Những vụ án nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam.


I. Vụ án thái sư Lê Văn Thịnh.

Tượng thái sư Lê Văn Thịnh

Năm Ất Mão (1075), Vua Lý Nhân Tông (1072 – 1127) cho mở khoa thi tam trường để chọn người tài làm quan. Đây là khoa thi đầu tiên ở nước ta, chọn được hơn mười người. Người đỗ thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Đây chính là vị tiến sĩ đầu tiên ở nước Việt Nam. Vị thủ khoa này ngày sau làm đến chức Thái sư – một chức quan to vào bậc nhất trong triều.

Nhưng ai có thể ngờ rằng, vị Tiến sĩ – Thái sư này hơn hai chục năm sau bị mắc tội “mưu làm phản”, suýt nữa bị chém. Sau đó bị nhốt vào cũi, đi đày ở miền sơn cước.

Các sách chính sử thời đó và nhiều triều đại sau đều chép chính thức sự kiện này và cho rằng Lê Văn Thịnh mắc tội phản nghịch là có thực, lẽ ra phải khép vào tội chết. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên (thi đậu Tiến sĩ vào năm Nhâm Tuất – 1442, đời vua Lê Thái Tông), cũng có lời bàn: “Người làm tôi định cướp ngôi giết vua mà được miễn tội chết, thế là sai trong việc hình, lỗi ở vua tin sùng Phật giáo”. (sách “Đại Việt sử ký toàn thư”)

Lý Tế Xuyên, tác giả “Việt điện u linh” cũng than thở: “Lê Văn Thịnh tội nên xử trảm vua lại tha mà chỉ phạt lưu, chính hình như thế thật là lầm lỗi”

Vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh được các nhà chép sử ghi lại như sau:
“Tháng 3 năm Bính Tý (1096), nhân dịp ngày xuân, vua Lý Nhân Tông ngự ra hò Dâm Đàm (Hồ Tây), đi một chiếc thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng giáo chém. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt đi, nói rằng: “Nguy lắm rồi!”. Người đánh cá tên là Mục Thận quăng cái lưới trùm lên trên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Văn Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết chết, đày lên trại đầu ở sông Thao. Thưởng cho Mục Thận quan chức và tài vật, lại cho đất Tây Hồ làm thực ấp. Trước đây, Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý (Vân Nam) có phép thuật kỳ dị, cho nên làm ra như thế để định cướp ngôi giết vua.” (Sách “Đại Việt sử ký toàn thư”)

Sách “Việt điện u linh” lại giải thích thêm: “Quan Thái sư Lê Văn Thịnh nuôi được một tên gia nô người Đại Lý (Vân Nam) có thuật lạ: đọc thần chú xong biến thành hổ báo. Văn Thịnh cố dỗ để dạy mình thuật ấy, học được thuật rồi, liền lập mưu giết chết tên gia nô và dùng thuật hại vua để cướp ngôi.”

Sau khi “quăng lưới chụp vào thuyền kia, bắt được hổ và nhận ra là Lê Văn Thịnh! Nhà vua cả giận, sai lấy dây sắt xích lại, bỏ vào cũi, rồi đày lên miền Thao Giang (nay thuộc huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ). Vua khen Mục Công (Mục Thận) đã có công cứu vua, cất làm Đô uý và sau thăng tới Phụ quốc tướng quân. Khi mất, tặng chức Thái uý. Vua sai dựng đền tạc tượng thờ” (Sách “Đại Việt u linh”)

Các sách khác như “Việt sử lược”, “Cương mục”… đều chép tương tự như vậy. Lý do nào để xảy ra vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh âm mưu phản nghịch định giết vua, cướp ngôi?

Nhiều nhà nghiên cứu sau này cho rằng câu chuyện Lê Văn Thịnh đầy tính chất hoang đường, tại sao vị tể tướng thong thái này lại có phép thần thông để đổi trời trong sáng thành sương mù, biến người thành cọp?

Giáo sư Hoàng Xuân Hãn cho vụ án Lê Văn Thịnh chỉ là một sự hiểu lầm đáng tiếc và giải thích như sau: “Chuyện trên đây tiêu biểu cho sự mê tín có ảnh hưởng lớn đến chính trị ở triều Lý. Sử còn cho biết nhiều chuyện nói rằng vua Nhân Tông, cũng như các vua đời Lý sau, rất tin ảo thuật và dễ cảm xúc. Cho nên, chỉ vì một việc xảy ra thất thường, mà Văn Thịnh suýt bị chết. Về thời tiết lúc đó, một trận mù thình lình tới bên hồ là một sự thường gặp. Nhưng với tâm thần hay bị xúc cảm của vua Lý khi thấy trời tối mà mình còn ở trên mặt nước, thì vua đâm ra hoảng hốt. Có lẽ Lê Văn Thịnh cũng vì thấy trời tối mà vội vã sai chèo thuyền gấp tới để hộ vua về. Ngồi trên thuyền bị tròng trành không vững, Văn Thịnh phải ngồi khom mình, tay chống vào thuyền cho vững. Hình dáng trông như con hổ. Một mặt khác, có lẽ Văn Thịnh cũng tin vào các thuật và có tiếng sẵn là đã học được phép hoá hổ. Cho nên, kẻ trông thấy con hổ trong thuyền lại càng nghi cho ý muốn hại vua”

Người ta đặt vấn đề nghi vấn có thể có hay không, câu chuyện Lê Văn Thịnh là một sự hiểu lầm hay chỉ là một mưu mô loại bỏ công thần của vua Lý, một hành vi thường có của các vua chúa triều đại phong kiến?

Lần trang sử cũ, ta thấy có nhiều bản án “huyễn hoặc” tương tự, không biết bao nhiêu nhân tài quốc gia bị triều đình phong kiến huỷ diệt. Bản thân chế độ vua chúa vì muốn giữ độc quyền thống trị thường thay thù địch và hoảng sợ trước tài năng. Tầng lớp phong kiến chỉ có thể lợi dụng những kẻ có tài trong thời gian nhất định mà không tận dụng được tài năng đó. Trong các triều đại phong kiến lịch sử cổ kim thế giới, những đại công thần bị lưu đày, tàn sát như Lê Văn Thịnh không hiếm. Hàm Tín, trước khi bị Hán Cao Tổ và Lưu Bang giết ở Vị vương cung, đã biết rằng kẻ dùng mình sẽ không tha mình khi đế nghiệp hoàn thành, nên từng than thở: “Giảo thỏ chết, chó săn bị thịt, chim hết, cung bị xếp xó”

Đại thi hào Nguyễn Du không phải ngẫu nhiên khi mở đầu Truyện Kiều, ông đã than thở:

“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau”

Và khi sắp kết thúc tác phẩm, ông lại thở than:

“Có tài mà cậy chi tài
Chữ tài liền với chữ tai một vần”

Nguyễn Du đã nhìn thấy những “tai oan” của các nhân tài trong xã hội phong kiến, nhưng ông đã kín đáo đổ thừa cho số mệnh. Dưới chế độ phong kiến, một khi “tài” đó vượt lên “tài” của quân vương là có khi gặp nạn, nếu “sáng hơn chúa” cí khi là gặp nạn.

Trở lại vụ án Thái sư Lê Văn Thịnh. Từ khi Lê Văn Thịnh thi đỗ thủ khoa và được bổ dụng làm quan, ông đã đem hết trí tuệ và tài năng của mình để phụng sự triều đình. Ngay sau khi đậu thủ khoa năm 1075, Lê Văn Thịnh được vào hầu vua học (thực chất là dạy vua). Bởi vì lúc này vua Lý Nhân Tông mới khoảng 10 tuổi. Lý Nhân Tông là con Thái hậu Ỷ Lan, lên ngôi vua năm 1072, mới có 7 tuổi, có quan Thái sư Lý Đạo Thành làm Phụ chính.

Năm Giáp Tý (1084), Lê Văn Thịnh lúc này đã làm Thị lang Bộ binh được vua giao đến trại Vĩnh Bình để cùng với người Tống bàn việc cương giới. Trong việc hoạch định biên giới, nhà Tống trả cho nhà Lý 6 huyện và 3 động. Người Tống có thơ rằng:

“Nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên Kim”

Nghĩa là:
“Vì tham voi Giao Chỉ, bỏ mất vàng Quảng Nguyên”

Việc hoạch định biên giới này, có công lao rất lớn của Lê Văn Thịnh qua những lần hội đàm với nhà Tống.

Năm Ất Sửu (1085), Lê Văn Thịnh được phong chức Thái sư – chức quan đại thần to nhất trong triều. Đất nước lúc này đang trong thời kỳ thái bình, dân an, nước mạnh. Nhiều chùa tháp được xây dựng trong thời gian đó. Lê Văn Thịnh không những có công lớn trong lĩnh vực ngoại giao mà còn có nhiều đóng góp trong công việc xây dựng luật pháp thời Lý.

Nhưng lịch sử thật trớ trêu, 11 năm sau (năm 1096), vị Thái sư này lại mắc phải trọng tội tày đình.

Sau những thành công lớn lao của Lê Văn Thịnh cùng với tiếng tăm lẫy lừng mà ông đạt được, hẳn Lê Văn Thịnh đã trở thành một mối lo âu đối với vua quan bấy giờ. Vua thì sợ Lê Văn Thịnh ngày kia có thể làm nguy hại ngôi báu của mình; quan thi sợ Lê Văn Thịnh có biệt tài, có quyền uy to lớn có thể làm phương hại đến địa vị mà họ đang hưởng. Vì vậy đã dựng nên ” sự kiện hồ Dâm Đàm” để loại trừ một đối thủ đáng ngại… Có lẽ vì thế mà họ đã dựa vào sự mê tín trong dân chúng, tạo nên câu chuyện phản nghịch để có cơ hội tẩy trừ một chông gai trước mắt?

II.Vụ án Lệ Chi Viên.

Ngày 27 tháng 7, 1442 (năm Nhâm Tuất), vua Lê Thái Tông đi tuần ở miền Đông, duyệt quan ở thành Chí Linh, Hải Dương. Nguyễn Trãi đón vua ngự ở chùa Côn Sơn, nơi ở của Nguyễn Trãi. Ngày 4 tháng 8 vua về đến Lệ Chi Viên thuộc huyện Gia Định (nay thuộc xã Thái Bảo, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Cùng đi với vua có Nguyễn Thị Lộ, một người thiếp của Nguyễn Trãi khi ấy đã vào tuổi 40 được vua Lê Thái Tông yêu quý vì sắc đẹp, văn chương hay, luôn được vào hầu bên cạnh vua. Khi về đến Lệ Chi Viên, vua thức suốt đêm với Nguyễn Thị Lộ rồi băng hà, lúc này ông mới 20 tuổi. Các quan bí mật đưa về, ngày 6 tháng 8 mới đến kinh sư, nửa đêm vào đến cung mới phát tang. Triều đình đã quy cho Nguyễn Thị Lộ tội giết vua. Nguyễn Trãi và gia đình bị án tru di tam tộc.

Nguyễn Trãi

Đến nay, nhiều nhà sử học đã đi đến thống nhất về nguyên nhân đích thực của vụ thảm án này. Chủ mưu vụ án chính là Nguyễn Thị Anh, vợ thứ vua Lê Thái Tông.

Ngoài suy đoán căn cứ vào sử sách, mới đây các nhà nghiên cứu tham khảo gia phả dòng họ Đinh là con cháu của công thần Đinh Liệt nhà Hậu Lê (công bố trong tác phẩm “Nhìn lại lịch sử” của Phan Duy Kha, Lã Duy Lan, Đinh Công Vĩ) và phát hiện nhiều bài thơ của chính Đinh Liệt để lại. Bài thơ được viết bằng chữ Hán nhưng viết theo kiểu ẩn ý, dùng phép nói lái để người đọc suy đoán rằng: Thái tử Lê Bang Cơ (tức vua Lê Nhân Tông) không phải là con vua Lê Thái Tông.

Vua Lê Thái Tông lúc mất mới 20 tuổi nhưng trước khi mất vua đã có 4 con trai. Con lớn nhất là Lê Nghi Dân, con thứ hai là Khắc Xương, con thứ ba là Bang Cơ (Lê Nhân Tông sau này), con thứ tư là Tư Thành (Lê Thánh Tông sau này). Vì các hoàng tử đều còn quá nhỏ (chỉ chênh nhau một vài tuổi) nên việc tranh chấp ngôi thái tử xảy ra giữa các bà vợ vua Thái Tông. Nguyễn Thị Anh là mẹ của Bang Cơ.

Nghi Dân là con lớn nhất vốn đã được lập làm thái tử dù còn rất nhỏ. Nhưng sau đó Nguyễn Thị Anh được vua sủng ái nên năm 1441 vua truất ngôi của Nghi Dân mà lập Bang Cơ. Bà mẹ của Khắc Xương vốn không được vua sủng ái nên không thể tranh chấp ngôi thái tử. Tuy nhiên, nhiều người trong triều dị nghị rằng, Nguyễn Thị Anh đã có thai trước khi vào cung và Bang Cơ không phải là con vua Thái Tông. Cùng lúc đó, một bà phi khác của vua là Ngô Thị Ngọc Dao lại có mang sắp sinh. Nguyễn Thị Anh sợ chuyện bại lộ thì ngôi lớn sẽ thuộc về con bà Ngọc Dao nên tìm cách hại bà Ngọc Dao. Bà này được vợ chồng Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ hết sức che chở, mang đi nuôi giấu và sinh được hoàng tử Lê Tư Thành năm 1442.

Biết bà Ngọc Dao đã sinh con trai mà ngày càng nhiều người đồn đại về dòng máu của Bang Cơ, nhân lúc con mình còn đang ở ngôi đương kim thái tử, Nguyễn Thị Anh chủ động ra tay trước. Nhân dịp vua Thái Tông về thăm Nguyễn Trãi, sợ Nguyễn Trãi gièm pha mình và nói tốt cho Tư Thành nên bà sai người sát hại vua Thái Tông rồi đổ tội cho vợ chồng Nguyễn Trãi.

Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải thụ án.

Theo sử sách, vài ngày sau khi hành hình gia đình Nguyễn Trãi, triều đình thực ra chính là thái hậu Nguyễn Thị Anh nhiếp chính thay con, ra lệnh giết hai hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng vì trước khi chết Nguyễn Trãi có nói: “Ta hối không nghe lời Thắng, Phúc”. Các nhà nghiên cứu cho rằng chính Đinh Phúc, Đinh Thắng là những người khuyên Nguyễn Trãi sớm tố cáo Nguyễn Thị Anh với vua Thái Tông. Do đó để diệt khẩu, bà sai giết hai người này.

Chính bởi ngôi vua của Lê Nhân Tông có phần “không chính” nên sau này, năm 1459, con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: “Diên Ninh (niên hiệu của vua Nhân Tông) vốn không phải là con của tiên đế (Thái Tông)…”

Dù sao đi nữa, chuyện Bang Cơ có phải con vua Thái Tông thực hay không nhưng cũng như Tần Thủy Hoàng, ngôi chính của ông đã định, bởi thế những người phản lại như Lê Nghi Dân nhà Lê hay tướng Phàn Ô Kỳ nước Tần vẫn bị coi là “nghịch”, là trái lẽ.

Vua Lê Thánh Tông

Năm 1464, vua Lê Thánh Tông rửa oan cho Nguyễn Trãi, cho sưu tầm thơ văn Nguyễn Trãi để lưu lại hậu thế, và ông như đã tạc bia cho Nguyễn Trãi bằng câu thơ:

Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo

Tạm dịch:

Tâm hồn Ức Trai rực rỡ tựa sao Khuê.

III. Vụ án Hương Cảng.
Mùa thu năm 1929, Nguyễn Ái Quốc từ Xiêm về Hương Cảng để hoạt động cách mạng. Lần này, ông lấy tên là Tống Văn Sơ.
Bấy giờ tổ chức cách mạng của ta đang ở nhà số 186 đường Tam Lung, đất Cửu Long thuộc Hương Cảng.
Bỗng vào sáng sớm ngày 6/6/1931 ông Tống bị cảnh sát Anh bất ngờ lao vào khám xét và bắt bớ.
Theo bức điện đánh bằng mật mã của Toàn quyền Đông Dương René Robin đề ngày 6/5/1931, gửi Tô thuộc địa Pháp, chính quyền Đông Dương sở dĩ biết được địa chỉ của đồng chí Tống là do những vụ bắt bớ dây chuyền ở trong nước và nước ngoài, được Anh – Pháp chỉ huy.
Toàn quyền Đông Dương René Robin đã điện cho chính quyền Hương Cảng nhờ bắt hộ lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đồng thời, phái đến Hương Cảng một tên thanh tra mật thám của Sở Mật thám Đông Dương để cùng với lãnh sự Pháp tại Hương Cảng theo dõi vụ này.
Chính quyền nơi đó sẽ thi hành ngay tức thì bản án tử hình mà chúng đã xét xử và kết án vắng mặt lãnh tụ Nguyễn ái Quốc tại Tòa án Vinh từ tháng 10/1929.
Nguyên sáng ngày 6/6/1931, mật thám Anh ở Hương Cảng đến bắt Tống Văn Sơ mà không có công lệnh tức giấy phép của chính quyền cho đi bắt.
Bắt xong, chúng tạm giam tại trụ sở cảnh sát Hương Cảng để chờ đưa xuống tàu thủy của Pháp. Nhưng chỉ vài hôm sau, các đồng chí của ta ở Hương Cảng đã nhanh chóng tới nhờ luật sư Lô-dơ-bi bênh vực.

Luật sư Lô-dơ-by.

Về phần luật sư Lô-dơ-bi, khi biết người bị bắt là Tống Văn Sơ – một lãnh tụ cách mạng An Nam thì ông luật sư bày tỏ lòng kính trọng và nhận lời ngay.
25/6/1931, sau khi tận dụng mọi mối quan hệ cá nhân và nghề nghiệp, ông luật sư đã được gặp mặt Tống Văn Sơ và hỏi những điều cần thiết tối thiểu để lập hồ sơ đưa vụ này ra Tòa án…
Luật sư Lô-dơ-bi là một người rất nổi tiếng tại Hương Cảng, làm chủ nhiệm công ty luật sư “Russ” quy tụ nhiều luật sư nổi tiếng giúp việc, nên ông có thế lực lớn trong giới luật gia.

Hơn nữa, ông đã tham gia dạy Luật học tại trường Đại học Hương Cảng. Nhiều người trong số các chánh án, phó chánh án, ủy viên công tố tại Tòa án Hương Cảng là học trò cũ của ông. Bởi thế uy tín của ông càng rộng lớn.
Ngay từ lần gặp đầu tiên vào ngày 25/6/1931, luật sư Lô-dơ-bi đã tỏ ra rất có thiện cảm với Tống Văn Sơ.
Tham gia tranh tụng tại phiên tòa còn có một số luật sư khác, trong đó có luật sư J.C Gien-kin là phó của luật sư Lô-dơ-bi. Vì trước Tòa, chỉ có một luật sư được phát biểu ý kiến nên luật sư Lô-dơ-bi đã chuẩn bị sẵn bài cãi rồi ủy nhiệm cho luật sư Gien-kin phát biểu.

Luật sư Po-rít, một trong những luật sư cùng Lô-dơ-by minh oan cho Nguyễn Ái Quốc.

Đó là các Ngày trong phiên tòa lần thứ nhất (31/7/1931), quan tòa đã buộc tội “Tống Văn Sơ, tức Nguyễn Ái Quốc là tay sai của Liên Xô, phái viên của Đệ tam Quốc tế cộng sản đến Hương Cảng để phá hoại chính quyền ở đây và vì lẽ đó sẽ bị trục xuất khỏi Hương Cảng vào ngày 18/8/1931, do chiếc tàu thủy An-gi-ê (Algiers) của Pháp chở về Đông Dương”!
Thực tế có rất nhiều tài liệu, bằng chứng để Tòa án Hương Cảng “kết tội” Tống Văn Sơ. Song, với tài năng xuất chúng, các luật sư đã không sa đà vào các tài liệu, chứng cứ – cạm bẫy do Tòa án Hương Cảng giăng ra, mà các vị luật sư đã vô cùng khôn khéo áp dụng nghiệp vụ đúng luật pháp Anh quốc để lật ngược thế cờ, dồn chính quyền Hương Cảng từ thế “quan tòa” trở thành “bị cáo” với những hành vi vi phạm pháp luật (Anh quốc) một cách nghiêm trọng!

Lúc này, đại diện chính quyền và quan tòa thực sự đuối lý và buộc lòng phải đồng ý với luật sư. Song, quan tòa cũng chẳng phải vừa. Họ nghĩ ngay ra một “kế” để đập lại luận điểm của luật sư. Cuối phiên tòa thứ nhất, họ tuyên bố trả tự do cho Tống Văn Sơ.
Thế nhưng, khi Tống Văn Sơ vừa ra khỏi nhà tù một đoạn đường thì bỗng có một tên cảnh sát tiến đến, đưa ra trước mặt ông Tống một giấy phép bắt người.
Mặc dù bất lực và đuối lý hoàn toàn trước lý lẽ sắc bén, đúng “pháp luật” của luật sư và bị cáo, ngay tại phiên tòa thứ hai, vị chưởng lý vẫn tuyên bố xanh rờn: “Ngày 12/8/1931, Thống đốc Hương Cảng đã ký lệnh trục xuất Tống Văn Sơ, kèm theo lệnh bắt phải xuống tàu thủy của Pháp để về Đông Dương vào ngày 18/8/1931
Trong số lính gác tại nhà tù,có một người đã được ông Tống cảm hoá, rất đáng tin cậy. Ông Tống liền viết mấy dòng nhờ người lính gác này trao tận tay cho luật sư Lô-dơ-bi. Người lính gác đó ngay tức khắc chuyển thư tới địa chỉ cần tìm.
Trong vai trò luật sư, ông Lô-dơ-bi đã chính thức gặp nhà chức trách, phê phán họ kịch liệt khi chống lại lệnh tuyên án của Cơ mật viện, để cho cảnh sát bắt lại Tống Văn Sơ một cách trái phép. Và thế là ông Tống lại được thả
Việc đòi tự do cho ông Tống đã thành công, song tính mạng của ông thì vẫn chưa có cách gì đảm bảo, bởi bọn mật thám ở vùng này đa số đã biết mặt Tống Văn Sơ, chúng đều đã được phát ảnh ông Tống để theo dõi, nay nếu để ông Tống đi lại ngoài phố, chắc chắn, bọn mật thám sẽ không tha và khi cần, bọn chúng sẵn sàng thủ tiêu ông Tống để lĩnh món phần thưởng 15 ngàn đô-la mà Toàn quyền Đông Dương đã treo thưởng.
Sau một thời gian bàn tính, ông bà Lô-dơ-bi quyết định giấu ông Tống vào ký túc xá Thanh niên Thiên chúa giáo Trung Hoa tại Hương Cảng.
Khu vực này là của Nhà Chung, cảnh sát Hương Cảng không được quyền vào. Nhờ mối quan hệ của mình, ông bà Lô-dơ-bi đã thu xếp cho ông Tống được ở riêng một phòng kín đáo; hàng ngày không được ra ngoài để tránh con mắt rình mò của mật thám.
Và qua một kế hoạch cải trang, ông Tống đã trốn được khỏi tai mắt bọn mật thám, đến ở nhà luật sư Lô-dơ-by.

Nhà của luật sư Lô-dơ-by, nơi Tống Văn Sơ từng ẩn náu năm 1933.


Trang phục gia đình luật sư Lô-dơ-by chuẩn bị cho Nguyễn Ái Quốc để cải trang lúc rời Hương Cảng

Nhưng vẫn chưa thấy an toàn, vợ chồng Lô-dơ-by đã bày ra một kế hoạch cho ông Tống Văn Sơ đóng giả làm 1 người bạn của ông Phó thống đốc, và đưa ông thoát khỏi vòng vây của bọn mật thám Hồng Kông trót lọt.
Sau khi Tống Văn Sơ thoát khỏi Hương Cảng, luật sư Lô-dơ-bi vẫn chưa cảm thấy yên tâm, ông liền nghĩ ra một “diệu kế” là tung tin Tống Văn Sơ tức lãnh tụ An Nam Nguyễn ái Quốc đã chết trong bệnh viện ở Hương Cảng.
Báo chí bắt được tin đó đã nhanh chóng cho đăng tải ngay. Chỉ mấy hôm sau tờ báo của Đảng Cộng sản Liên Xô Pravda cũng đã đăng tin buồn và Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã tổ chức lễ truy điệu đồng chí Nguyễn Ái Quốc tại trường Đại học Xta-lin.
Rồi một loạt phương tiện báo chí ,kể cả các Báo của Đảng CSVN cũng đăng tin Nguyễn Ái Quốc đã chết.
Vốn đã biết rõ Nguyễn Ái Quốc là Tống Văn Sơ, bọn Pháp – Anh đã ngu ngốc tin rằng: Nguyễn Ái Quốc đã chết.
Sau khi thoát khỏi Hương Cảng, phần vì bận hoạt động cách mạng, phần vì tránh cho những ân nhân của mình bị chính phủ sở tại làm rầy rà, mãi tới năm 1956, Hồ Chủ tịch mới có dịp nối lại mối quan hệ với “cố nhân”.

Hồ Chí Minh đón tiếp gia đình luật sư Lô-dơ-by tại cổng phủ chủ tịch tháng 1 năm 1960.

IV. Vụ án Trần Nguyên Hãn.

Trần Nguyên Hãn (?-1429) là võ tướng trong khởi nghĩa Lam Sơn, có nhiều đóng góp trong sự nghiệp đánh thắng quân Minh xâm lược và lập thành nhà Hậu Lê. Ông cũng là một trong những công thần phải chịu cái chết bi thảm ở triều vua Lê Thái Tổ.

Tượng đài Trần Nguyên Hãn tại chợ Bến Thành, thành phố Hồ Chí Minh

Năm 1429, Trần Nguyên Hãn xin về trí sĩ. Từ trước đó, Nguyên Hãn có nói riêng với người thân cận:
“ Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên, ta không thể yên hưởng vui sướng được. ”
(Câu Tiễn có tướng cổ dài, mép quạ, tức là tướng chim. Có thuyết cho rằng Trần Nguyên Hãn trực tiếp nói câu này với Nguyễn Trãi.)
Lê Lợi y cho Nguyên Hãn được về, nhưng dặn rằng cứ một năm hai lần lại vào triều chầu vua. Trần Nguyên Hãn “thập đạo kinh luân mao ức lý, nhân cựu trạch tử miếu” (sau mười năm chiến chinh, quay về ngôi nhà cũ). Ở đây , ông cho dựng phủ đệ lớn, đóng thuyền to. Việc này bị quy kết là lộng hành và có âm mưu thoán nghịch. Những kẻ không ưa cũng thừa cơ buông lời xúi bẩy. Trần Nguyên Hãn bị Lê Lợi ra lệnh bắt về triều để xét hỏi. Tới bến Sơn Đông, ông tự trầm mình mà chết. Trước khi chết, ông nói :
“ …Tôi với Hoàng thượng cùng mưu cứu nước, cứu dân, nay sự nghiệp lớn đã thành, Hoàng thượng nghe lời dèm mà hại tôi. Hoàng thiên có biết không?

Tháng 5 năm đó, Lê Lợi mới tiến hành ban thưởng tước hầu cho các công thần tham gia khởi nghĩa. Như vậy Trần Nguyên Hãn chưa kịp nhận phong thưởng của một chiến tướng khó nhọc đã bị vua hãm hại.

Quanh cái chết của Trần Nguyên Hãn, không chị riêng vợ con ông chịu dính líu mà các tướng như Bế Khắc Triệu, Nông Đắc Thái cũng bị liên lụy. Hai tướng này bị cho là vây cánh của Trần Nguyên Hãn và bị dẹp.
Năm 1455 , vua Lê Nhân Tông (1443-1459) ra lệnh phục chức cho Trần Nguyên Hãn, truy phong là “Phúc thần”, cho gọi con cháu ra làm quan, nhưng không ai ra.
Đời nhà Mạc, ông được truy phong là Tả tướng quốc, Trung liệt Đại vương. Ông chính là trường hợp rất hiếm trong các công thần khai quốc nhà Lê được nhà Mạc thù địch tưởng nhớ và truy phong, có lẽ một phần lý do vì bản ý nhà Mạc muốn thu phục lòng người. Việc tôn vinh ông khiến “thiên hạ” thấy sự khắc bạc của nhà Lê với người có công trạng.
[sửa] Nguyên nhân
Cái chết của Trần Nguyên Hãn được nhận định là do một hoặc nhiều nguyên nhân:
• Ông nằm trong vòng xoáy tranh giành quyền lực trong triều đình nhà Lê thời hậu chiến. Có ý kiến cho rằng Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo ủng hộ Lê Tư Tề, con trưởng của Lê Lợi trong khi Lê Sát, Lê Ngân, Phạm Vấn… ủng hộ người con thứ là Nguyên Long. Khi phái Lê Sát thắng thế và Lê Tư Tề bị ruồng bỏ, thì ông cũng không tránh khỏi hậu họa là chuyện thường.
• Mối nghi ngại của Lê Lợi đối với triều đại cũ: Lê Lợi từng hại Trần Cảo – người tự nhận là tôn thất nhà Trần, từng được đưa lên nắm ngôi Hoàng đế bù nhìn, từng lấy lý do mẹ của thái tử Nguyên Long có tên là Phạm Thị Ngọc Trần và ép người có họ Trần phải đổi sang họ Trình để kiêng huý. Những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ có thể “quên ” hẳn nhà Trần đi. Mà Trần Nguyên Hãn lại xuất thân là quý tộc nhà Trần, con cháu của hai danh thần nhiều danh vị của triều cũ là Trần Quang Khải và Trần Nguyên Đán.
Mặc dù được nhiều sử gia cũng như người có quan tâm thừa nhận rộng rãi, nhưng cho tới giờ, những giả thiết và nguyên nhân trên không được hậu thuẫn bởi những bằng chứng trong chính sử.
-Lời bình của Trần Quốc Vượng
“ …Phạm Lãi… đi biệt, đổi tên họ, dẫn theo người đẹp [Tây Thi]… bỏ hoàn toàn ham muốn quyền lực.
Nên vua dù có biết (mà biết thực, nên mới cho ghi vào sử), cũng nghĩ ông này bây giờ … không dòm ngó gì tới ngôi báu.
Đàng này…
…Nguyên Hãn lại “dại dột“ làm nhiều nhà cửa, xây bằng gạch hoa (a, có vẻ như xây biệt đô, biệt cung), thuần phục và tậu voi tậu trâu từng đàn đi lại rầm rập, lại “đóng thuyền, chở binh khí“ nữa, ra cái dáng “sứ quân“, “nghênh ngang một cõi“.
Thế thì chưa biết “động cơ chủ quan“ như thế nào, chứ như thế thì bịt sao nổi miệng thế xầm xì phao tin đồn (cơ chế của tin đồn là mối quan tâm tới một sự kiện nhưng thiếu thông tin về sự kiện đó). Người ta vu cho ông làm phản. Và ông bị giết hại (hay bị “bức tử“, “tự sát“, hay là “chết đuối“…thì cũng vậy thôi) là phải.“

V.Vụ án Lê Văn Duyệt

1. Cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi – Con nuôi của Lê Văn Duyệt.

Năm Tân Mão (1831), vua Minh Mạng (trị vì 1820-1840) bắt đầu thi hành chính sách trung ương tập quyền, cải tổ nền hành chánh do vua Gia Long (trị vì 1802- 1819) đặt ra trước đây , bỏ chức tổng trấn Bắc thành (đại diện vua trông coi các tỉnh Bắc Kỳ) và Gia Định thành (đại diện vua trông coi các tỉnh Nam Kỳ) , đổi trấn làm tỉnh, đặt chức tổng đốc, tuần vũ, bố chính sứ, án sát sứ và lãnh binh để cai trị các tỉnh, đồng thời đặt tất cả các tỉnh trực thuộc chính quyền trung ương. Chức tổng trấn Gia Định thành được chính thức bãi bỏ sau khi vị tổng trấn cuối cùng là Lê Văn Duyệt từ trần ngày 30-7 Nhâm Thìn (25-8-1832). Cũng trong năm nầy, vua Minh Mạng sai đổi tên Quy Thành ra Phiên An Thành, còn được đọc là thành Phan Yên. Tỉnh Phan Yên (hay Phiên An tức tỉnh Gia Định) do Nguyễn Văn Quế làm tổng đốc, Bạch Xuân Nguyên làm bố chính, Nguyễn Chương Đạt làm án sát.

Theo chính sử nhà Nguyễn, Bạch Xuân Nguyên là một vị quan tham lam tàn ác. Khi đến nhậm chức bố chính sứ ở Phan Yên, Bạch Xuân Nguyên nói rằng phụng mật chỉ của triều đình truy xét việc riêng của Lê Văn Duyệt, trị tội những người tôi thuộc dưới quyền Lê Văn Duyệt khi ông làm tổng trấn. Theo tác giả Trương Vĩnh Ký, khi Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành, viên quan Huỳnh Công Lý có con gái hầu vua Minh Mạng. Lý ỷ thế con gái, làm nhiều điều trái ngược và xúc phạm cả cô hầu của Lê Văn Duyệt. ông Duyệt trình tâu sự việc Lên vua Minh Mạng. Nhà vua có ý bao che, ra lệnh giải Lý ra Huế xét xử. Lê Văn Duyệt lại dùng “Thượng Phương Kiếm” là kiếm vua ban cho được quyền “tiền trảm hậu tấu”chém trước tâu sau), chém Huỳnh Công Lý, rồi cho ướp muối thủ cấp họ Huỳnh gởi ra kinh đô, trên nắp thùng đề dòng chữ: “Phụng thừa thánh chỉ, xử trảm tội nhân “. Trước sự đã rồi, vua Minh Mạng đành bỏ qua. Nay dựa vào chuyện nầy, Bạch Xuân Nguyên cho rằng Lê Văn Duyệt phạm tội khi quân. Bạch Xuân Nguyên còn cho rằng Lê Văn Duyệt đồng lõa với phó vệ uý Lê Văn Khôi khai thác trái phép rừng cây, nên giáng chức Khôi, và muốn gởi Khôi ra Huế để triều đình xét nghị.

Ông Khôi nguyên tên là Nguyễn Hữu Khôi , là một thổ mục Cao Bằng, phạm tội chống chính quyền sở tại, bỏ trốn vào Thanh Hóa. Khi Lê Văn Duyệt làm kinh lược Thanh Nghệ năm Kỷ Mão (1819), ông Khôi ra đầu thú. Lê Văn Duyệt tin dùng ông Khôi, đổi tên là Lê Văn Khôi. Lê Văn Khôi theo dưới trướng Lê Văn Duyệt, vào Gia Định thành, làm đến phó vệ uý Minh Nghĩa vệ. Nay Lê Văn Khôi vừa lo chuyện Bạch Xuân Nguyên truy cứu việc Lê Văn Duyệt, vừa lo lộ chuyện tự thân ông đã từng phạm lỗi ở Cao Bằng, nên quyết định nổi dậy.

Đêm 18 tháng năm, năm Quý Tỵ (5-7-1833), Lê Văn Khôi cùng với 27 người lính thuộc nhóm hồi lương, tấn công dinh bố chánh sứ, giết Bạch Xuân Nguyên. Nghe có nội biến, tổng đốc Nguyễn Văn Quế vội vàng tìm cách trấn áp, cũng bị giết luôn. Án sát sứ và viên lãnh binh chạy thoát. Lê Văn Khôi chiếm thành. Quân sĩ đều về theo họ Lê, trong đó có một người con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Hán. Lê Văn Khôi tự xưng là Đại nguyên suý, tổ chức cầm quyền như một triều đình riêng, rồi sai quân đánh lấy hết các tỉnh (Nam Kỳ) thuộc Gia Định thành trước đây.

Được tin cấp báo, triều đình cử Tống Phúc Lương, Phan Văn Thúy, Nguyễn Xuân, Trương Minh Giảng, Trần Văn Năng đem quân thủy bộ và cả tượng binh vào đánh Lê Văn Khôi, chiếm lại các tỉnh. Lê văn Khôi rút vào thành Phan Yên (Phiên An), đóng cửa chống giữ, và sai người cầu cứu Xiêm La (Thái Lan). Quân triều đình một mặt đánh đuổi quân Xiêm, một mặt vây chặt thành Phan Yên. Thành nầy do Nguyễn Phúc Ánh (sau là vua Gia Long) ra lệnh xây năm Canh Tuất (1790), được gọi là Quy thành (thành Rùa) hay Gia Định kinh, và được Lê Văn Duyệt gia cố năm Canh Dần (1830) , cho nối vách thành lên cao khoảng 0,5 m so với thành cũ, và dùng toàn đá ong rất chắc chắn.

Quân triều đình vây đánh thành Phan Yên nhiều lần không thành công. Cuối năm Giáp Thìn (1834), Lê Văn Khôi bị bịnh từ trần, mà mãi đến tháng 7 năm Ất Tỵ (1835) quân triều mới hạ được thành, vào bắt và giết tất cả 1.137 người, đem chôn vào một chỗ gọi là ‘mả biền tru’,trên xây một trụ đề “Ngụy tặc nhứt võng trinh tru ” (quân loạn bắt chung một lưới bị giết hết) thường được gọi là “mả ngụy”. Ngoài ra, còn có sáu người bị bắt, và bị đóng cũi giải về kinh đô Huế, trong đó có một linh mục người Pháp tên là Marchand (có tên Việt là cố Du), hai người Trung Hoa tên Mạch Tấn Giai, Lưu Hằng Tín, và một người con của Lê Văn Khôi mới bảy tuổi tên Lê Văn Viên. Khi đến Huế, tất cả sáu người đều bị xử lăng trì.

Vua Minh Mạng ra lệnh san phẳng thành Phiên An tức Quy Thành vì nhà vua sợ rằng thành trì kiên cố có thể là căn cứ cho một cuộc nổi dậy khác tái diễn. Năm sau, nhà vua lại ra lệnh xây một thành Sài Côn mới gọi là Phụng thành, hơi lệch về hướng đông bắc của Quy Thành, tại làng Nghĩa Hòa, huyện Bình Dương lúc ấy. Trong khi đó, triều đình bắt đầu nghị xét vụ án Lê Văn Duyệt.
2. Hành trạng ông Lê Văn Duyệt

Lê Văn Duyệt trên mặt trước tờ 100 đồng in năm 1966 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Nguyên quán gia đình Lê Văn Duyệt ở phủ Quảng Nghĩa (lúc đó thuộc dinh Quảng Nam). Phụ thân ông là Lê Văn Toại dời vào Định Tường, sinh được bốn trai. ông Duyệt là con trưởng, sinh năm Giáp Dần (1764), bẩm sinh khuyết tật bộ phận sinh dục, người thấp nhỏ, thông minh, nhưng nóng nảy. Năm canh tý (1780), Lê Văn Duyệt được tuyển dụng làm thái giám trong dinh chúa Nguyễn, phụ trách việc nội đình, rất đắc lực, nên dần dần lên đứng đầu hai đội thuộc nội. Lê Văn Duyệt theo sát bước đường bôn tẩu của Nguyễn Phúc Ánh, kể cả hai lần chạy sang Xiêm La (Thái Lan) vào các năm 1784 và 1785. Sau khi Nguyễn Phúc Ánh chiếm hẳn được Sài Côn và toàn vùng Gia Định năm Kỷ Dậu (1789), nhà chúa cho Lê Văn Duyệt chiêu tập mộ binh, thuộc tả quân. Từ đó, Duyệt tham gia những cuộc hành quân chống Tây Sơn, bắt đầu nổi tiếng trong trận giải vây Diên Khánh năm ất mão (1795). Ngôi sao Lê Văn Duyệt dần dần sáng chói, và rực rỡ nhất trong trận đánh đến sạch tan tành lực lượng hải quân của Tây Sơn tại cửa Thị Nại (Quy Nhơn) năm Tân Tậu (1801). Trận đánh nầy được chính sử nhà Nguyễn gọi là “trung hưng đệ nhất võ công” (Võ công oanh liệt nhất của công cuộc trung hưng nhà Nguyễn), và người chiếm công đầu, can đảm liều lĩnh thực hiện trận hỏa công nầy, chỉ biết tiến chứ không chịu lùi là Lê Văn Duyệt. Sau trận nầy, Nguyễn Văn Thành ở lại cầm chân các tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu và Võ Văn Dũng (đang vây Quy Nhơn do Võ Tánh và Ngô Tòng Châu giữ); chúa Nguyễn dẫn quân ra đánh Phú Xuân, sai Lê Văn Duyệt và Lê Chất đi trước. Cả hai hợp lực đánh hạ Phú Xuân nhanh chóng. Vua Cảnh Thịnh (nhà Tây Sơn) phải bỏ chạy ra Bắc hà. Ngày mồng 2 tháng 5 năm Tân Tậu (1801), Nguyễn Phúc Ánh ngược dòng sông Hương, trở về tái chiếm thành Phú Xuân.

Sau mặt trận Phú Xuân, một mặt chúa Nguyễn gởi quân truy đuổi vua Cảnh Thịnh, một mặt gởi các tướng Lê Văn Duyệt, Lê Chất, Nguyễn Văn Thành quay vào giải vây Quy Nhơn, nhưng đã trễ vì Võ Tánh và Ngô Tùng Châu trong thành Quy Nhơn biết không chống cự nổi, đành tự tử theo thành. Các tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng tuy chiếm được Quy Nhơn, nhưng cũng không chịu nổi áp lực của quân chúa Nguyễn từ hai phía bắc và nam đổ đến tấn công, nên phải bỏ Quy Nhơn tháng 3 năm Nhâm Tuất (1802), theo đường núi qua Ai Lao, ra Nghệ An.

Ngày 2-5- nhâm tuất (l-6-1802), Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi vua tại Phú Xuân, lấy niên hiệu là Gia Long, rồi tự mình đem quân ra bắc, đánh dẹp lực lượng Tây Sơn còn lại. Lê Văn Duyệt được thăng Khâm sai chưởng tả quân Bình Tây tướng quân, và Lê Chất làm Khâm sai chưởng hậu quân Bình Tây tướng quân, cùng nhau dẫn quân đi trước. Lực lượng nhà Nguyễn tiến chiếm Thăng Long, và bắt được vua Cảnh Thịnh dễ dàng, chấm dứt nhà Tây Sơn.

Sau việc nước đến việc nhà. Vua Gia Long thấy Lê Văn Duyệt là hoạn quan, không thể có con nối dòng, nên nhân cuộc gặp gỡ với Lê Văn Toại, phụ thân Lê Văn Duyệt, từ Gia Định ra Phú Xuân thăm con năm quý hợi (1803), nhà vua chỉ định người con của Lê Văn Phong, em của Lê Văn Duyệt, tên là Lê Văn Yên, làm con nối dòng cho Duyệt. Lê Văn Duyệt được vua Gia Long xem là một trong những vị tướng thân cận nhất của nhà vua. Mỗi lần đi tuần hành phương xa như ra Bắc thành, vào Quảng Nam, vua đều giao Phú Xuân cho Lê Văn Duyệt bảo vệ, hay mỗi khi có loạn lạc nguy hiểm, vua cũng giao cho Lê Văn Duyệt cầm quân đánh dẹp, nhất là các cuộc nổi dậy của các sắc dân miền núi ở Quảng Ngãi. Lê Văn Duyệt đi đến đâu, ở đó yên tĩnh, vì Lê Văn Duyệt là một vị tướng trị quân rất nghiêm minh, không cho thuộc cấp sách nhiễu dân chúng; đồng thời ông vừa dùng quân sự, vừa dùng chính trị để thu phục nhân tâm, và rất cương quyết trong khi thi hành luật lệ, nên dân chúng vừa nể, vừa phục, và vừa sợ.

Năm Nhâm Thân (1812) , vua Xiêm (Thái lan) s ai quân xâm lấn Chân Lạp (Cambodia). Vua Chân Lạp chạy sang Gia Định tỵ nạn. Vua Gia Long liền cử Lê Văn Duyệt làm tổng trấn Gia Định thành để giải quyết luôn việc Chân Lạp. Lê Văn Duyệt thương thuyết với sứ xiêm và sắp đặt đưa vua Chân Lạp về nước. Khi sứ Xiêm đem báu vật tặng Lê Văn Duyệt, ông trình lên triều đình xin ý kiến chứ không nhận làm của riêng. Vua Chân Lạp trở về nước, tặng nước ta 88 thớt voi. Lê Văn Duyệt tâu với vua Gia Long rằng nước Chân Lạp mới phục hồi, kho tàng còn trống, xin tính giá voi thành tiền trả cho Chân Lạp, liền được nhà vua chấp thuận.

Năm Ất Hợi (1815), Lê Văn Duyệt được triệu về kinh đô . Lúc đó đang xảy ra vụ án Nguyễn Văn Thuyên. Vua Gia Long giao vụ việc cho ông Lê tra xét. Sau một lần thẩm vấn, Nguyễn Văn Thuyên nhận tội, đưa đến sự kết thúc bi thảm vụ án nầy.

Trong thời gian đó, Lê Văn Duyệt vào Quảng Ngãi trước sau bốn lần để tiểu trừ người miền núi nổi dậy tại đây. Năm Kỷ Mão (1819) , hai trấn Thanh Hóa, Nghệ An mất mùa, dân tình đói khổ, trộm cướp nổi lên quấy phá, quan quân sở tại không dẹp yên được Vua Gia Long liền cử Lê Văn Duyệt làm kinh lược địa phận hai trấn đó. Vừa dùng quân sự, vừa dùng chính trị, không bao lâu Lê Văn Duyệt ổn định được tình hình. Hơn 900 người ra đầu thú, đều được ông Lê tâu xin triều đình khoan hồng và tha mạng. Trong nhóm nầy, có Nguyễn Hữu Khôi sau đổi tên là Lê Văn Khôi.

Vua Gia Long từ trần ngày 19 tháng chạp năm Kỷ Mão (3-2-1820). Trước khi mất , nhà vua cho triệu Lê Văn Duyệt cùng thượng thư bộ lễ là Phạm Đăng Hưng dặn dò hậu sự. Sau khi vua Minh Mạng (trị vì 1820- 1840) lên ngôi, nhà vua cử Lê Văn Duyệt vào làm tổng trấn Gia Định dân thứ nhì tháng 5 năm canh thìn (1820) với quyền hạn rất lớn “thăng giáng quan lại, lấy lợi trừ hại, việc thành, mưu kế ngoài biên, đều được tiện nghi làm việc”, kể cả quyền “tiền trảm hậu tấu” (giết trước tâu sau). Hành động nầy của vua Minh Mạng có thể do hai nguyên nhân. Thứ nhất nhà vua e ngại uy tín lê Văn Duyệt quá lớn, tính tình lại nóng nảy, có thể gây ra đảo chánh cung đình vì lúc đó cháu đích tôn của vua Gia Long, hoàng tôn Mỹ Đường (Đán), con hoàng tử Cảnh, cháu gọi Minh Mạng bằng chú, khá lớn tuổi và vẫn còn sống. Trong triều đình đã từng có dư luận đề nghị vua Gia Long chọn Mỹ Đường để kế vị ngôi báu. Thứ nhì tình hình Gia Định lúc đó bất ổn. Một nhà sư người Chân Lạp (Cao Miên) tên là Kế, dùng phù chú mê hoặc lòng dân, tự xưng Chiêu Vương, xúi người Chân Lạp nổi dậy, cướp bóc các vùng biên giới giữa hai nước Việt Miên. tình hình nầy cần một nhà cai trị tài giỏi và cứng rắn, lại được vua tin cẩn giao toàn quyền hành động tại chỗ. Người đó không ai thích hợp hơn Lê Văn Duyệt.

Trở vào Gia Định, Lê Văn Duyệt sai quân dẹp yên ngay loạn sư Kế. Để giữ gìn kỷ cương quan lại, viên Phó tổng trấn là Huỳnh Công Lý phạm tội tham ngược liền bị Lê Văn Duyệt ra lệnh xử tử, dầu y có con gái là hầu thiếp của nhà vua. Lê Văn Duyệt cai trị rất nghiêm minh. ông còn thi hành một chính sách ngoại giao uyển chuyển, ôn hòa với các nước tây phương, không gây trở ngại trong việc các giáo sĩ Thiên Chúa giáo truyền đạo, giữ vững việc bảo hộ Chân Lạp, làm cho Xiêm La nể sợ, và cả Miến Điện cũng rất mến phục.

Năm Quý Mùi (1823), Lê Văn Duyệt về triều (Huế) phúc trình tình hình Gia Định thành, xin vua thu dụng con cháu các công thần đã hy sinh thời Nguyễn Phúc Ánh còn bôn tẩu ở miền NamNăm sau (1824), ông về triều dân nữa, gặp lúc lổng trấn Bắc thành là Lê Chất cũng về triều. Lê Chất bàn rằng: “Bây giờ triều đình nắm cả quyền cương, mở mang trăm việc tiến dùng văn thần, trách thành chính trị, lũ chúng ta đều là võ biền. xuất thân chỉ biệt thẳng lòng làm ngay, hoặc sai lễ pháp, tự điển lúc thái bình khác với lúc mới dựng triều đình, chả gì bằng ta dâng biểu xin thôi việc hai thành ” Lê Văn Duyệt đồng ý. Hai ông liền cùng dâng sớ xin rút lui. Vua Minh Mạng không chấp thuận, sai hai ông trở về nhiệm sở làm việc. Trong năm nầy, hoàng thân Mỹ Đường bị tố cáo thông dâm với mẹ [?], vua sai Lê Văn Duyệt bắt gìm nước chết.

Nhân lễ đại khánh tiết Thuận Thiên Cao hoàng hậu năm Đinh Hợi (1827) , vợ thứ vua Gia Long, mẹ ruột vua Minh Mạng, được 60 tuổi, Lê Văn Duyệt ra Huế triều yết. Vua Minh Mạng nhận xét về Lê tả quân như sau: “Người [ta] nói lê Văn Duyệt xuất tích cương lệ [cứng rắn], nay trẫm xem ra thì Duyệt trung thuận, nghĩa thờ vua vẫn giữ được, những tính bình nhật cương lệ đều rửa sạch hết..” Ngoài việc tăng phẩm hàm cho cha mẹ Lê Văn Duyệt, khi Lê Văn Duyệt trở vào Gia Định, vua Minh Mạng ra dụ rằng: “Gia Định là trọng trấn phương Nam, không nên vắng lâu. Ngươi ngày thường vẫn được người Xiêm sợ, nay lại giữ một mặt ấy có thể hùng dũng như hổ báo ở núi. Cũng là thâm ý chê phục người xa vậy. ”

Dưới sự cai trị của Lê Văn Duyệt, tình hình Gia Định thành chẳng những rất ổn định mà còn phát triển mạnh mẽ, kinh tế càng ngày càng phồn thịnh, dân số càng ngày càng tăng trường. Ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (25-8-1832), Lê Văn Duyệt từ trần. Vua Minh Mạng tặng hàm Thái bảo, cho sa màu, gấm màu, 3.000 quan tiền và cho tế một đàn.

3. Vụ Án Lê Văn Duyệt

Khi Lê Văn Khôi vừa nổi lên ở Gia Định năm 1833, vua Minh Mạng và triều đình đã lên tiếng trách cứ Lê Văn Duyệt dung túng nuôi dưỡng quân phiến loạn thời ông còn sống. Dẹp xong Lê Văn Khôi năm 1835, viên quan Đô sát viện là Phan Bá Đạt dâng sớ kể tội Lê Văn Duyệt như sau: “Duyệt trước ở Gia Định lấy lũ giặc Khôi giặc Nhã làm nanh vuốt, lấy lính Bắc thuận, Hồi Lương làm lòng bụng, lũ kia tính phóng túng, khó uốn nắn, vốn không phải là nguồn thiện, cho nên Duyệt chết chưa bao lâu giặc Khôi giặc Nhã lập tức đem lính Hồi Lương Bắc Thuận cùng tiêu hạ là lũ gã Troi hát chèo, giữ thành làm phản, nhân mà cổ hoặc nhân tâm, vạ lây đến các tỉnh Nam Kỳ, đồng phiền đại đội quan quân tiến đánh. Thanh tra năm tỉnh dẫu đã thu phục mà nơi giặc ở là thành Phan Yên, bọn giặc còn giữ. Những cái gì còn ở trong thành đều phá sạch cả. Quan quân đánh dẹp nhiều năm, thương vong cũng nhiều, tai vạ không thể nói hết được. Nay Duyệt đã chết sự trạng không thể xét rõ được nhưng xem con nuôi nó là Lê Văn Hán trước đây ra vào trong thành cùng giặc Khôi trong ngoài ứng nhau. đến lúc bọn giặc đến nhà thờ Duyệt bắt Bạch Xuân Nguyên trói lại đốt làm đèn để tế Duyệt thì chỗ ẩn cũng hiện, chỗ tâm tích Duyệt không bói cũng biết rồi. Nếu không nói rõ tội danh sợ không lấy gì làm răn sau nầy. Vậy xin truy lấy quan chức, vợ con giao bộ Hình tra rõ. Làm tội năng nhẹ tỏ phép nước.”

Dựa trên cáo trạng của quan viên Đô sát viện. vua Minh Mạng xuống dụ kể hết những “tội lỗi” của lê Văn Duyệt, và nêu ra câu hỏi: “Vậy Lê văn Duyệt cùng con cháu nó nên trị tội như thế nào giao đình thần nghĩ tâu”.

Câu hỏi của nhà vua là lời mở ngỏ cho triều đình mặc sức phụ họa. Sau vài ngày bàn thảo, các quan Hà Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh cùng dâng sớ luận tội Lê Văn Duyệt vào sáu điều bội nghịch như sau:

” Năm Minh Mạng thứ 4 [1823], Duyệt tự tiện cho tư nhân lũ Phan Đạt giả đi do thám cưỡi thuyền riêng đi Miến Điện trong ấy thư tín tất có giao thông chiêu nạp. Lấy nghĩa nhân thân không ngoại giao đem vào luật thì Duyệt để lòng làm việc không thể hỏi đến được, tội nầy là một.

“2. đến khi sứ giả Miến Điện đến thành mới đem việc tâu. vua đã dụ rằng đại nghĩa quan hệ không có lẽ vội nghe lời nước ngoài mà bỏ hòa hiếu, gây cừu thù. Mà Duyệt còn cố xin dung nạp, may mà triều đình trả lại đồ cống cho sứ giả về, danh nghĩa giải bày được minh bạch với thiên hạ, thế là Duyệt không những mưu việc nước không tốt và muốn chấp ý kiến để lấp việc làm bậy đi, tội nầy là hai.

“3. Năm Minh Mạng thứ 7 [1826], thuyền Anh Cát Lợi bi gió dạt vào Bình Thuận đã có chỉ cho sở tại hộ tống mà Duyệt nhân xin đưa đến Gia Đinh và nói rằng trấn thần kiến thức không bằng tôi có quyền khiến cho chúng sợ tướng lệnh binh uy, nhưng không biết hai chữ “có quyền ” từ xưa vẫn nghiêm răn mà dám nghiễm nhiên nhận lấy, kiêu rông biệt là nhường nào, tội nầy là ba.

“4. Năm Minh Mạng thứ 4 [1823], thị vệ Trần Văn Tình từ Gia Đinh làm việc công về đem sự tích Trần Nhật Vĩnh riêng làm phó ngôi mua trộm hàng hóa tâu lên. Duyệt biết tin ấy năm sau vào chầu xin chém Trần Văn Tình nếu không thì trả chức tổng trấn. Lập tức xin từ chức tổng trân. Như thế là yêu sách vua, yêu sách vua là vô quân tội chả gì lớn bằng. Và xin chém một Trăn Văn Tình là muốn khóa miệng buộc lưỡi người ta lại, không dám bàn lỗi của nó. Dụng tâm càng là hiểm giảo quá. Tội nầy là bốn.

“5. Trần Nhật Vĩnh đã có chỉ bổ ký lục trấn Vĩnh Thanh [Vĩnh Long], mà Duyệt dám yêu xin lâu thành. Lê Đại Cương đã có chỉ tuyên triệu về, mà Duyệt cố xin lưu làm việc phủ Lạc Hóa cố ý làm trái chiếu chỉ mà trong tập tâu có câu rằng: theo lời yêu thỉnh của tôi thì có ích chính trị ngoài biên. Lại xin chi lương cho thư lại các vệ cơ đội trong tờ tâu có câu nói rằng: Lão thần ở biên khẩn tất phải lo là tín dụng không chuyên, trong ấy lời lẽ đều là bất cung. Tội nầy là năm.

“6. Năm Minh Mạng thứ 6 [1825], làm một tập vì Lê Chất khẩn xin tăng thọ. Có câu nói rằng đấy là thuốc khởi tử hồi sinh tiệc gì mà chả làm, vả phận làm phiên khẩn mà dám dung đảng kết giao như thê không phải là thần hạ. Tội nầy là sáu.

Lại nghe Duyệt nói với người rằng xin được thổ phục tiên có câu rằng.

” Tá Hán tranh tiên chư Hán tướng,
Phụ Chu minh hậu thập Chu thần.
Tha niên tái ngộ Trần Kiều sự.
Nhất đản hoàng bào bức thử thần. ”

Dịch nghĩa:

“Giúp Hán trước hơn chư hán tướng,
Phò Chu há kém mười chu thần.
Việc Trần Kiệu sau nầy lại gặp,
Mặc áo hoàng bào chối được du?”

Người không có lòng bất thần quyết nhiên không dám đem những câu nói bất thần ấy nói ra miệng cho mọi người nghe. Bởi thế tiêu hạ bộ khúc, tập thành thói quen, chết chưa nguội xác đã có án to nầy. xin đem cả các khoản trên nãy giao đình thần kết án cho xứng đáng tội danh. ”

Một lần nữa, vua Minh Mạng đưa bản luận tội nầy ra trước triều đình để các quan bàn luận. Đình thần đã thảo ra bản án gồm bảy điều để khép ông vào tội xử trảm (chém đầu), hai điều vào tội xử giảo (thắt cổ), và một điều vào tội sung quân (bãi chức, đày làm lính).

* Bảy tội đáng xử trảm: sai người riêng đi Miến Điện kết ngoại giao; xin tống thuyền Anh Cát Lợi đến thành để tỏ có quyền; xin giết thị vệ Trần Văn Tình để khóa miệng người; kháng sớ giữ lại người được tuyên triệu điệu bổ quan viên; cậy bè đảng xin tăng thọ cho Lê Chất; chứa riêng giấy đóng ấn vua sẵn; gọi mả cha là lăng, nói với người, xưng là “cô”.

* Hai tội đáng xử giảo: cố xin dung nạp Miến Điện để thỏa việc làm bậy; nói với người rằng xin được thơ phụ tiên có câu “Trần Kiều hoàng bào”.

* Một tội đáng xử sung quân: tự tiện sai biền binh tu tạo tàu thuyền.

Ngoài ra, bản án còn thêm rằng Lê Văn Duyệt thực là đầu tội về vụ Lê Văn Khôi nổi dậy ở thành Phiên An, chiếu theo luật mưu phản, khép vào tội lăng trì (xẻo thịt, cắt chân tay cho đến chết), nhưng vì lê Văn Duyệt đã qua đời, nên bản án đề nghị thu lại các bằng sắc triều đình đã phong cho Lê Văn Duyệt, phá hủy quan tài Lê Văn Duyệt để chém xác, thu hồi những cáo sắc đã phong tặng cho tổ tiên và bà con Lê Văn Duyệt, xử tội và tịch thu tài sản toàn bộ thê thiếp và các cháu của ông.

Vua Minh Mạng ra lệnh cho bộ Hình sao chép bản án gởi đi các địa phương để các viên quan đốc phủ có ý kiến phản hồi. Các quan đốc phủ đều về hùa với bản án. Có người còn đề nghị xử nặng hơn nữa, chỉ có Vũ Xuân Cẩn, tổng đốc Bình Phú (Bình Định, Phú Yên) và Hoàng Văn Trạm tổng đốc Ninh Thái (Quảng Ninh, Thái Nguyên), đã yêu cầu lấy công bù tội, và đề nghị xét lại làm nhẹ bản án.

Cuối cùng vua Minh Mạng quyết định ra lệnh cho viên tổng đốc Gia Định san phẳng ngôi mộ lê Văn Duyệt, dựng một tấm bia đá trên có khắc tám chữ “quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ ” (nơi hoạn quan chuyên quyền Lê Văn Duyệt chịu tội theo luật pháp), xử trảm giam hậu thê thiếp và các cháu của ông. Năm 1838 (Mậu Tuất), tất cả những người trong gia đình nầy chưa bị giết đều bị đưa lên Cao Bằng, và con trai thì sung vào quân ngũ ở miền biên viễn.

4. Bản Án Được Cứu Xét Lại

Vua Minh Mạng từ trần vào đầu năm 1841, hoàng trưởng tử lên kế nghiệp tức vua Thiệu Trị (trị vì 1841-1847). Nhân dịp lễ đăng quang, vua Thiệu Trị ra lệnh đại xá; các người trong họ nhà Lê Văn Duyệt đều được tha.

Việc cứu xét lại bản án Lê Văn Duyệt bắt đầu từ khi vua Tự Đức (trị vì 1847-1883) lên nối ngôi vua Thiệu Trị năm 1847. Năm 1848 nhạc gia của vua Tự Đức là Đông các đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn, phụ thân của bà Lệ Thiên Anh hoàng hậu, vợ vua Tự Đức, dâng sớ xin nhà vua xem xét trở lại vấn đề Lê Văn Duyệt. Trước kia, khi được vua Minh Mạng hỏi ý, Vũ Xuân Cẩn đang làm tổng đốc Bình Phú (Bình Định, Phú Yên), đã yêu cầu triều đình lấy công bù tội đối với Lê Văn Duyệt. Nay nhân dịp vua mới lên ngôi, Vũ Xuân Cẩn làm sớ tâu rất cảm động và ông kết luận :

” … Và lại những khoản lũ ấy bị can thành án còn đấy đã đăng lên quốc sử làm tin, nếu được ơn trên mở sách ra xem thì thủy chung tâm tích hành trạng một đời của lũ ấy rõ rành minh bạch, tôi cũng không dám biện bạch nhiều. Cúi mong đặc cách gia ơn sức xuống tra hỏi những dòng dõi lũ ấy hiện còn, đứa nào có thể thu khiển được thì cho chức hàm nho nhỏ cho được nhờ chút lộc nước, nếu đứa nào không tài năng gì cũng cho miễn binh đao chung thân để chủ việc thờ cúng để tỏ lòng trung hậu. . . ”

Sau tấu sớ nầy, vua Tự Đức xuống chiếu xóa tội Lê Văn Duyệt. Trước hết, nhà vua ra lệnh bộ Binh tìm hỏi cháu chắt của họ Lê trong quân ngũ. Bộ Binh tìm được Lê Văn Điển là cháu Lê Văn Duyệt, cất nhắc lên làm cai đội.

Năm 1849, kinh thành có bệnh dịch. Các quan văn võ gồm 32 người do Tạ Quang Cự (bên võ) và Hà Duy Phiên (bên văn) đứng đầu viết sớ nói rằng: “Dịch lệ là quỷ đi làm việc, quỷ có chỗ ở thì không làm ma quái nữa. Cho nên Bá Hữu hiện ra ma quỷ, Tử Sản cho lập nhà thờ thì ma quỷ ấy thôi ngay. ..” Các quan dựa vào điều nầy xin vua Tự Đức xóa tội cho Lê Văn Duyệt và gia đình. Vua Tự Đức liền ra lệnh tỉnh Gia Định dẹp bỏ tấm bia đá “quyền yểm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ”, làm lại ngôi mộ Lê Văn Duyệt; sai tỉnh Định Tường trả lại 32 mẫu ruộng của phụ thân Lê Văn Duyệt cho Lê Văn Niên, người cháu gọi tả quân bằng ông bác. (Số ruộng nầy đã bị sung công khi vụ án xảy ra.) Hai ngôi mộ của song thân Lê Văn Duyệt ở thôn Long Thịnh (Định Tường) cũng được các quan chức địa phương tu sửa lại.

Người con thừa tự của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yên, gọi ông bằng bác. Lê Văn Yên là con Lê Văn Phong, em của ông Duyệt, được vua Gia Long chọn làm con nuôi ông Duyệt. Lê Văn Phong gia nhập quân ngũ của Nguyễn Phúc ánh, lập nhìêu chiến công. Sau khi Vua Gia Long lên ngôi năm 1802, Lê Văn Phong lên đến chức đô thống chế, được cử làm Bắc thành phó tổng trấn. Lê Văn Phong tự nghĩ mình ít học, khó giữ chức lớn nên xin nghỉ việc, vua Gia Long không chịu. Năm 1824 (Giáp Thân), Lê Văn Phong về Huế dự chầu, xin về quê thăm gia đình, rồi bị bệnh qua đời.

Lê Văn Yên được phong kiêu ky đô uý năm 1817. Năm Quý Mùi (1823), dưới thời vua Minh Mạng, Yên cưới công chúa thứ 10 của vua Gia Long là Nguyễn Phúc Ngọc Ngôn. Dù làm phò mã (rể vua), sau vụ án Lê Văn Duyệt, Lê Văn Yên vẫn bị anh vợ là vua Minh Mạng ra lệnh giết năm Ất Mùi 1835. Em ruột của Lê Văn Yên là Lê Văn Tề cũng bị giết một lần với anh. Thân phụ của họ là Lê Văn Phong, dầu qua đời đã lâu, cũng bị tước hết phẩm hàm.

Nay vua Tự Đức quyết định truy phục nguyên hàm thống chế cho Lê Văn Phong, bổ dụng làm quan hai người con trai của Lê Văn Yên là Lê Văn Diễn và Lê Văn Minh, cũng như hai người con trai của Lê Văn Tề là Lê Văn Dũng và Lê Văn Hợp.

Dầu vua Tự Đức đã sửa chửa những sai lầm trong vụ án Lê Văn Duyệt nhưng bản án nầy cũng đã để lại một ấn tượng không phai trong lịch sử triều đình vua Minh Mạng. Ai cũng biết, kể cả vua Gia Long và vua Minh Mạng, Lê Văn Duyệt là người cứng cỏi, nhưng ai cũng biết Lê Văn Duyệt rất có công và trung thành với gia đình Nguyễn Phúc. Ông còn là một vị quan trực tính và thanh liêm, sau khi từ trần chẳng có tài sản là bao. Sáu điều triều đình quy tội bội nghịch đối với Lê Văn Duyệt đều có tính cách khiên cưỡng, xuyên tạc vụ việc để quy đến mục đích cuối cùng của triều đình là trả thù Lê Văn Duyệt sau cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi.

Về điều thứ nhất và thứ nhì, theo chính sử, nước Miến Điện vốn hiềm khích với nước Xiêm La (Thái Lan) nên hai lần muốn thông sứ với nước ta từ thời vua Gia Long. Năm 1823, Lê Văn Duyệt sai Phan Đạt cùng Nguyễn Văn Độ đem thuyền ra nước ngoài tìm mua vũ khí của người Anh, vì lúc đó người Anh đã đến các nước Đông Nam Á. Chẳng may bị bão, thuyền của Đạt và Độ giạt vào nước Miến Điện. Miến Điện cho đưa nhóm Đạt và Độ về nước, đồng thời gởi thư xin liên lạc ngoại giao với nước ta và xin nước ta cắt đứt việc giao thiệp với Xiêm La. Lê Văn Duyệt cho dịch thư và tâu về triều đình Huế. Triều đình từ chối việc nầy, ra lệnh hậu thưởng sứ giả rồi cho về. Lê Văn Duyệt thi hành đúng lệnh của triều đình, vậy không thể dựa vào sự kiện Miến Điện xin thông sứ để kết tội Lê Văn Duyệt.

Về điều thứ ba, thứ tư, và thứ năm, một viên đại quan trọng trấn ở xa triều đình biết phải làm gì và chọn lựa người nào trong từng công việc, lại công khai đưa ý kiến ra trước triều đình chứ không ngấm ngầm tự ý hành động, là chuyện bình thường, không có gì đáng chê trách. Một vị đại quan ở ngoài lo việc phát triển hải thuyền rất đáng khuyến khích. Giấy có ấn triện nhà vua đóng sẵn do triều đình cấp, chứ tự Lê Văn Duyệt không làm khuôn ấn riêng.

Điều thứ sáu quy kết Lê Văn Duyệt tội dựng đảng với Lê Chất hoàn loàn có tính cách vu cáo, vì Lê Văn Duyệt và Lê Chất là hai chiến hữu thân thiết từ thời Nguyễn Phúc Ánh chưa lên ngôi. Hai ông cùng tiến chiếm Phú Xuân, cùng đem quân ra Bắc hà đánh tan lực lượng vua Cảnh Thịnh. Công khai xin vua đặc cách gia ân tăng tuổi thọ cho một người bạn, đây lại là một người bạn đồng vào sinh ra tử, thì chẳng phải là một tội lỗi gì để bị kết án xử trảm.

Chuyện bốn câu thơ tiên giáng, nếu quả thật có tang chứng như vụ Nguyễn Văn Thuyên, Nguyễn Văn Thành thì chắc chắn không đợi đến khi Lê Văn Duyệt qua đời mới bị kết án, và cũng không đợi các quan đề nghị, mà chính vua Minh Mạng sẽ trực tiếp giải quyết ngay, vì nhà vua vốn tính đa nghi, và nhất là nhà vua rất sợ đụng chạm đến ngôi báu của nhà vua. Việc vua Minh Mạng đối xử quyết liệt với chị dâu và cháu ruột của mình, vợ và con hoàng tử Cảnh, đủ thấy nhà vua rất lo lắng chuyện đảo chánh cung đình.

Minh Mạng chẳng những không thích tính cứng cỏi của Lê Văn Duyệt, mà nhà vua lo ngại về lòng trung thành của ông Lê đối với riêng nhà vua, vì nhà vua e sợ ông Lê ngả về theo nhóm hậu thuẫn con của hoàng tử Cảnh tức hoàng tôn Mỹ Đường. Phải chăng vì sự lo ngại âm thầm nầy mà khi vừa lên ngôi, vua Minh Mạng liền đưa Lê Văn Duyệt đi trấn nhậm Gia Định thành, vùng xa kinh đô, cho đến khi Lê Văn Duyệt từ trần, chỉ thỉnh thoảng cho phép về chầu mà thôi? Phải chăng cũng vì sự lo ngại nầy mà năm giáp thân (1824), để cắt đứt hẳn sự quan hệ giữa Lê Văn Duyệt và phe nhóm Mỹ Đường trong triều đình, nhân dịp Lê Văn Duyệt về triều chầu vua, nhà vua đã giao cho Lê Văn Duyệt thi hành việc dìm chết vợ của hoàng tử Cảnh, sau khi có lời vu cáo rằng bà đã dâm loạn với người con trai của bà là hoàng thân Mỹ Đường. Khi vua Minh Mạng cải tổ hành chánh, thi hành chính sách trung ương lập quyền, Lê Văn Duyệt xin trả chức để nhà vua dễ sắp đặt công việc, nhưng vua Minh Mạng ra lệnh cho Lê Văn Duyệt tiếp tục giữ chức lổng trấn.

Có thể nhà vua không muốn đụng chạm đến lê Văn Duyệt hoặc có thể nhà vua biết Lê Văn Duyệt sắp từ trần nên chờ đợi thời cơ chuyển đổi êm thắm hơn. Các điều nầy chứng tỏ vua Minh Mạng rất cần uy tín của Lê Văn Duyệt trong việc cai trị, nhất là trong việc ổn định tình hình Nam Kỳ cũng như trong việc giao thiệp với Chân Lạp (Cambodia) và xiêm La (Thái Lan), nhưng cũng muốn Lê Văn Duyệt tránh xa triều đình để khỏi hậu hoạn.

Vì rất cần Lê Văn Duyệt, nên khi ông còn sống, vua Minh Mạng luôn luôn mềm mỏng và khuyến dụ Lê Văn Duyệt. Ví dụ khi Lê Văn Duyệt lập một đội thuộc binh cho vợ là Đỗ Thị, bộ Binh cho là “phi lệ” trình lên vua. Vua Minh Mạng cười nói rằng: “Trẫm với Lê Văn Duyệt có lệ nào đâu”, rồi cho Duyệt cứ làm như thế.

Khi đã qua đời, Lê Văn Duyệt không còn sử dụng được nữa, nhà vua liền nhân cuộc nổi dậy của lê Văn Khôi, cho đình thần kết tội Lê Văn Duyệt, nhắm giải tỏa những ẩn ức bực dọc khó chịu của ông đối với tính cứng cỏi của lê Văn Duyệt, và nhất là mối lo ngại canh cánh phải đề phòng Lê Văn Duyệt mà bấy lâu nay ông “nhẫn nhịn” Trong vụ Lê Văn Khôi, còn có một sự kiện đặc biệt là sự hiện diện của linh mục Marchand trong thành Sài Côn, khiến vua Minh Mạng nghĩ rằng người tây phương đã giúp đỡ hoặc xúi giục Lê Văn Khôi nổi loạn. Những vị thừa sai tây phương là những người bạn khá thân thiết với lê Văn Duyệt lúc ông còn sinh tiền.

Do những quan hệ từ thời giám mục Bá Đa Lộc, Lê Văn Duyệt giao thiệp với nhìêu giáo sĩ tây phương và để cho họ tự do truyền đạo. Ngược lại các giáo sĩ tây phương giúp ông lê mua vũ khí để trang bị quân đội. Nhờ thế, quân nổi dậy của Lê Văn Khôi chỉ ở trong thành Phiên An mà có thể cầm cự với với lực lượng hùng hậu của triều đình trong hơn hai năm mới thất bại. Đây có lẽ là một trong những lý do chính thúc đẩy mạnh mẽ vua Minh Mạng cho tiến hành vụ án Lê Văn Duyệt sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi. Lúc đó, vua Minh Mạng thi hành chính sách trung ương tập quyền, và không muốn gian thiệp với người tây phương, cũng như không cho truyền bá đạo Thiên Chúa. Xử án lê Văn Duyệt là một cách cảnh cáo các địa phương, và nhất là cảnh cáo những quan viên nào tỏ ý muốn giao thiệp với người âu Châu.

Đặc biệt để tránh tai tiếng, nhà vua đã thi hành một biện pháp rất “hào hiệp” là gởi bản án kết tội Lê Văn Duyệt xuống hỏi ý kiến các quan, kể cả các quan ở địa phương. Việc nầy rất hiếm thấy dưới thời quân chủ, nhất là quân chủ độc tôn cứng rắn như thời Minh Mạng. Có lẽ nhà vua muốn tránh tiếng khi lên án cố mạng đại thần Lê Văn Duyệt, nhưng ngược lại chứng tỏ uy tín rất lớn của Lê Văn Duyệt khiến nhà vua phải lo ngại phản ứng của các địa phương. Dĩ nhiên đa số các quan đã a dua với nhà vua kết án Lê Văn Duyệt. Đó là chưa kể sự ganh ghét, đố ky cũng như tỵ hiềm cá nhân của các quan đối với Lê Văn Duyệt khi ông còn sinh tiền.

Trong khi đó, chính sử nhà Nguyễn đã ghi rằng Bạch Xuân Nguyên là người vốn tham tàn. Tại sao triều đình biết Nguyên tham tàn mà triều đình còn bổ ông ta là bố chính sứ? Ai chịu trách nhiệm đề cử việc bổ nhiệm nầy? Tại sao triều đình không đưa ra xét xử Bạch Xuân Nguyên vì ông mới là người đầu mối thực sự gây ra cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi?

Vụ án Lê Văn Duyệt đưa đến nhiều kết quả bất lợi. Về tài sản quốc gia, dẹp xong Lê Văn Khôi, vua Minh Mạng ra lệnh san phẳng thành Phiên An (Gia Định kinh) mà cha của ông đã xây dựng và Lê Văn Duyệt đã gia cố. Sau đó, vua Minh Mạng lại cho xây một thành khác nhỏ hơn, hao tốn công quỹ do dân chúng đóng góp. Thành nầy lọt vào tay Pháp dễ dàng năm 1859. Đành rằng người Pháp có khí giới tối tân hơn hẳn người Việt, nhưng nếu thành Phiên An còn tồn tại, biết đâu người Việt có thể cầm cự người Pháp như Đào Trí và Nguyễn Tri Phương đã cầm cự ở Đà Nẵng năm 1858?

Vụ án Lê Văn Duyệt chắc chắn ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần của dân chúng Nam Kỳ. Miền Nam là đất hưng quốc của nhà Nguyễn. Miền Nam là nơi sản sinh nhiều anh hùng trung hưng của nhà Nguyễn, trong đó có Lê Văn Duyệt. Lê Văn Duyệt lại được dân chúng sùng kính ngay khi ông còn sống. Tuy cứng rắn, nhưng sự cai trị của ông dựa trên pháp luật phân minh. ông lại chủ trương ngoại giao thân thiện với các nước ngoài, không đàn áp Thiên Chúa giáo, tạo hòa khí đoàn kết giữa các cộng đồng các tôn giáo khác nhau. Một đại công thần của nhà Nguyễn phát tích từ miền Nam, một nhân vật đầy huyền thoại được dân chúng miền Nam kính trọng, lại bị đối xử một cách tàn bạo sau khi từ trần như vậy, chắc chắn việc nầy gây thương tổn rất nhiều đến tâm tình của dân chúng miền Nam. Phải chăng vì vậy, phản ứng tâm lý của dân chúng đã biểu lộ mạnh mẽ khi vua Tự Đức hủy bỏ bản án Lê Văn Duyệt, bằng cách xây dựng lại ngôi mộ Lê Văn Duyệt mà từ nay họ gọi là lăng, giống như lăng của vua chúa. Dân chúng còn ky huý không dám gọi tên, mà chỉ gọi là “Lăng ông”, tức mộ Lê Văn Duyệt.

Dần dần, đối với dân chúng, Lê Văn Duyệt không phải chỉ là một nhân vật lịch sử hay truyền thuyết, mà ông biến thành một nhân vật thần thoại, một vị phúc thần, dầu vị phúc thần nầy không được triều đình Huế chính thức sắc phong. Mỗi lần xảy ra một biến cố gì, dân chúng đến “Lăng ông” để cầu khẩn, khấn vái xin “ngài” chỉ vẽ và phù hộ. Lòng ngưỡng mộ lớn lao của dân chúng đối với Lê Văn Duyệt là câu trả lời rõ nét nhất về vụ án năm 1835.

VI. Vụ án Lê Chất.

Lê Chất (1769 – 1826), danh tướng triều Nguyễn. Quê Phù Mỹ, Bình Định.
Thân thế và sự nghiệp
Lúc đầu Lê Chất theo nhà Tây Sơn, lập được nhiều chiến công, được phong tới chức đô đốc.
Sau khi vua Quang Trung mất (1792), nội bộ vương triều Tây Sơn dần suy yếu, rạn nứt. Nhân thấy tướng của Nguyễn Phúc Ánh là Nguyễn Văn Tính đóng quân gần đấy, Lê Chất bàn với cha vợ là đô đốc Lê Trung để cùng trốn sang. Thấy cha vợ cứ chần chừ, một mình Lê Chất viết thư xin hàng. Nguyễn Văn Tính đem thư dâng lên chúa Nguyễn.
Nguyễn Phúc Ánh nói:
Lê Chất là đứa giảo hoạt, cho nên lời này chưa hẳn thực đâu.
Năm 1789, quân nhà Nguyễn thắng liên tiếp mấy trận liền, nên vua nhà Tây Sơn là Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) ngờ Lê Trung và Lê Chất thông đồng với đối phương. Lê Trung bị giết, Lê Chất bỏ trốn, nhưng bị truy lùng gắt gao quá nên phải bắt một người có khuôn mặt giống mình, bỏ thuốc độc cho chết để giả vai tuồng tự tử. Ít lâu sau, vào năm 1799, Lê Chất đến gặp tướng chúa Nguyễn là Võ Tánh để xin hàng. Từ đây, Lê Chất gắn bó với Nguyễn Phúc Ánh cho đến hết đời.
Năm 1801, được phong tước Quận công. Năm 1802, làm Khâm sai chưởng hậu quân Bình Tây tướng quân, dẫn bộ binh đi đánh chiếm Bắc Hà. Năm 1803, ông cùng Phạm Văn Nhân, Nguyễn Văn Khiêm trông coi việc xây dựng kinh thành.
Năm 1810, ông làm Hiệp tổng trấn Bắc Thành, cùng với Nguyễn Huỳnh Đức, Phạm Như Đăng. Đến năm 1818, ông lên làm Tổng trấn Bắc Thành.
Bởi có tài năng, Lê Chất lập được nhiều công lao. Tuy nhiên, mỗi lần ông được trọng thưởng là mỗi lần ông bị kèn cựa, xoi mói. “Đại Nam chính biên liệt truyện”, có chép chuyện ông bị phe phái của tướng Đặng Trần Thường buông lời gièm pha, đến nỗi vua Gia Long đem vụ việc ra cho triều thần bàn nghị là một ví dụ.
Ông mất vào tháng 7 năm Bính Tuất (1826), hưởng dương 57 tuổi, được truy tặng Thiếu phó, thụy là Trung Nghị.

Án Lê Văn Duyệt phát ra năm trước thì năm sau ( Bính Thân, 1836) có quan Lại bộ tả thị lang Lê Bá Tú dâng sớ truy hặc Lê Chất phạm những 16 tội.
Sử gia Trần Trọng Kim chép : Minh Mạng dụ rằng:… Lê Chất cùng với Lê Văn Duyệt, dựa nhau làm gian, tội ác đầy chứa, nhổ từng cái tóc mà tính cũng không hết, giả thử bổ áo quan giết thây, cũng không là quá. Song lại nghĩ Chất tội cũng như Duyệt, trước kia Duyệt đã không bổ áo quan giết tjây, thì nắm xương khô của Chất nay cũng chẳng màng bắt tội. Vậy cho Tổng đốc Bình Phú Võ Xuân Cẩn san phẳng mộ của hắn, khắc bia dựng lên trên đề to mấy chữ “Chỗ này là nơi Lê Chất phục pháp” để làm gương cho kẻ gian tặc muôn đời. Còn vợ hắn là Lê Thị Sai cùng ở một nhà, dự biết mưu bạn nghịch, xử vào cực hình, cũng là phải, song kẻ đàn bà chẳng cần vội vàng chính pháp. Vậy Lê Thị Sai cùng con là Lê Cẩn, Lê Trương, Lê Thường, Lê Kỵ, đều cải làm trảm giam hậu. Lại tịch biên gia sản, được hơn 12.000 quan tiền, giao tỉnh chứa cả vào kho.” (“Việt Nam sử lược” NXB Tân Việt, Sài Gòn, 1964, tr.455-446 )
Mãi đến năm Mậu Thân 1868, vua Tự Đức mới truy phục chức tước cho ông.
Lúc còn sống, Lê Chất là bạn thân thiết của Lê Văn Duyệt. Có lẽ đó là lí do chính, khiến Hội Thượng Công Qúy Tế lập bàn thờ ông trong Lăng Ông Bà Chiểu, quận Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.
Riêng hài cốt Lê Chất, năm 1910 khi sở công chánh Hà Nội đào quãng đường từ đền Quang Thánh đến phủ Toàn quyền Đông Dương để đặt trụ điện, có tìm thấy cân đai, áo mũ hãy còn nguyên vẹn. Chánh quyền đương thời cho cải táng ở bên vườn Bách thú Hà Nội.
Và sau này, ông Phan Khôi (1887-1959) khi đến viếng mộ Lê Chất, có làm một bài thơ cảm hoài sau:
Viếng mộ ông Lê Chất
Bình Tây trấn Bắc sử nghìn thu,
Ấy cỏ mờ rêu đất một u.
Ấy dũng ấy trung là thế thế!
Mà ân mà nghĩa ở mô mô?
Chim gào hờn sót xuân ầm ỹ;
Hùm thét oai lưa gió vụt vù,
Cái chuyện anh hùng ai nhắc nữa,
Hồ Tây văng vẳng tiếng chuông bu!
(Thực Nghiệp, 1921)

Sưu tầm và tóm tắt từ nhiều nguồn:
vi.wikipedia.org
www2.vietbao.vn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: