hỗ trợ về kinh phí, sách, trang thiết bị, lưu diễn nghệ thuật… An Giang đang dự kiến xây khu vui chơi mới trên Núi Cấm.

Cần Thơ vừa khởi công Trung tâm văn hóa Tây Đô lớn nhất đồng bằng, quy mô rộng 172,81ha – tổng vốn đầu tư 5.410 tỷ đồng nhằm “hội tụ văn hóa vùng Mekong” với nhiều hạng mục độc đáo chưa từng có ở vùng đất này.

Các siêu thị sách ngày càng trụ vững, lan rộng tại nhiều địa phương. Mô hình “Xã nông thôn mới” Vị Thanh (Vị Thủy – Hậu Giang) chứng minh một hướng đi tích cực nâng chất cuộc sống văn hóa người dân vùng sâu, được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khen ngợi, biểu dương.

Các hội thi người đẹp sông Tiền, sông Hậu, Festival Lúa gạo, Festival Văn hóa – Du lịch cấp quốc gia hay vùng, địa phương đều là những sự kiện văn hóa thu hút đông đảo người dân.

Hoạt động văn học nghệ thuật đã có những chuyển động mới, tích cực. Hàng trăm nhóm đờn ca tài tử có mặt ở từng bờ kênh, con rạch, miệt vườn, khu dân cư cho thấy nhu cầu giao lưu, hưởng thụ văn hóa của người dân luôn dâng đầy.

Thành tựu trên minh chứng sự quan tâm và nỗ lực không ngừng từ Trung ương xuống cơ sở để giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa châu thổ sông Cửu Long trong tiến trình đi lên của vùng đất này, đặc biệt sau khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới.

Còn nhiều nỗi lo

Ông Đinh Viết Khanh, Giám đốc Sở VH-TT-DL Cần Thơ trần tình: Các tỉnh lỵ miền Tây đua nhau lên cấp thành phố nhưng thị dân tìm đỏ con mắt cũng không ra nơi vui chơi, giải trí. Các khu du lịch sinh thái, miệt vườn sông nước lại quá quen thuộc, nhàm chán, thiếu cái mới. Hầu hết cung thiếu nhi, nhà văn hóa, công viên không thu hút được thanh thiếu niên vì hoạt động đơn điệu, mặt bằng đắc địa được cho thuê mở quán, dịch vụ kinh doanh.

TP Mỹ Tho (Tiền Giang), đêm xuống, hàng trăm chiếc xe gắn máy nối đuôi nhau lòng vòng theo các tuyến đường; chưa tới 10 giờ đêm, quán xá đóng cửa. Anh Tình, lái xe taxi nói: “Mỹ Tho quá ít chỗ vui chơi, giải trí dù được công nhận đô thị loại 2 đã nhiều năm”.

Dưới danh nghĩa “xã hội hóa công viên”, hơn 10 năm qua, người dân thị xã Tân An (hiện là thành phố) hưởng lợi “quá khiêm tốn” từ việc lên thành. Nhà hát Cao Văn Lầu, rạp chiếu phim 1/5 và Học Lạc (Bạc Liêu) luôn vắng khách. Phú Quốc được quy hoạch thành nơi nghỉ dưỡng quốc tế nhưng chưa đến 21 giờ đường sá đã vắng lặng, “buồn thúi ruột”…

Mỗi tỉnh trong khu vực có ít nhất 20 nhà văn hóa, 300 nhà thông tin nhưng khoảng 90% số nhà thông tin xã, ấp hoạt động cầm chừng hoặc thường xuyên đóng cửa. Càng về vùng sâu vùng xa, sách báo càng trở thành “hàng xa xỉ”.

“Đau” nhất là ngay cả cải lương, đờn ca tài tử là hai loại hình nghệ thuật truyền thống vốn được coi là “cái nôi”, tạo nên hồn châu thổ cũng đứng trước áp lực rất lớn để tồn tại chứ chưa nói đến phát triển. Có hiện tượng “chảy ngược”, khi giải cải lương được Hội sân khấu TPHCM đưa về miền Tây tổ chức “nhằm khơi dậy sức sống cho loại hình truyền thống miền Tây Nam bộ” và sân khấu đồng bằng chỉ “đỏ đèn”, sôi động nếu có các đoàn trên TPHCM về diễn.

Khá nhiều lễ hội lớn được thuê mướn, đặt hàng “người ở trển” từ kịch bản, dàn dựng, kỹ thuật, nghệ sĩ… Nghệ thuật Rôbăm, dù kê đặc sắc của người Khmer đứng trước nguy cơ mai một. Đờn ca tài tử chưa thực sự được nâng lên thành một sản phẩm văn hóa du lịch như quan họ phía Bắc, ca Huế miền Trung.

Phai lạt thời vàng son

Thập kỷ 80-90 thế kỷ trước là thời hoàng kim của văn hóa Tây Đô. Mô hình thuyền văn hóa, xây dựng văn hóa cơ sở được nhiều nơi đến tham quan học tập. Bảo Yến, Nhã Phương (nhạc), Hoàng Đông, Thanh Đời, Ngân Tâm, Chiêu Hoàng (cải lương)… khởi đầu sự nghiệp tại đây.

Có hơn 13 rạp chiếu phim, sân khấu; cải lương có 3-4 đoàn, ra tận miền Trung miền Bắc phục vụ; rồi ca múa nhạc (2 đoàn), hát bội, xiếc mô tô bay… Rạp Minh Châu ngày diễn 3 suất, vé không đủ bán dù tiền vé ngang 1 chỉ vàng. Dân vùng sâu chèo ghe thắp đèn đi coi cải lương như hội. Người dân “bội thực” thưởng thức văn hóa bởi có lúc 40-50 đoàn Nhà nước, tư nhân dồn về đây xếp hàng biểu diễn.
Đến nay, Đô thị loại 1 đầu tiên của đồng bằng (2009) vẫn không có quảng trường, chỉ còn một hai nơi chiếu phim nhưng địa điểm mượn, không đúng công năng, không có “công nghệ chiếu phim mới” (rạp 3D) và nơi sản xuất băng đĩa hình… Đoàn cải lương Tây Đô mỗi năm chỉ diễn 50 suất không doanh thu đã muốn “hụt hơi, kiệt sức” trong khi ngày trước diễn đến 80 suất/năm và “phây phây” xuất tỉnh…
Sau hàng chục năm, Nhà hát Hậu Giang mới được nâng cấp, trở thành Nhà hát Tây Đô. Sáng tác biểu diễn thì theo soạn giả Nhâm Hùng, “đụng đâu cũng có vấn đề”, từ rạp cho đến kịch bản, đạo diễn, diễn viên… “Bao giờ cho đến… ngày xưa”?

Phải chăng tốc độ của cuộc sống công nghiệp, vật lộn mưu sinh đã cuốn hút, triệt tiêu nhu cầu hưởng thụ văn hóa? Kết quả từ cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển ĐBSCL – ĐH Cần Thơ (2007) cho thấy người dân đồng bằng đòi hỏi được đáp ứng thông tin văn hóa xã hội rất cao, chiếm 69% số người được phỏng vấn, chỉ đứng sau sự quan tâm về kỹ thuật, giá cả nông sản, vệ sinh ATTP; trên cả thông tin về pháp luật, môi trường, quy hoạch và chính sách…

Vì thế, “văn hóa tại gia” (chủ yếu qua sóng truyền hình, phát thanh, internet) chính là đặc điểm hưởng thụ văn hóa của người dân ĐBSCL hiện nay. Điều đó thể hiện đời sống văn hóa tinh thần tại đây vẫn còn nghèo nàn, chỉ khuôn hẹp trong phạm vi gia đình.

Bình quân số ngày lưu trú của khách quốc tế khi đến ĐBSCL (15% so với cả nước) rất thấp, chỉ khoảng 0,85 ngày, Cần Thơ 1,2 ngày (Lâm Đồng 26 ngày, TPHCM 7,8 ngày, Lào Cai 2,6 ngày) cho thấy rõ sự thiếu thốn về cơ sở, dịch vụ văn hóa, vui chơi, giải trí.

 

 

Để câu vọng cổ bay xa

 

Một xã hội phát triển cân bằng, bền vững, tăng tốc kinh tế luôn phải song hành với tăng trưởng dân trí, dân sinh, mức thụ hưởng văn hóa. Trên lĩnh vực “tinh thần”, ĐBSCL cũng cần một quyết sách.

Vì đâu nên nỗi

Hơn 20 năm qua, khi nước ta bước vào nền kinh tế thị trường, văn hóa truyền thống đứng trước thách thức rất lớn. Cộng đồng nông thôn Nam bộ đã biến động, đổi thay sâu sắc cả về môi trường sống và con người trong môi trường đó. Biết bao nông dân sáng ra vụt trở thành thị dân? “Nhà đá, nhà đạp” ngày càng ít đi nhưng áo mỏng hai dây đã nhấp nhô đường làng? Chợ quê chân chất tần tảo nay “xảm” thêm tiệm game tiệm chát với đặc tính hai mặt của loại hình mới pha lẫn với tiếng thét gào karaoke khiến bao “Lời ru thêm buồn”?

Rõ ràng chưa bao giờ người làm công tác văn hóa đồng bằng lại khó tìm hướng đi trong bối cảnh phức tạp như vậy. Đã xuất hiện một số lệch chuẩn về giá trị văn hóa trong một bộ phận cư dân. Thay đổi, định hình văn hóa trong tình hình mới không thể diễn ra theo đường thẳng, một sớm một chiều mà đầy nhọc nhằn, trăn trở. Mức sống và trình độ dân trí thấp của ĐBSCL cũng là một trở ngại lớn cho việc tiếp cận, hưởng thụ văn hóa. Người ta phải phân vân lắm mới có thể bỏ ra (chỉ) 15.000 đồng mua một cuốn sách vì số tiền đó có thể mua được 2-3 kg gạo, nuôi cả gia đình/ngày. Vở opera “Người giữ cồn” đình đám mới đây “thể nghiệm loại hình mới” có bao nhiêu người “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” được coi?

Thưởng thức, hưởng thụ văn hóa trước tiên cần có “cái nền văn hóa”. “Ông này là ai?”, một sinh viên năm thứ hai Khoa Ngữ văn Đại học Cần Thơ sống ngay tại “trung tâm đồng bằng”, được nhận học bổng và nằm trong Ban cán sự lớp hỏi vậy khi GSTS Trần Văn Khê, cây đại thụ âm nhạc dân tộc xuống Cần Thơ giao lưu! Rất nhiều sinh viên “bứt tóc”, không nói được tác giả của bản “Vọng cổ hoài lang” day dứt tâm can châu thổ hơn 80 năm qua hay ĐBSCL có bao nhiêu dân tộc sinh sống… Sự quan tâm đến tri thức, đến văn hóa của những trí thức tương lai đồng bằng làm người ta chạnh lòng nhớ đến khói nhang cuộn tròn bên mộ phần cụ Cao Văn Lầu của một nghiên cứu sinh nước ngoài làm luận văn tiến sĩ về cải lương Nam bộ.

Mấy năm trước, kinh phí đầu tư cho giáo dục ĐBSCL rất thấp. Kinh phí thấp, quỹ đất teo tóp khiến quá ít “sân chơi văn hóa” thì thanh thiếu niên nông thôn rủ nhau gầy sòng… nhậu và không hiếm chuyện quậy phá. Và cũng “quá khó” để thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về “Chính sách ưu đãi hưởng thụ văn hóa” (14-8-2003), quy định rõ mỗi năm các đối tượng chính sách được xem miễn phí mấy buổi biểu diễn nghệ thuật, tham quan bảo tàng…

Kinh phí chưa phải là yếu tố quyết định đến phát triển văn hóa. Vì sao nhiều năm dài sau giải phóng lúc đất nước còn nhiều khó khăn vẫn có những dấu son? Những người hoạt động văn hóa khi đó hầu hết “trong rừng” ra, số có trình độ đại học “đếm trên đầu ngón tay”. Làm gì có được “toàn ngành có đến 17 thạc sĩ, 293 người có trình độ đại học, 33 người cao đẳng, 349 người trung cấp…” (Sở VH-TT-DL Cần Thơ). Mỗi thời đều có cái mới, cái khó nảy sinh nhưng thời nào người làm văn hóa (bên cạnh năng khiếu) cũng cần có cái Tâm, cái Tầm để trăn trở, sáng tạo trong hoàn cảnh của mình. Những năm gần đây vắng bóng ngày càng nhiều cán bộ, chuyên viên có kinh nghiệm hoặc văn nghệ sĩ có “tên tuổi” trong khi lực lượng kế thừa chưa đủ sức đảm đương thế chỗ. Nhân lực cho văn hóa cơ sở xã ấp, nơi trực tiếp triển khai phong trào, thiết chế văn hóa đang rơi vào hụt hẫng, đáng quan ngại. Ở nơi có “trăm đầu việc” này mà định mức biên chế chỉ có một với thu nhập 600-700 ngàn đồng/tháng chắc khó ai có thể an tâm gắn bó hết mình với phong trào?

Đến nay, trong khu vực vẫn chưa có tỉnh, thành phố nào xây dựng được một khu vui chơi giải trí, một trung tâm hội nghị tầm cỡ đủ để phục vụ hội nghị, hội thảo quốc gia và quốc tế. Các dịch vụ như mua sắm, giải trí, giao lưu chưa đáp ứng được nhu cầu. Mạng lưới giao thông vẫn chưa đồng bộ, chủ yếu theo trục dọc, thiếu những tuyến đường ngang đủ tiêu chuẩn nối các tỉnh, thành trong vùng.

Rất cần quyết sách

ĐBSCL rất cần một quyết sách để tạo bước đột phá cho văn hóa phát triển. Đột phá từ tư duy, nhân lực, đầu tư kinh phí đến cả cơ chế chính sách để đủ sức đủ lực lay động, lan tỏa rộng. Và đối tượng hưởng thụ của sự đột phá đó chính là người nông dân, chủ thể của “tam nông”, những người hưởng lợi ít nhất từ “chiếc bánh tăng trưởng” và đang gánh chịu quá nhiều sức ép từ những cơn bão giá.

Hưởng thụ văn hóa là khâu cuối nếu xét văn hóa là một quy trình (sáng tạo – sản xuất, phân phối – tiếp nhận) và phải tìm bằng được lời giải cho sự gặp nhau giữa người “cung cấp” và “tiếp nhận” sản phẩm, dịch vụ văn hóa. Nâng cao mức sống, chất lượng giáo dục, trình độ dân trí là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thăng hoa văn hóa và hưởng thụ văn hóa. Một đội ngũ cán bộ văn hóa “biết làm văn hóa”, nhiệt tâm với nghề, nhiệt tình với dân, nhạy cảm với phong trào chính là yếu tố quyết định. “Cần có sự quan tâm, tập trung hơn nữa, từ trên xuống tận cơ sở”, một cán bộ văn hóa Cà Mau phát biểu. Được như vậy chắc các phong trào, danh hiệu văn hóa sẽ đi vào thực chất, sẽ không có “Gia đình văn hóa” mà chủ hộ trong một thời gian dài không biết mặt trưởng khu vực hay “Ấp văn hóa” ẩn chứa trường gà, quán nhậu mọc nhanh và nhiều hơn tụ điểm văn hóa…

Đẩy mạnh nghiên cứu KHXH và cập nhật thông tin xã hội (Làm gì để giữ được di sản di tích, văn hóa truyền thống giữa cơn lốc thị trường, để trở thành thế mạnh văn hóa thời hội nhập; sự thay đổi nhu cầu, thị hiếu văn hóa trong bối cảnh mới…) sẽ giúp việc định ra kế hoạch, chiến lược, mục tiêu xây dựng con người văn hóa mới căn cơ, khoa học, thích hợp, thiết thực. Trong bối cảnh phức tạp, thông tin đa chiều hiện nay “dịch vụ công” (các cơ quan tổ chức hoạt động văn hóa Nhà nước) phải tiếp cận sâu rộng hơn với người thụ hưởng nhằm giữ vững tính định hướng, kịp thời loại bỏ các yếu tố, sản phẩm văn hóa độc hại, sai trái. Qua đó “văn hóa tại gia” có điều kiện bung ra hòa nhập với văn hóa cộng đồng, làm phong phú hơn đời sống văn hóa và nâng cao nhu cầu hưởng thụ của họ. ĐBSCL là nơi sớm tiếp nhận nhiều nền văn hóa, con người ở đây phóng khoáng, chân tình nhưng cũng đầy bản lĩnh để chắt lọc cho mình những gì tinh túy nhất.

“Kích cung” có thể bắt đầu từ ngay cơ chế của Nhà nước qua việc thành lập Quỹ hỗ trợ xuất bản, đặc biệt cần có chính sách ưu tiên xây dựng khung giá sách, sản phẩm văn hóa “mềm” cho ĐBSCL. Những đợt bán sách giảm giá, những ngày hội sách cho vùng nông thôn, mô hình thư viện lưu động, đọc sách miễn phí, kho sách luân chuyển là một giải pháp có hiệu quả trong điều kiện ngân sách hạn hẹp… Bài học đã qua cho thấy nông thôn ổn định, có nền tảng văn hóa vững chắc là điều kiện cơ bản để cả xã hội ổn định, đất nước phát triển bền vững.

Dù đã có những chuyển biến căn bản trong tiêu dùng cho cuộc sống nhưng mức chi cho giải trí của nông dân ĐBSCL vẫn còn hạn chế: năm 2000: 1%, 2005: 1,2%, năm 2009 “vươn” lên 1,5% (Nguồn: Trung tâm Nghiên cứu phát triển ĐBSCL – Bộ Khoa học và Công nghệ). Một điều tra xã hội khác cho biết chi tiêu của người dân ở TP Hồ Chí Minh dành cho vui chơi, giải trí chiếm 30% thu nhập trong gia đình. Ở Hà Nội, Huế, tỷ lệ này là 20%.

Theo mekong

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: