Nhu cầu nhân lực du lịch giai đoan 2011 – 2020


 

Nằm trong khu vực phát triển năng động nhất thế giới, giai đoạn vừa qua cùng với quá trình đổi mới và hội nhập của đất nước, Du lịch Việt Nam đã có bước tăng trưởng mạnh về quy mô, lượng khách, thu nhập, đầu tư và tạo việc làm. Dự báo trong thập kỷ tới du lịch Việt Nam tiếp tục tăng trưởng cao và từng bước chuyển dịch sang phát triển về chất dựa vào đầu tư chiều sâu khai thác yếu tố con người. Bài viết tập trung phân tích nhu cầu nhân lực du lịch về số lượng và chất lượng dựa trên những dự báo và phân tích xu hướng phát triển Du lịch Việt Nam thập kỷ tới trong bối cảnh phát triển chung của khu vực và thế giới. Những giải pháp thích ứng từ phía hệ thống giáo dục và đào tạo du lịch được đặt ra nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực du lịch trong tương lai.

Bối cảnh và xu hướng phát triển du lịch
Năm 2010, Việt Nam sẽ đón lượt khách quốc tế thứ 5 triệu, đó là dự báo lạc quan của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (ITDR). Thực tế 7 tháng đầu năm, khách quốc tế đến Việt Nam đã đạt trên 2,92 triệu lượt, tăng 34,9% so với cùng kỳ 2009; khách du lịch nội địa đạt trên 17 triệu lượt, tăng 19% so với cùng kỳ năm 2009. Như vậy cũng theo nhận định của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) và Hiệp hội Du lịch Châu Á-Thái Bình Dương (PATA), Việt Nam được xếp vào danh sách điểm đến quốc gia phục hồi nhanh nhất sau suy thoái kinh tế toàn cầu 2009.
Châu Á-Thái Bình Dương trong đó có Việt Nam đã và sẽ tiếp tục là khu vực năng động nhất, có sức thu hút du lịch mạnh mẽ và tăng trưởng nhanh. Trong suốt thập kỷ qua, ngoại trừ biến động bất khả kháng do dịch SARS 2003 và suy thoái kinh tế 2009, Du lịch Việt Nam tăng trưởng liên tục qua các năm với tỷ lệ tăng trưởng trung bình trên 10% năm. Số lượng khách quốc tế và nội địa tăng cao; thu hút đầu tư mạnh mẽ trong và ngoài nước; cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất du lịch được mở rộng, nâng cấp căn bản; nhiều khu, điểm du lịch mới ra đời với hệ thống sản phẩm dịch vụ đa dạng, phong phú, có chất lượng được nâng cao một bước; nhân lực du lịch ngày lớn mạnh và tinh thông hơn nhờ hệ thống đào tạo du lịch được tăng cường. Những kết quả tăng trưởng đó đã khẳng định bước tiến quan trọng của ngành Du lịch. Tuy nhiên, có thể đánh giá cả giai đoạn tăng trưởng đó thực chất là tăng trưởng về lượng, chủ yếu dựa vào đầu tư mở rộng phạm vi, quy mô và thị trường.
Hiện nay trong bối cảnh chuyển giao thập kỷ, khởi đầu giai đoạn mới cả nền kinh tế nói chung và ngành du lịch nói riêng đang có những tính toán đổi mới theo xu hướng chuyển dần sang phát triển về chất, sẽ chủ yếu dựa vào đầu tư chiều sâu khai thác yếu tố con người (nhân lực chất lượng cao) để tăng hàm lượng tri thức và công nghệ cao tiếp sức cho phát triển bền vững.
Dự thảo Chiến lược Phát triển Du lịch Việt nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã xác định mục tiêu đưa Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn, có đẳng cấp trong khu vực, phát triển du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch chất lượng, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thân thiện với môi trường. Đến năm 2015 đón 7-8 triệu lượt khách quốc tế; 32-35 triệu lượt khách nội địa; thu nhập du lịch đạt 10-11 tỷ USD, đóng góp 5,5-6% GDP, tạo ra 2,2 triệu việc làm trong đó 620.000 việc làm trực tiếp; đến năm 2020 phấn đấu đón 11-12 triệu lượt khách quốc tế; 45-48 triệu lượt khách nội địa; thu nhập du lịch đạt 18-19 tỷ USD, đóng góp 6,5-7% GDP, tạo ra 3 triệu việc làm, trong đó 870.000 việc làm trực tiếp.
Từ mục tiêu và những định hướng chiến lược phát triển về thị trường, sản phẩm, thông tin quảng bá, đầu tư phát triển, phát triển nguồn nhân lực và liên kết hợp tác chi phối bởi bối cảnh và xu hướng phát triển du lịch chung của khu vực và trên thế giới, một số nhận định dưới đây về xu hướng phát triển Du lịch Việt Nam đáng quan tâm:

  • Tiếp tục mở rộng quy mô tăng trưởng về lượng trong nửa thập kỷ tới song song với quá trình chuyển dịch sang đầu tư mạnh về chiều sâu vào nửa thập kỷ tiếp theo. Tiếp tục ra đời nhiều sản phẩm mới, điểm đến mới, khu du lịch và công trình du lịch mới, được đầu tư mở rộng, nâng cấp, đan xen nhiều công trình, sản phẩm có tầm cỡ, chất lượng, có thương hiệu và có yếu tố liên kết toàn cầu.
  • Lượng khách quốc tế và nội địa tiếp tục tăng và tăng mạnh trong nửa đầu thập kỷ, sau đó tiếp tục tăng nhẹ vào nửa thập kỷ tiếp theo. Khách du lịch ngày cảng trở nên từng trải hơn, khách du lịch nội khối trở nên chiếm ưu thế.
  • Sản phẩm du lịch tiến tới chuẩn hóa đồng thời với quá trình dị biệt hóa, đa dạng hóa hướng tới nhu cầu các phân đoạn thị trường khác nhau. Yếu tố văn hóa và xu hướng du lịch về nguồn gắn với các giá trị lịch sử, giá trị di sản và giá trị môi trường sinh thái làm gia tăng giá trị cho sản phẩm du lịch thông qua yếu tố con người (tri thức, công nghệ) và dần trở thành yếu tố quyết định đến mục đích và sự khác biệt cho chuyến đi.
  • Sản phẩm du lịch có thương hiệu được khẳng định, được kiểm soát chất lượng và được thông tin, quảng bá có địa chỉ tới các phân đoạn thị trường mục tiêu. Xúc tiến quảng bá du lịch dần trở thành yếu tố quyết định giá trị và định hướng tiêu dùng du lịch.
  • Không gian du lịch sẽ trở nên phong phú với nhiều điểm du lịch mới, đa dạng khi cơ sở hạ tầng, khả năng tiếp cận điểm đến được cải thiện căn bản cùng với hiệu ứng lan tỏa từ các trung tâm du lịch tới các điểm du lịch vệ tinh theo liên kết cụm, vùng và khu vực. Độc quyền địa phương vẫn chi phối song song với quá trình chuẩn hóa quốc gia, khu vực.
  • Liên kết hợp tác đa chiều trở nên phổ biến giữa các vùng địa phương, giữa các nhà cung cấp dịch vụ du lịch với nhau và với tất cả các ngành, lĩnh vực kiên quan. Hoạt động của các hiệp hội nghề nghiệp du lịch vùng, khu vực trong và ngoài nước ngày càng có hiệu quả.
  • Công nghệ thông tin, truyền thông sẽ ngày càng ứng dụng hữu hiệu trong hầu hết các lĩnh vực đặc biệt là lữ hành, phân phối trung gian, xúc tiến bán, đặt giữ chỗ trực tuyến.

Xu hướng phát triển du lịch đặt ra yêu cầu và tác động trực tiếp tới cơ cấu số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch. Xu hướng nhân lực du lịch ngày càng đòi hỏi cao về trình độ, kỹ năng quản lý; kỹ năng nghề nghiệp hướng tới đạt chuẩn nhưng cần có mức độ tinh tế và nhạy cảm trong phục vụ và giao tiếp; lao động phổ thông du lịch dần trở nên kém hấp dẫn thay thế bởi lao động thời vụ ngày càng phổ biến; lao động tự chủ (self employment) ngày càng tăng ứng với mô hình du lịch cộng đồng, kinh tế hộ gia đình.
Nhu cầu về số lượng nhân lực
Hiện tại, cả nước có trên 1,3 triệu lao động du lịch và liên quan, chiếm khoảng 2,5% tổng lao động cả nước, trong đó có khoảng 420.000 lao động trực tiếp làm việc trong các cơ sở dịch vụ du lịch. Cơ cấu lao động ngành với 42% được đào tạo về du lịch, 38% được đào tạo từ các ngành khác chuyển sang và khoảng 20% chưa qua đào tạo chính quy mà chỉ qua huấn luyện tại chỗ. Sự phân bố lao động giữa các lĩnh vực, vùng miền cũng chưa phù hợp. Số lao động cần có chuyên môn, kỹ năng cao vừa thiếu, vừa yếu; số lao động chưa đáp ứng yêu cầu lại dư thừa; đặc biệt các vùng du lịch mới thif nhân lực đã qua đào tạo rất thiếu.

 

Dự báo nhu cầu nhân lực trực tiếp du lịch đến năm 2020

 

TT Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2015 % tăng TB cả giai đoạn Năm 2020 % tăng TB cả giai đoạn
Tổng số 418.250 620.100 9,6 870.300 8,1
1 Theo lĩnh vực
1.1 Khách sạn, nhà hàng 207.600 312.100 10,1 440.300 8,2
1.2 Lữ hành, vận chuyển 65.800 92.700 8,2 128.000 7,6
1.3 Dịch vụ khác 146.200 215.300 9,4 302.000 8,1
2 Theo trình độ đào tạo
2.1 Trên đại học 1.450 2.400 13,1 3.500 9,2
2.2 Đại học, cao đẳng 53.800 82.400 10,6 113.500 7,5
2.3 Trung cấp và tương đương 78.200 115.300 9,5 174.000 10,2
2.4 Sơ cấp 98.700 151.800 10,7 231.000 10,4
2.5 Dưới sơ cấp (học nghề tại chỗ) 187.450 268.200 8,6 348.300 5,9
3 Theo loại lao động
3.1 Lao động quản lý 32.500 56.100 14,5 83.300 9,7
3.2 Lao động nghiệp vụ 387.100 564.000 9,2 787.000 7,9
  1) Lễ tân 37.200 51.000 7,4 69.500 7,2
  2) Phục vụ buồng 48.800 71.500 9,3 98.000 7,4
  3) Phục vụ bàn, bar 68.400 102.400 9,9 153.000 9,8
  4) Chế biến món ăn 35.700 49.300 7,6 73.400 9,7
  5) Hướng dẫn 20.600 30.800 9,9 45.000 9,2
  6) VPDL, ĐL lữ hành 31.100 52.600 13,8 81.400 10,9
  7) Nhân viên khác 145.300 206.400 8,4 266.700 6,0

Nguồn: Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch (2009)

 

Theo dự báo của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, đến năm 2015 ngành du lịch cần tới 620.000 lao động trực tiếp trong tổng số 2,2 triệu việc làm do du lịch tạo ra và đến 2020 tương ứng sẽ cần 870.000 lao động trực tiếp trong tổng số 3 triệu việc làm do du lịch tạo ra. Nhu cầu nhân lực theo cơ cấu trình độ đào tạo, lĩnh vực ngành nghề từng loại lao động ở từng giai đoạn rất khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu tăng trưởng ở từng lĩnh vực.
Cũng theo dự báo trên, nửa đầu thập kỷ sẽ cần nhiều nhân lực được đào tạo theo các ngành nghề với tỷ lệ tăng thêm hàng năm 9,6% và tăng nhẹ với tỷ lệ 8,1% vào nửa thập kỷ tiếp. Có thể thấy quy mô dịch vụ tiếp tục mở rộng lên lao động lĩnh vực dịch vụ khách sạn, nhà hàng sẽ tăng nhanh hơn. Lao động cần đào tạo ở trình độ đại học, trên đại học, lao động quản lý tăng nhanh hơn mặt bằng chung do nhu cầu quản lý; lao động nghiệp vụ cần nhiều trong thời gian tới như văn phòng du lịch, đại lý lữ hành, hướng dẫn do mở rộng nhiều loại hình du lịch phong phú; nghiệp vụ buồng, bàn, bar cũng tăng cao hơn mặt bằng chung do đây là lĩnh vực cần nhiều lao động dịch vụ. Hầu hết các loại lao động tăng nhẹ trong giai đoạn 2016-2020 tuy nhiên nhu cầu nhân lực được đào tạo cơ bản vẫn chiếm tỷ trọng lớn; lao động phổ thông sẽ giảm tương đối và dựa chủ yếu vào số lao động thời vụ.

Như vậy, nhu cầu lao động du lịch ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, loại lao động đều tăng trong thời gian tới. Bức tranh tổng thể về nhu cầu nhân lực cho thấy hàng năm cần đào tạo bổ sung ở tất cả các ngành nghề du lịch để đáp ứng yêu cầu phát triển. Tuy nhiên, để đáp ứng đúng yêu cầu đó đòi hỏi nhân lực du lịch không chỉ được đào tạo đủ về số lượng mà phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tức cần có trình độ kiến thức, kỹ năng quản lý điều hành, kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ cũng như phẩm chất, thái độ nghề nghiệp phù hợp.
Nhu cầu về chất lượng nhân lực
Trước hết có thể thấy rõ nhu cầu lớn về kiến thức quản lý, kỹ năng điều hành cần đào tạo ở trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học để đáp ứng nhu cầu lao động quản lý từ bậc trung (giám sát) trở lên cho tới quản lý bậc cao ở doanh nghiệp và quản lý vĩ mô, hoạch định chính sách tại địa phương và trung ương. Khi chuyển dịch theo xu hướng phát triển bền vững coi trọng chất lượng dịch vụ với hàm lượng giá trị gia tăng cao thì đòi hỏi đội ngũ lao động quản lý và lao động nghiệp vụ phải thực sự chuyên nghiệp. Do vậy, nhu cầu nhân lực được đào tạo cơ bản, đào tạo chuyên sâu kỹ năng bậc cao sẽ rất lớn. Số liệu dự báo trên bảng cho thấy nhu cầu đào tạo ở trình độ trên đại học tăng 13,1% giai đoạn 2011-2015 và 9, 2% giai đoạn 2016-2020, tăng cao hơn mức tăng trưởng chung; tương tự nhu cầu cần đạo tạo trình độ trung cấp tăng 9,5%/năm giai đoạn 2011-2015 sau đó tăng mạnh hơn ở mức 10,2%/năm giai đoạn 2016-2020 do mức độ chuẩn hóa đã đạt được nhất định. Nhu cầu đào tạo trình độ cao đẳng và đại học tăng cao 10,6%/năm giai đoạn 2011-201 song sẽ tăng nhẹ hơn ở mức 7,5%/năm giai đoạn tiếp theo khi lao động ở trình độ trung cấp được chuẩn hóa và dần thay thế các vị trí quản lý và kỹ năng nghiệp vụ bậc cao.
Về chuyên ngành đào tạo, các lĩnh vực nghiệp vụ cần quan tâm đó là hướng dẫn, chế biến món ăn, văn phòng du lịch, đại lý lữ hành (tiếp thị, bán, điều hành), lễ tân… Khi xu hướng du khách mong đợi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ và mức độ tinh tế thì đòi hỏi nhân lực phải có kỹ năng trau chuốt, chuyên nghiệp hơn, được đào tạo bài bản và thực hiện thao tác thành thục hơn. Chình vì vậy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và có tính chuyên nghiệp là một nhu cầu bức xúc. Một số nhận định về nhu cầu kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp du lịch cần ưu tiên đào tạo như:

  • Kiến thức về quản lý phát triển, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thị trường và cạnh tranh; kiến thức, kỹ năng quản trị: quản trị thay đổi, quản trị dự án, quản trị rủi ro, quản trị chất lượng, quản trị nhân lực, quản trị tài chính;
  • Kiến thức về phát triển sản phẩm du lịch, marketing; kỹ năng phát triển ý tưởng (concept), xúc tiến quảng bá; kiến thức về các loại hình du lịch, đặc biệt các loại hình du lịch mới: MICE, du lịch khai thác giá trị văn hóa bản địa, du lịch xanh;
  • Kiến thức về quản lý và phát triển điểm đến; quy hoạch, kế hoạch phát triển các khu, tuyến, điểm du lịch;
  • Kiến thức về văn hóa, xã hội và môi trường: văn hóa (bản địa, dân tộc, khu vực, thế giới); di sản, lịch sử, tâm lý, xã hội, cộng đồng và hệ sinh thái;
  • Kỹ năng chuyên sâu, đặc biệt kỹ năng xúc tiến bán, kỹ năng PR, giao tiếp, ngôn ngữ (các tiếng ưu tiên như: tiếng Anh, Trung Quốc, Nhật, Hàn, Pháp, Đức, Nga, Tây Ban Nha); kỹ năng ứng dụng công nghệ cao (IT) và làm việc trong môi trường kết nối toàn cầu;
  • Kỹ năng ra quyết định, xử lý tình huống, ứng phó với rủi ro, vượt lên thách thức, kỹ năng làm việc theo nhóm;
  • Thái độ, phong cách văn minh, lịch thiệp, niềm nở, hiếu khách, nhiệt tình, tận tâm, yêu nghề, luôn ân cần gần gũi giúp đỡ nhưng có khoảng cách với khách; thái độ tự tôn, tự hào dân tộc trong đón tiếp phục vụ khách.

Vấn đề đặt ra đối với hệ thống đào tạo du lịch
Nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu đối với hệ thống giáo dục và đào tạo du lịch cần thích ứng để cung cấp kiến thức, kỹ năng và dịch vụ đào tạo phù hợp. Dự thảo Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến 2020 và tầm nhìn 2030 cũng đã xác định “Xây dựng lực lượng lao động ngành du lịch đáp ứng yêu cầu về chất lượng, hợp lý về cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo để đảm bảo tính chuyên nghiệp, đủ sức cạnh tranh và hội nhập khu vực, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, đáp ứng nhu cầu xã hội” là mục tiêu phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Với nhu cầu về số lượng và chất lượng nhân lực du lịch như trình bày ở trên thì hàng năm hệ thống giáo dục và đào tạo phải đáp ứng trên dưới 20.000 người tốt nghiệp ở các trình độ khác nhau, từ sơ cấp, trung cấp, đến cao đẳng, đại học và sau đại học chuyên về du lịch. Ngoài ra, đối với lực lượng lao động gián tiếp phục vụ du lịch thì hệ thống giáo dục quốc dân cũng đáng lưu tâm để tập trung đào tạo một lực lượng lao động đông đảo cần được đào tạo về rất nhiều ngành khác nhau: văn hóa, giao thông (đường không, thủy, bộ, sắt), môi trường, tài chính, bảo hiểm, bảo tồn…
Với nhu cầu đó, trong thời gian tới hệ thống đào tạo du lịch cần tiếp tục mở rộng, tăng cường năng lực. Hiện tại, cả nước có 12 trường đào tạo chuyên về du lịch từ từ sơ cấp lên cao đẳng và trên 60 cơ sở khác đào tạo đa ngành trong đó có du lịch, chưa có trường đại học chuyên về du lịch. Trong giai đoạn tới nhằm đáp ứng nhu cầu nhân lực du lịch thì cần thiết tiếp tục mở thêm các trường chuyên ngành du lịch ở một số trọng điểm du lịch mới như Lào Cai, Thái Nguyên, Nghệ An, Bình Thuận, Kiên Giang; ra đời Trường Đại học Du lịch hoặc Học viện Du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu cao về đào tạo quản lý du lịch và nhân lực bậc cao; đồng thời tiếp tục tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo hiện có và các cơ sở đào tạo đa ngành trong đó có du lịch.
Nhằm tăng cường đảm bảo chất lượng đầu ra của đào tạo du lịch, hệ thống cơ sở đào tạo du lịch nhất thiết phải được tăng cường năng lực, xây dựng đội ngũ giảng viên, giáo viên đáp ứng đủ các yêu cầu; chuẩn hóa, cập nhật nội dung, chương trình đào tạo. Trường đào tạo du lịch phải là cơ sở có năng lực hội nhập cao, ngang tầm các cơ sở đào tạo trong khu vực, có khả năng chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm đào tạo trong khu vực và quốc tế; được thừa nhận khu vực trong khuôn khổ áp dụng thỏa thuận thừa nhận lẫn nhau trong ASEAN về kỹ năng nghề du lịch; đồng thời thúc đẩy đào tạo tại chỗ, gắn đào tạo với thực tế yêu cầu công việc; xúc tiến hệ thống đánh giá và công nhận kỹ năng nghề thông qua Hội đồng Cấp chứng chỉ Du lịch Việt Nam (VTCB).
Phát huy hiệu quả chia sẻ và chuyển giao kiến thức, kỹ năng nhằm phát triển nguồn nhân lực đối với cả các cơ sở đào tạo và nghiên cứu du lịch cho tới các cơ sở sử dụng lao động du lịch thì nhất thiết cần hình thành mô hình tổ thức liên kết hợp tác, thiết lập mạng lưới và các hội nghề nghiệp chuyên môn như mạng lưới chuyên gia du lịch, câu lạc bộ các đào tạo viên, hiệp hội đào tạo du lịch… Những hình thức liên kết này sẽ giải bài toán phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ đa diện, đáp ứng nhu cầu theo địa chỉ và/hoặc tư vấn thích ứng.
Xu hướng phát triển du lịch đặt ra nhu cầu nhân lực cả về số lượng và chất lượng theo cơ cấu các ngành nghề và loại lao động. Trong thời gian tới nhu cầu nhân lực du lịch gia tăng, đòi hỏi chất lượng tinh thông, chuyên nghiệp là vấn đề đặt ra cần giải quyết đối với hệ thống giáo dục và đào tạo du lịch. Những giải pháp cần thiết để tăng cường năng lực mạng lưới đào tạo du lịch trên phạm vi cả nước, đặc biệt đối với các vùng du lịch mới là cần thiết và có ý nghĩa quyết định đến việc thực hiện mục tiêu phát triển của ngành Du lịch./.

Hà Văn Siêu

(theo Viện Nghiên cứu phát triển du lịch)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: