Những bí ẩn về ĐỒNG THÁP MƯỜI


Những bí ẩn của Đồng Tháp Mười ngày càng thu hút nhiều du khách.Những bí ẩn này liên quan với một vùng sụt hạ địa chất hiện đại,với nền văn minh Óc Eo cổ xưa,với cuộc kháng chiến chống Pháp của nghĩa quân Cần Vương,và với cuộc sống hiện đại độc đáo của người dân địa phương  Đồng Tháp Mười chủ yếu nằm trong tỉnh Long An Nhiều người lầm tưởng Đồng Tháp Mười nằm trong tỉnh Đồng Tháp vì thực ra cả tên Đồng Tháp Mười lẫn tên tỉnh Đồng Tháp đều lấy theo tên ngọn tháp 10 tầng ở thị trấn Mỹ An (tỉnh Đồng Tháp) năm 1885 được quân Cần Vương sử dụng làm trạm quan sát cảnh giới quân Pháp. Trên thực tế, gần một nửa diện tích của Đồng Tháp Mười là của tỉnh Long An, một nửa còn lại thuộc tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang. Chảy xuyên qua trung tâm Đồng Tháp Mười, sông Vàm Cỏ Tây có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc cung cấp nước ngọt và vận tải thuỷ, là con sông thoát lũ, xả phèn của Đồng Tháp Mười và của hệ thống sông Cửu Long. Vào quãng đầu mùa mưa (tháng 6-7 dương lịch) nước mưa rửa phèn ở lớp đất mặt, dồn xuống sông làm nước sông chua và trở nên trong xanh, người Đồng Tháp Mười gọi là thời kỳ “dậy phèn”. Đất phèn chiếm gần 40% tổng diện tích Đồng Tháp Mười, và 2 phần 3 diện tích đất phèn là thuộc phạm vi tỉnh Long An. Được coi là độc hại với phần lớn các loại cây trồng, nhưng đất phèn vẫn thích hợp với rất nhiều loài cây, tạo thành những thảm rừng nhiều tầng. Tầng cây cao thường là tràm, gai, ô môi…, tầng cây thấp có xương cá, cù đèn, trám bột… và dưới cùng là tầng cỏ thân cứng có thể cao ngang đầu người với các loại sậy, đưng, ráng, cỏ ống, bàng… Hàng chục ngàn năm qua, xác thực vật bị phân huỷ trong điều kiện đầm lầy tù đọng yếm khí đã tạo ra một tầng đất phèn rộng gần 300 ngàn ha, có chỗ dày hàng chục mét. • Những nguồn sống mới ở Đồng Tháp Mười Hàng năm, từ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch là mùa lụt của Đồng Tháp Mười. Ngay cả trong ngày lụt, một số giống lúa bản địa như lúa trời (còn gọi là lúa ma) và lúa nổi (còn gọi là lúa vượt nước) vẫn sống và cho sản lượng, mặc dù không cao. Tuy nhiên những năm gần đây, ươm cây tràm giống và nuôi cá lóc bằng vèo trở thành những nghề có thu nhập rất cao. Cây tràm rất thích hợp với vùng đất phèn ngập nước quanh năm. Người Đồng Tháp Mười trồng 2 loại tràm: tràm cừ và tràm gió. Cây tràm cừ thân thẳng, cao hàng chục mét. Gỗ tràm cừ được dùng để làm nhà cửa và đặc biệt là để đóng cừ đổ đất làm nền nhà. Gỗ tràm cừ để phơi nắng thì mục, nhưng chôn sâu dưới đất bùn hàng trăm năm vẫn rắn chắc. Cây tràm gió nhỏ bé, chỉ cao 1 – 2 mét, thân cây khẳng khiu nhưng lá chứa rất nhiều tinh dầu. Hàng chục lò cất tinh dầu thủ công được dựng ven lộ 49 của vùng Tân Thạnh – Mộc Hoá. Việc trồng tràm và khai thác tràm là một nghề ăn chắc ở vùng Đồng Tháp Mười , với hàng ngàn ha rừng tràm được khai thác mỗi năm, nhu cầu cây tràm giống ở Đồng tháp mười trở nên bức xúc. Đồng đất ở xã Tân Thành (huyện Thủ Thừa) trở thành lò cung cấp cây giống cho Đồng Tháp Mười. Lũ Đồng Tháp Mười cũng làm lợi cho người nuôi cá lóc bằng vèo. Vèo là một loại lưới nilon, đan chồng 2-3 lớp, giống như chiếc màn lật ngửa khi thả xuống nước. Cá lóc được thả vào bên trong vèo. Người nuôi tuỳ con nước mà di chuyển vèo hoặc nâng hạ vèo. Các chủ nuôi cá lóc bằng vèo cho biết họ rất thích lũ lớn, lũ càng lớn thì nuôi cá lóc càng có lợi, vì nước lũ sạch lại có nhiều cá mồi (nhất là cá linh) khiến cho cá lóc nuôi rất chóng lớn. Có hộ chỉ một mùa lũ đã nuôi đến 8000 con cá lóc và hy vọng lời khoảng 30 triệu đồng. Nghề nuôi cá lóc bằng vèo xuất phát từ các huyện Mộc Hoá, Vĩnh Hưng vào khoảng năm 2000, nay đã lan sang nhiều nơi ở Đồng Tháp Mười.  Tên Tháp Mười có từ bao giờ? Có thể trong dân gian đã có tên Tháp Mư¬ời từ lâu, như¬ng tr¬ước khi cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp của Thiên hộ Võ Duy Dư¬ơng (Thiên Hộ Dư¬ơng) và Đốc binh Nguyễn Tấn Kiều (Đốc binh Kiều) thì tên Tháp Mười ch¬ưa hề xuất hiện trên thư tịch.Các tài liệu nghiên cứu lịch sử còn chưa xác định được tên Tháp Mười là chỉ ngọn tháp 10 tầng, chỉ tháp thứ 10 trong nhiều ngọn tháp hay là do ở Gò Tháp đã từng có 10 ngọn tháp.Trước 1864, người ta chỉ gọi Gò Tháp là Vãng Tháp (tháp cổ bị lãng quên), nằm ở trung tâm một vùng trũng rộng mênh mông có rừng rậm che phủ được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như¬ Vô Tà Ôn, chằm (đầm lầy) Mãng Trạch, chằm Pha Trạch, Lâm Tẩu (rừng trên đầm lầy) hoặc Đồng cỏ lác. Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa chống Pháp của Trương Định ở Gò Công, Thiên hộ Dương đã dựng đồn luỹ đánh Pháp suốt từ chợ Gạo (Tiền Giang) đến Tân Thành (Bà Rịa). Khi Trương Định mất (1864), ông cùng một bộ t-ướng tài ba là Đốc binh Kiều lui về lập đại bản doanh ở Gò Tháp tiếp tục kháng chiến. Các trận đánh lừng lẫy của đoàn quân Thiên hộ D¬ương và Đốc binh Kiều đã làm giặc Pháp mất ăn mất ngủ, khiến cho cả quân Pháp lẫn triều đình Huế bắt đầu chú ý đến vùng đất sình lầy hoang vu này. Tên Tháp M¬ười bắt đầu trở thành địa danh nổi tiếng không chỉ trong các văn bản hành chính, ngoại giao, quân sự, báo chí Pháp mà cả trong lòng nhân dân và chí sĩ Việt Nam yêu nư¬ớc. Năm 1866, khởi nghĩa của Thiên hộ Dư¬ơng và Đốc binh Kiều bị quân Pháp dập tắt như¬ng đã để lại cho muôn đời con cháu mai sau cái tên Tháp Mư¬ời. Tháp M¬ười không chỉ là tên gắn với các ngọn tháp cổ ở Gò Tháp, mà còn gắn với xư¬ơng máu và chí khí anh hùng quật khởi của nhân dân và nghĩa quân Thiên hộ Dư-ơng. Tuy nhiên, Gò Tháp còn là chứng tích lịch sử của gần 2000 năm trư¬ớc nữa của vùng Đồng Tháp M¬ười.  Gò Tháp – chứng tích về lịch sử Đồng Tháp Mười Gò Tháp thuộc địa phận ấp 4, xã Tân Kiều, huyện Tháp M¬ười, tỉnh Đồng Tháp, cách thị xã Cao Lãnh gần 40 km đư¬ờng bộ. Gò Tháp tuy không ở giữa Đồng Tháp Mư¬ời, nh¬ưng lại nằm ở trung tâm khu vực ngập úng sâu nhất – vùng rốn nư¬ớc của Đồng Tháp Mư¬ời. Đây là một gò đất cát có nguồn gốc biển – gió, kéo dài gần 500m, rộng trên 100m, hình thành từ đợt biển lùi khoảng 3000 đến 2000 năm trư¬ớc, kết thúc giai đoạn biển thống trị ở Đồng Tháp Mư¬ời. Đỉnh Gò ngày nay có độ cao tuyệt đối gần 5 mét và cao hơn mặt ruộng xung quanh 3,8 mét. Trên mặt gò la liệt phế tích gồm những khối đá, gạch, gốm cổ, mảng tư¬ợng vỡ và vật thờ. Bảo tàng tỉnh Đồng Tháp đã khai quật và thu nhặt trên mặt gò khoảng 200 hiện vật bằng gỗ, đá, đất nung, đồng và nhiều mảnh vàng lá có hình trang trí lá sen và hoa sen. Đi cùng với các di vật này là hai nền tháp cổ bằng gạch. Những di vật kể trên thuộc nền văn hoá khảo cổ học Óc Eo có niên đại từ đầu công nguyên đến đầu thế kỷ VIII. Văn hoá Óc Eo Các di chỉ khảo cổ của Văn hoá Óc Eo ở Nam Bộ chủ yếu tập trung ở vùng Đồng Tháp M¬ười và ven rìa (gần 20 di chỉ) và ven biển Cần Giờ (trên 30 di chỉ). Ngoài ra còn một số di chỉ ở An Giang,Gò Công…Đó là các sản phẩm gốm làm từ bàn xoay, vật dụng bằng đồng, đồ trang sức bằng vàng hoặc đá quý tinh xảo, các t¬ượng thờ thần Ấn Độ Giáo, đôi khi gặp cả các đồng tiền vàng La Mã, Ba T¬ư… Nhiều di tích nơi cư¬ trú, đường đi lát đá và xư¬ởng thủ công rộng hàng vạn mét vuông cũng đã đư¬ợc phát hiện. Đây là sản phẩm của một nền văn minh thủ công nghiệp và thư¬ơng mại quốc tế khá phát triển, chịu ảnh hư¬ởng sâu đậm của Ấn Độ Giáo, xuất hiện ở Nam Bộ từ đầu công nguyên đến đầu thế kỷ VIII, sau đó biến mất như có phép lạ. Cho đến thế kỷ XVII, những lư¬u dân Việt đầu tiên vào khai phá Đồng Tháp Mư¬ời chỉ gặp một vùng rừng đầm lầy mênh mông với hàng đàn trâu rừng, cá sấu và hổ báo… Sự phát hiện các di tích khảo cổ thuộc kiểu tiền đô thị trong phạm vi Đồng Tháp Mư¬ời có niên đại vào những thế kỷ đầu công nguyên cho thấy vào thời kỳ đó, Đồng Tháp Mư¬ời chư¬a phải là vùng đầm lầy như¬ ngày nay, mà phải có địa hình gò đồi cao ráo giống như¬ miền Đông Nam Bộ bây giờ, mặc dù vẫn có các đầm lầy nhỏ xen kẽ, nơi đã xuất hiện cây sen như¬ đã thấy khắc trên một số tấm trang sức bằng vàng lá. Cư¬ dân theo Ấn Độ Giáo vốn có thói quen cư¬ trú và xây dựng các công trình tôn giáo trên các vùng đất cao, không thể chọn vùng sình lầy Đồng Tháp Mư¬ời để xây dựng cả một vư¬ơng quốc có trình độ văn minh cao của mình. Ngày nay, hầu hết các di tích Óc Eo ở Đồng Tháp Mư¬ời đều chìm ngập dư¬ới nư¬ớc lụt hằng năm, kể cả di tích Gò Tháp. Tài liệu địa chất Đồng Tháp M¬ười cũng cho thấy, đây là một vùng sụt lún mới và liên tục do nguyên nhân địa chất. Có lẽ đó là lý do dẫn đến sự biến mất của Văn hoá Óc Eo vào đầu thế kỷ thứ 8. Liệu Đồng Tháp Mư¬ời có trở thành một biển hồ tư¬ơng lai như¬ kiểu biển hồ Tong Le Sap ở Campuchia hay không còn chờ những nghiên cứu sâu về địa chất giải thích.  Gò Tháp Mười cần có tháp Các ngọn tháp cổ ở Gò Tháp đã không còn, trừ vết tích các nền tháp bằng gạch. Năm 1956, chính quyền Sài Gòn xây một ngọn tháp 10 tầng cao 42 m theo kiểu tháp chùa Thiên Mụ ở Huế, như¬ng lại sử dụng tháp nh¬ư một chòi quan sát để ngăn chặn hoạt động cách mạng vùng Đồng Tháp Mư¬ời. Rạng ngày 20/12/1959, tiểu đoàn 502 đặc công của tỉnh Đồng Tháp đã đánh sập tháp cùng lúc với đồn Vàm Xáng gần đó. Gò Tháp với sự tập trung nhiều tầng văn hoá từ cổ, trung đến cận và hiện đại đã đ¬ược Bộ Văn hoá công nhận là một “khu Di tích lịch sử và khảo cổ” ngày 5/9/1989. Một mô hình tháp 10 tầng mới với một bông sen trắng trên đỉnh tháp cũng đã đ¬ược thiết kế, nh¬ng vẫn chư¬a đư¬ợc xây dựng. Những phế tích của suốt 2000 năm qua vẫn còn ngổn ngang trên Gò Tháp làm ngậm ngùi lòng du khách khi đến thăm Tháp M¬ười./.

Nguyễn Đình Hoè,

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: