ông Táo


Ảnh minh họa Ảnh minh họa
Ảnh minh họa Ảnh minh họa
Ảnh minh họa Ảnh minh họa
Ảnh minh họa Ảnh minh họa

1.Tích Ông Táo:
Học phái Lão Tử cho rằng có một vị thiên thần coi việc thiện ác của từng gia đình và mỗi năm một lần về tâu sự với Ngọc Hoàng . Người Việt Nam quan niệm về ông táo khác với người Trung Hoa, tích kể rằng:
Ngày xưa có hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo khổ. Chồng tên là Trọng Cao, vợ là Thị Nhi. Họ lấy nhau đã lâu mà không có con, cho nên thường buồn phiền cãi lẫy với nhau.
Một hôm Trọng Cao quá tức giận mà đánh vợ. Tức mình, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, rồi gặp một chàng trai là Phạm Lang, anh này đã dùng lời ngon ngọt và khéo léo quyến rũ được Thị Nhi. Hai người ăn ở với nhau thành vợ chồng.
Khi Trọng Cao hết giận, thấy vợ bỏ đi mất, liền đi tìm kiếm khắp nơi, nhưng không thấy tăm hơi, buồn rầu bỏ công ăn chuyện làm, ra đi làm người hành khất để đi tìm vợ.
Một hôm, Trọng Cao đến một nhà khá giả xin ăn, bà chủ nhà đem cơm ra cho. Thì ra đó là Thị Nhi. Hai người nhận ra nhau, tình xưa nghĩa cũ dễ nào quên. Thị Nhi hối hận vì đã lấy Phạm Lang. họ đang hàn huyên thì bất ngờ người chồng mới là Phạm Lang từ ngoài đồng đi làm về, Thị Nhi mới nói Trọng cao vào ẩn trong đống rơm. Phạm Lang về nhà để cốt lấy tro bón ruộng, nên đốt đống rơm lấy tro. Trọng Cao đang say ngủ trong đống rơm vì đường xa mỏi mệt ấy bị chết cháy, người vợ cũ là Thị Nhi, thấy vậy cũng lao vào lửa chết theo. Phạm lang thấy vợ chết cũng lao mình vào đống rơm đang cháy ấy mà chết.
Cũng có tích khác: sau khi Thị Nhi lấy Phạm Lang, một hôm trong nhà cúng đốt mã ngoài sân, có một hành khất vào ăn xin. Thị Nhi nhận ra người chồng cũ của mình, động lòng thương đem gạo ra cho. Bị Phạm Lang nghi ngờ, Thị Nhi lấy làm xấu hổ đâm đầu vào đống lửa đang đốt mã mà tự tử. Trọng Cao cảm tình ân nghĩa cũng lao vào lửa mà chết theo, Phạm lang vì mối tình thương vợ, cũng nhảy vào cùng chết.
Thượng đế thấy ba người có nghĩa mới phong cho làm Táo Quân, và phân chia mỗi người một việc.
-Phạm Lang là Thổ Công trông lo việc bếp.
-Trọng Cao là Thổ Địa trông nom việc nhà.
-Thị Nhi là Thổ Kỳ trong nom việc chợ búa.

2. Vài nhận xét về tích truyện:
a) Vượt qua cái lý để đạt tới cái tình: Tích truyện cho thấy một điều không có lý, người Việt xưa không bao giờ có thể chấp nhận việc đa phu, một bà hai ông. Người ta thường chỉ trích “Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một bà”. Như vậy, điều mà tích truyện nhắc tới, đó không phải là cái lý, nhưng là cái tình nghĩa phu thê, sống chết cùng nhau. Có thể nói, triết lý tình thương, tình con người với nhau bàng bạc trong các truyện cổ như bó đuốc soi cho lối đường hậu duệ noi theo.
b) Cái tình có thể đụng tới lòng Trời: người Việt tin rằng “Ông Trời có mắt” nên trong mọi việc cũng dùng cái tình mà đối xử với nhau. Cái tình ấy lay động được lòng Trời, phúc hoạ cũng theo cái tình nghĩa đối với nhau mà ông Trời phạt hay thưởng cho.
c) Vấn đề sống chết: Tại sao các tích truyện thường giải quyết vấn đề khó xử trong nhân sinh bằng cái chết, ví như tích truyện “trầu cau” cũng thế ? Người Việt không tin rằng chết là hết, nhưng vấn đề sống như thế nào là đáng sống và chết như thế nào cho đáng. Người xưa nói: “sát thân thành nhân”, nhấn mạnh tới tinh thần xả thân cứu đời, hy sinh cho việc nhân đức là thành công, thành nhân. Như vậy, tinh thần của người Việt có một đặc điểm sáng chói là tình thương. Tình thương có trong mỗi người, lớn lên trong gia đình và phát triển nơi mọi người. Người sống theo đạo nhân là người biết hy sinh, xả thân cho đồng loại của mình. Có bao nhiêu truyện, tích, tuồng, chèo, liên hệ cùng một nội dung, một tiêu điểm: Điển hình như truyện Phạm Công Cúc Hoa.
d) Liên hệ đến gia đình: Quan niệm táo quân là vị thần thứ nhất, quan trọng hàng đầu trong gia đình, nhiều địa phương có tục lệ, người con gái khi mới về nhà chồng, phải làm lễ ở bếp, hay ở bàn thờ Thổ Công, để xin phù trợ về sau trong công việc bếp núc, tề gia, nội trợ của người đàn bà quán xuyến gia đình. Tục ngữ phương Tây có câu: “bàn tay đưa nôi là bàn tay cai trị thế giới”, người Việt Nam thì quan niệm: Người nội trợ là chủ tướng trong gia đình.
e) Lối kết của tích truyện là có hậu. Người Việt thường nói “ở hiền gặp lành”, hệ quả của đức là phúc. Ngày đầu năm người ta cầu chúc nhau được phúc, cũng là thời gian để làm hoà những bất đồng tương quan, nếu trong năm đã không thuận hoà với nhau. Người ta muốn khởi đầu một năm bằng những điều tốt đẹp, để cả năm có phúc.

3. Áp dụng:
a) Bếp lửa mang một ý nghĩa rất quan trọng. Bếp lửa ngoài công dụng nấu chín thực phẩm còn là một lò sưởi, còn là nơi quy tụ cả gia đình để chia sẻ với nhau bữa ăn cũng như lửa ấm. Lễ hội bao giờ cũng gắn bó với nghi thức thắp lửa thiêng. Lửa xua đuổi thú dữ, đẩy xua muỗi mòng, tạo bầu khí ấm áp, tạo nên những gặp gỡ… Không gia đình nào là không có bếp lửa. Bếp lửa, còn là gia đình, một gia đình hạnh phúc là một gia đình bếp lửa giữ được lửa cháy.
b) Tinh thần gia đình, điều quan trọng là yêu thương. Gia đình biểu lộ qua bữa ăn và dĩ nhiên là qua bếp lửa là nơi thực hiện những bữa ăn có một tầm quan trọng không thể thiếu trong mỗi gia đình. Ngày nào lửa không bén trên bếp, ngày ấy là một ngày gia đình thiếu hơi ấm, thiếu tình thương. Tình thương được biểu lộ qua bếp lửa như dân gian Việt Nam thường nói : “tối lửa tắt đèn có nhau” . Cuộc sống chung đi từ những gì rất thực tế: “Có thực mới vực được đạo”, người ta có muốn mơ mộng gì chăng nữa thì cũng cần đến bếp lửa để nấu chín thực phẩm, nấu chín thức ăn. Ngày xưa vào những thời hồng hoang của lịch sử, việc giữ lửa là việc sống còn của bộ tộc, ngày nay thiếu lửa trong gia đình cũng là nguy cơ cho gia đình tan vỡ : ” Bếp lạnh canh nguội”.
c) Thường xưa kia, có gì lủng củng, đau yếu nhất là đau mắt trong gia đình, người ta phải xem lại bếp núc tức là ông táo có được giữ sạch sẽ hay không? Như vậy tập tục cũng có ích cho việc giữ vệ sinh lắm.
d) Vua táo định đoạt phúc đức cho gia đình. Phúc đức này là do sự ăn ở phải đạo của gia chủ và của mọi người trong nhà.

Sự tích ông táo trong dân gian Việt Nam, có những nét đẹp truyền thống của nó.
Chúc mọi người một năm bình an và hạnh phúc và giữ được lửa tình yêu bén trong gia đình.



Hay có những tích khác

Chuyện xưa kể rằng, Thị Nhi và chồng là Trọng Cao sống không hạnh phúc, bởi Trọng Cao có tật ăn xài hoang phí còn Thị Nhi thì thường hay ngăn cản, khuyên bảo chồng ăn xài bớt lại để dành cho những khi túc thiếu. Cãi vả lâu ngày đã dẫn đến sự việc là hai người chia tay nhau. Thị Nhi lấy chồng sau là Phạm Lang – thợ săn. Trong khi đó, Trọng Cao ăn xài quá độ trở thành ăn mày. Một hôm, Trọng Cao đến nhà Thị Nhi ăn mày đúng vào lúc Phạm Lang đi săn. Trọng cao và Thị Nhi nhận ra nhau và tình xưa nghĩa cũ đã khiến cho Thị Nhi quá cảm thương cho số phận nghèo hèn của Trọng Cao. Bất chợt Phạm Lang đi săn về, Thị Nhi một bên là thương chồng cũ, một bên sợ chồng mới biết được chuyện không hay, nên nàng đã dấu chồng cũ vào cây rơm. Không ngờ Phạm Lang mang về một con thú rừng vừa săn được đã quyết định nướng ngay chỗ cây rơm. Lửa cháy bùng lên, Trọng Cao vẫn ngồi yên trong cây rơm chịu chết vì sợ nhảy ra khiến cho Phạm Lang ghen tương mà làm khổ cho vợ cũ của mình – Thị Nhi. Còn Thị Nhi thương Trọng cao quá bởi do nàng mà Trọng cao bị đốt cháy nên nàng đã nhảy vào đống rơm để tự thiêu mong xóa đi được tội lỗi giết chồng cũ. Phạm Lang thì tưởng rằng vợ giận mình mà chết nên cũng đã nhảy vào đống rơm chết theo. Ngọc Hoàng thấy ba người chung tình nên ban cho chức tước: Trọng Cao làm Thổ Công, Thị Nhi làm Thổ Kỳ, Phạm Lang làm Thổ Địa. Thổ Công được thờ ở nhà trên, bên trái bàn thờ tổ tiên, có nhiệm vụ trông coi nhà cửa, kinh tế gia đình, hằng năm có trách nhiệm về trờ, báo cáo cho Ngọc Hoàng về tình hình các mặt gia đình để Ngọc Hoàng biết mà phù hộ trong năm mới. Do đó, Thổ Công còn được gọi là Định Phúc Táo Quân hay Táo Phật. Còn Thổ Kỳ được thờ dưới chân bàn thiên ở trước sân, có nhiệm vụ chăm lo việc chợ búa cho giá đình. Thổ Địa (không phải Ông Địa) thờ ngay bếp, có trách nhiệm trông coi củi lửa cho gia đình, cho nên có tên gọi là Đông Trù Tư Mệnh hay Táo bếp.
Dân gian lưu truyền rằng tối ngày 25 tháng chạp hằng năm, Ngọc Hoàng họp với tất cả thần thánh tiên phật trên thiên đình. Do vậy, mọi người đã có tục làm lễ “Đưa Ông Táo về trời” (miến Bắc gọi là Tết Ông Công) vào ngày 23 tháng chạp hằng năm, vì Ông có tật hay rề rà đó đây và lơ đãng (chẳng hạn như có lần Ông mặc quần đùi nhưng bên ngoài khoác áo dài để chầu trời) cho nên phải đi sớm, hầu đến thiên đình kịp lúc để đọc Sớ Táo Quân bẩm báo cho Ngọc Hoàng mọi việc tai nghe mắt thấy dưới thế gian để Ngọc Hoàng biết mà phù hộ những mặt thiết sót của mọi người. Lâu ngày tục “Đưa Ông Táo về trời” trở thành phong tục nhằm cầu mong đạt được nhiều điều tốt lành trong năm mới.

Nam mô A Di Đà Phật.

Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mạng Táo Phủ Thần Quân.

Nay nhân ngày 23 tháng Chạp
Chúng con thành kính dạt dào, mênh mông quyết dốc một lòng toàn gia.
Sắm sanh lễ mọn dâng lên dinh tọa, thắp hương thơm lễ tạ ơn chư thần
Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân.
Ngài là vị chủ, soi xét lòng trần
Người trần phạm tục phạm sai, cúi đầu nhận lỗi các ngài gia ân.
Ban lộc ban phước ban phần, công bằng hợp lý mười phân vẹn mười.
Hôm nay ngài sắp về trời, lòng con tâm niệm vài lời cầu xin:
Cầu cho trăm họ an bình, cầu cho gia sự ấm êm thuận hòa.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: