TẾT TRUNG THU


nước ta hầu như mùa nào cũng có Tết. Mùa Xuân ngoài Tết Nguyên Đán còn có Tết Nguyên Tiêu, mùa Hạ có Tết Đoan Ngọ, mùa Đông có Tết Trùng Thập. Nhưng trong các lễ Tết đó thì trẻ con và cả người lớn đều háo hức đón tết Trung Thu. Tháng Tám trăng thanh gió mát, nước trong veo, nhà nông nhàn nhã.

         Vào Rằm tháng Tám, trăng đẹp nhất, nên dân gian làm lễ mở hội ăn tết mừng trăng. Tết trông trăng, phá cỗ ngày xưa vốn là Tết của tất cả mọi người, không riêng gì đối với trẻ em. Thời đó, đêm Trung Thu, mọi nhà đều mở cửa, ai cũng có thể đến thăm nhau, cùng ngắm trăng, ăn cỗ, tuy chỉ là vài món hoa quả, bánh trái đơn sơ.
Sự tích về chiếc đèn kéo quân:

 Ngày xưa khi gần đến Tết Trung Thu nhiều nhà làm đèn kéo quân. Đèn kéo quân còn gọi là đèn cù, hình lục giác hay bát giác. Chơi đèn kéo quân là một thú vui thanh nhã của dân kinh đô xưa vào dịp Tết Trung Thu.

     Ở kinh thành Thăng Long xưa còn có Hội đèn Quảng Chiếu (thi đèn kéo quân khổng lồ) thường tổ chức thi vào dịp Tết Nguyên Tiêu hay Rằm tháng Tám. Năm Hội tường Đại khánh Nguyên niên (1110) đời Lý Nhân Tông, đã được miêu tả rất sinh động hội đèn kéo quân Quảng Chiếu trong văn bia chùa Đọi, dựng năm 1121. Sách “An Nam chí lược” ghi: “ Đêm Nguyên Tiêu, triều đình nhà Trần dựng cây đèn trên sân rộng, gọi là đèn Quảng Chiếu, muôn ngọn đèn sáng rực trên trời, dưới đất.  Các vị sư đi quanh đèn đọc kinh, các quan đứng xung quanh đèn làm lễ Triều đăng…”. Trong đêm hội đèn còn kết hợp đốt pháo bông, múa rối và nhiều trò vui dân gian cùng các sinh hoạt ca, múa, nhạc tưng bừng, sôi nổi khắp kinh thành. Đèn kéo quân được lưu truyền và trở thành trò chơi dân gian rộng khắp.
      Đèn được cấu tạo bởi hai bộ phận chính là khung vỏ bên ngoài và các vòng quân bên trong. Khung bên ngoài được dựng thành hình lục giác hay bát giác, dán bằng giấy bản trắng, mỏng, dai, thường dùng giấy Lệnh của làng Bưởi, làng Cót bên sông Tô Lịch , hoặc giấy Xuyến chỉ màu trắng (còn gọi là giấy Tàu bạch) của Trung Quốc, để làm nổi các hình bên trong khi đèn được thắp lên. Những chiếc nan tre được chuốt kỹ, lắp ráp với nhau và được buộc bằng lạt mềm rất chắc. Những dóng trụ đèn này được quấn bằng các loại giấy màu, giấy trang kim vàng óng ánh, trổ những họa tiết để dán vào phần đầu và chân các trụ đèn khiến cho đèn thêm lộng lẫy.
       Phần trong đèn có một trục tre tròn, nhỉnh hơn chiếc đầu đũa, phía trên gắn một chiếc chong chóng bằng giấy có nhiều mũi để hứng gió. Các hình tướng sĩ, binh mã, xe pháo, hoặc các nhân vật lịch sử hay nhân vật trong các truyên cổ tích, được gắn vào những vòng tre đặt dưới cánh chong chóng, xếp thành ba, bốn vòng cách nhau khoảng mươi phân. Khi đèn được thắp lên, sức nóng tỏa ra theo đối lưu sẽ đẩy chong chóng quay, vòng quân quay đều quay theo. Dưới ánh sáng lung linh, huyền ảo, các nhân vật, con thú…lần lượt in bóng lên  từng khoang đèn theo vòng tròn, trông như cuộc hành quân liên tục không ngưng nghỉ. Trẻ con xúm xít quanh đèn, vừa xem vừa lắng nghe người lớn thuyết minh nội dung câu chuyện thể hiện bằng các hình bóng ấy.
       Điều kỳ thú khi xem đèn kéo quân là ở chỗ mặc dù tướng, sĩ, tượng, xe, pháo, mã… đều là hình tĩnh nhưng khi chạy vòng quanh lại gây cho ta ảo giác như chúng biết cử động, ta như đang được xem một trận chiến  hay một cuộc đuổi bắt dồn dập đầy lý thú.
      Và để tăng thêm trí tò mò cho trẻ, các nghệ nhân còn làm hình các con rối có thể cử động được rồi gắn vào đèn kéo quân. Con rối có hai phần, phần tĩnh và phần động, đều được gắn vào mặt ngoài màn giấy. Phần động được gắn vào phần tĩnh bằng khớp nối. Một sợi dây nhỏ được nối rất khéo từ phần động vào trục quay chong chóng. Trên trục quay có cái mấu nhỏ, mỗi vòng mấu đi qua lại kéo sợi dây làm cho con rối giật lên, hạ xuống trông rất vui mắt. Đây là những rối dây đơn giản nhưng lại rất gây ấn tượng cho trẻ thơ. Ông Nghè Tân đã có bốn câu thơ tả đèn kéo quân mang tính triết lý :
                                    Một lũ ăn mày, một lũ quan
                                   Quanh đi, quẩn lại chỉ một đàn
                                    Đến khi dầu hết, đèn không cháy
                                    Chẳng thấy ăn mày, chẳng thấy quan …
            Chiếc đèn cá chép
          Trong các loại đèn được trẻ con và người lớn yêu thích phải kể đến đèn mang hình con cá chép. Người ta kể rằng vào đời Tống có con cá chép biến thành tinh, đến Tết Trung Thu lại biến thành người, hãm hại dân chúng. Bao Thanh Thiên liền tâu với vua chỉ dụ cho dân chúng làm đèn cá chép treo trên cửa nhà để yêu tinh thấy cùng giống mình, sợ sẽ bỏ đi.
Còn có sự tích kể rằng: Đèn cá chép bắt nguồn từ cá chép vượt Vũ môn quan trên sông Dương Tử ở Trung Hoa để hóa thành Rồng. Trên sông có một ghềnh nước lớn  tên là Vũ Môn (hoặc Long Môn). Hàng năm họ hàng nhà cá chép về đấy thi nhau nhảy qua ghềnh. Con nào vượt qua được sẽ hóa thành Rồng.
Tương truyền ở nước ta tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh cũng có Vũ Môn và có cá chép thi vượt ghềnh mỗi năm. Từ đó tục chơi đèn cá chép là do các bậc cha mẹ cầu mong con mình sẽ vượt Vũ Môn như cá chép để thi cử đỗ đạt. Đó cũng là ước mong chính đáng của cha mẹ hy vọng con mình sẽ thông minh, học hành tấn tới.
        Tục múa Lân:
      Múa Lân hay còn gọi là múa Sư tử vào tết Trung thu là một tục lệ xuất xứ từ Trung Hoa hàng ngàn năm trước. Theo sách Tàu thì “Kỳ” là tên con sư tử đực, “Lân” là tên con sư tử cái. Người ta không phân biệt chúng là đực hay cái nên gọi chung là Kỳ Lân. Theo dân gian, Kỳ Lân là con vật thần thoại, mình hươu, móng ngựa, đuôi bò, miệng rộng, mũi to, có một sừng trên trán, lông trên lưng màu ngũ sắc, lông dưới bụng màu vàng. Đó là con vật rất hiền (còn gọi là nhân thú), không đạp lên cỏ cây, không làm hại vật sống. Kỳ Lân chỉ xuất hiện khi có Thánh nhân ra đời hoặc dưới thời thái bình thịnh trị. Như vậy trò múa Lân trong đêm Trung Thu tượng trưng cho sự xuất hiện của Kỳ Lân, cũng là sự cầu mong đất nước thái bình, thịnh trị, nhà nhà gặp nhiều may mắn. Có thể thấy từ xa xưa, dân gian đã quan niệm đồ chơi cũng góp phần giáo dục con người, nuôi dưỡng tâm hồn trẻ thơ ước vọng về một tương lai tươi đẹp .
      Bánh Trung thu:
      Dịp Tết Trung thu có rất nhiều loại bánh, nhưng phần lớn là bánh hình tròn tượng trưng cho mặt trăng và bánh hình vuông tượng trưng cho mặt đất.Có nhiều truyền thuyết trong dân gian về chiếc bánh Trung thu, nhưng có một truyền thuyết được phổ biến nhiều nhất, đó là vào những năm cuối triều Nguyên (Trung Quốc), bọn thống trị phong kiến áp bức bóc lột nhân dân rất tàn khốc, khiến dân chúng bất bình và nuôi ý chí phản kháng mãnh liệt. Ít lâu sau, có hai vị thủ lĩnh là Chu Nguyên Chương và Lưu Bá tổ chức nông dân vùng lên khởi nghĩa chống lại bè lũ phong kiến thống trị tàn bạo. Để có thể truyền tin tức và mệnh lệnh một cách bí mật, người ta đã làm những cái bánh hình tròn, trong có nhét một tờ giấy ước định thời gian khởi nghĩa là lúc trăng sáng nhất trong đêm Rằm tháng Tám. Những chiếc bánh Trung thu được người ta chuyển cho nhau và trở thành một phương tiện liên lạc. Từ đó, tin tức về cuộc khởi nghĩa được truyền đi khắp nơi và cuộc khởi nghĩa đã thành công, đập tan sự áp bức bóc lột của bọn phong kiến thống trị. Sau này, cứ vào ngày Rằm tháng Tám là người dân Trung Quốc lại làm bánh Trung thu để kỷ niệm sự kiện ấy. Như vậy, tục ăn bánh Trung thu trong ngày Rằm tháng Tám có xuất xứ từ Trung Quốc và được lưu truyền tới ngày nay. Còn có truyền thuyết khác lại kể rằng: Bánh Trung thu có từ thời nhà Đường (Trung Quốc). Nó được coi như một thứ đồ lễ cúng thần Mặt trăng. Ngày đó, ở kinh thành Trường An đã có những cửa hiệu bán bánh Trung thu…
         Ngày nay, vào dịp Tết Trung thu, ở nước ta cũng như một số nước vùng Đông Nam Á, người ta thấy có nhiều loại bánh, nhiều loại đồ chơi đủ màu sắc với những hình dáng bắt mắt, hiện đại, đắt tiền, có cái giá hàng mấy trăm cho đến cả triệu đồng nhưng chỉ đáp ứng cho trẻ con nhà giàu. Tiếc thay, những chiếc bánh, chiếc đèn xa xỉ đó ngày càng xa rời các loại bánh, loại đèn dân dã, cổ truyền mang hồn dân tộc./.
                                 LÊ XUÂN

Sự tích bánh trung thu

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Tương truyền vào thời đó, người Trung Nguyên không chịu nổi ách thống trị của người Mông Cổ, những người có chí khí đều muốn khởi nghĩa chống nhà Nguyên. Để tập hợp được các lực lượng đấu tranh, nhưng trong điều kiện không thể truyền tin đi, Lưu Bá Ôn đã nghĩ ra một cách truyền tin rộng rãi và bảo đảm, đó là kêu gọi mọi người mua bánh trung thu ăn vào Tết Trung thu để tránh họa. Sau khi mọi người mua bánh về và cắt ra, nhìn thấy bên trong có giấu một mảnh giấy viết “đêm 15 tháng 8 khởi nghĩa”, nhờ vậy người dân đã nhiệt liệt hưởng ứng, và lật đổ được nhà Nguyên. Cũng từ đó, bánh trung thu đã trở thành một món ăn không thể thiếu vào mỗi Tết Trung thu.

Sự tích chị Hằng Nga

Tương truyền, vào thời xa xưa, trên trời xuất hiện mười ông mặt trời, cùng chiếu xuống mặt đất nóng đến bốc khói, biển hồ khô cạn, người dân gần như không thể sống nổi. Chuyện này đã làm kinh động đến một anh hùng tên là Hậu Nghệ. Anh đã trèo lên đỉnh núi Côn Lôn, dùng thần lực giương nỏ thần bắn rụng chín ông mặt trời. Hậu Nghệ đã lập nên thần công cái thế, nhận được sự tôn kính và yêu mến của mọi người, rất nhiều chí sĩ mộ danh đã tìm đến tầm sư học đạo, trong đó có Bồng Mông là một kẻ tâm thuật bất chính.

Không lâu sau, Hậu Nghệ lấy một người vợ xinh đẹp, tốt bụng, tên là Hằng Nga. Ngoài dạy học săn bắn, cả ngày Hậu Nghệ luôn ở bên cạnh vợ, mọi người đều ngưỡng mộ đôi vợ chồng trai tài gái sắc này.

Một hôm, Hậu Nghệ đến núi Côn Lôn thăm bạn, trên đường tình cờ gặp được Vương mẫu nương nương đi ngang qua, bèn xin Vương mẫu thuốc trường sinh bất tử. Nghe nói, uống thuốc này vào, sẽ lập tức được bay lên trời thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không nỡ rời xa vợ hiền, đành tạm thời đưa thuốc bất tử cho Hằng Nga cất giữ. Hằng Nga cất thuốc vào hộp đựng gương lược của mình, không ngờ đã bị Bồng Mông nhìn thấy.

Ba ngày sau, Hậu Nghệ dẫn học trò ra ngoài săn bắn, Bồng Mông với tâm địa xấu xa đã giả vờ lâm bệnh, xin ở lại. Đợi Hậu Nghệ dẫn các học trò đi không lâu, Bồng Mông tay cầm bảo kiếm, đột nhập vào hậu viện, ép Hằng Nga phải đưa ra thuốc bất tử. Hằng Nga biết mình không phải là đối thủ của Bồng Mông, trong lúc nguy cấp đã vội vàng mở hộp gương lược, lấy thuốc bất tử ra và uống hết. Hằng Nga uống thuốc xong, thấy người bỗng nhẹ rời khỏi mặt đất, hướng về cửa sổ và bay lên trời. Nhưng do Hằng Nga còn nhớ chồng, nên chỉ bay đến mặt trăng là nơi gần với nhân gian nhất rồi trở thành tiên.

Tối hôm đó, khi Hậu Nghệ về đến nhà, các thị nữ vừa khóc vừa kể lại câu chuyện xảy ra lúc sáng. Hậu Nghệ vừa lo vừa giận, đã rút kiếm tìm giết nghịch đồ, nhưng Bồng Mông đã trốn đi từ lâu. Hậu Nghệ nổi giận nhưng chỉ biết vỗ ngực giậm chân kêu khóc. Trong lúc đau khổ, Hậu Nghệ đã ngửa cổ lên trời đêm gọi tên vợ hiền. Khi đó, anh kinh ngạc phát hiện ra, trăng hôm nay đặc biệt sáng ngời, mà còn có thêm một bóng người cử động trông giống Hằng Nga. Hậu Nghệ vội sai người đến hậu hoa viên nơi Hằng Nga yêu thích, lập bàn hương án, đặt lên đó những món ăn và trái cây mà bình thường Hằng Nga thích ăn nhất, để tế Hằng Nga nơi cung trăng đang nhớ đến mình.

Sau khi mọi người nghe tin Hằng Nga lên cung trăng thành tiên nữ, đều đã lần lượt bày hương án dưới ánh trăng, cầu xin Hằng Nga tốt bụng ban cho may mắn và bình an. Từ đó, phong tục “bái nguyệt” vào tết trung thu được truyền đi trong dân gian.

Sự tích cái “Lồng Đèn” hay “Đèn kéo quân”

Ngày xưa, gần đến dịp tết Trung thu, theo lệnh Vua, dân chúng nô nức thi nhau chế ra những chiếc đèn kỳ lạ nhưng không có chiếc đèn nào làm cho vua vừa ý. Bấy giờ, có một nông dân nghèo khó tên là Lục Đức mồ côi cha, ăn ở với mẹ rất hiếu thảo. Một hôm nằm mơ, Lục Đức thấy một vị thần râu tóc bạc phơ hiện ra phán rằng: “Ta là Thái Thượng Lãn Quân, thấy nhà ngươi nghèo khó nhưng ăn ở hiếu thảo với mẹ, vậy ta bày cho ngươi cách làm chiếc đèn dâng Vua”.

Hôm sau theo lời dặn của Thần, Lục Đức cùng mẹ lấy những thân trúc trắng cùng giấy màu để làm chiếc đèn. Thời gian qua mau, khi chiếc đèn làm xong là ngày rằm tháng 8 cũng vừa đến. Chàng vui mừng cùng mẹ đem chiếc đèn vào kinh thành dâng vua. Nhà vua xem, thấy chiếc đèn vừa lạ, vừa nhiều màu sắc lại biết chuyển động nên rất hài lòng. Khi Vua hỏi ý nghĩa của chiếc đèn, Lục Đức theo lời Thần tâu rằng: “Thưa bệ hạ, thân trúc ở giữa đèn là biểu hiện trục khôn, cái chong chóng quay sáu mặt biểu tượng cho sáu cá tính của con người: thương, ghét, giận, buồn, vui, hờn. Cái chong chóng quay luôn luôn, tượng trưng cho con người hay thay đổi cũng có căn do, đó là đạo làm người. Chong chóng quay luôn cũng nhờ ánh đèn soi sáng, cũng như con người tốt lành cũng nhờ đạo đức. Sáu mặt của chiếc đèn làm bằng giấy tươi sáng biểu hiện cá tính của con người”.

Vua truyền đem đèn cho dân chúng cùng xem. Đèn đốt lên làm quay chong chóng. Hiện lên sáu màu sắc rực rỡ là hình ảnh vua, quan, người, ngựa nối đuôi nhau. Tất cả những hình nhân trên đèn được làm bằng giấy. Vua ban thưởng cho mẹ con Lục Đức rất hậu và phong làm Vạn Hộ Hầu.

Từ đó, mối khi đến Tết Trung thu, nhớ lại sự tích người con hiếu thảo Lục Đức, dân chúng đua nhau bắt chước chàng làm nên những chiếc đèn màu rực rỡ gọi là đèn kéo quân.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: