Mua bảo hiểm khi du lịch tự túc

Để chuẩn bị cho một chuyến du lịch tự túc bên cạnh lịch trình, đồ đạc, tiền bạc… du khách cũng cần quan tâm đến việc mua bảo hiểm du lịch cho mình và những người cùng đi.

Việc mua bảo hiểm du lịch sẽ giúp du khách yên tâm, thoải mái tận hưởng kỳ nghỉ của mình – Ảnh: V.N.A.

Không ít du khách khi đi du lịch tự túc bỏ qua việc mua bảo hiểm du lịch mà quên mất rằng việc này cũng hết sức quan trọng.

Có bắt buộc phải mua bảo hiểm du lịch?

Luật du lịch Việt Nam quy định: “Khách du lịch được hưởng bảo hiểm du lịch và các loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật” (trích điều 35, chương V quy định về quyền của khách du lịch trong Luật du lịch Việt Nam năm 2005), như vậy có thể hiểu rằng việc mua bảo hiểm du lịch được xem là quyền của du khách.

Thông thường với du khách đi theo tour trọn gói, việc mua bảo hiểm sẽ được các công ty du lịch mua và tính kèm trong giá tour hoặc tặng kèm trong dịch vụ. Riêng với du khách đi du lịch tự túc như du lịch bụi, phượt… việc mua bảo hiểm là tự nguyện, không bắt buộc.

Tuy nhiên với những bất trắc có thể xảy ra, với những lợi ích mà bảo hiểm du lịch có thể mang lại, xu hướng mua bảo hiểm du lịch đang dần trở nên phổ biến.

Điều 50, mục 2, chương VI Luật du lịch Việt Nam quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành quốc tế của Luật du lịch Việt Nam năm 2005 “phải mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch Việt Nam ra nước ngoài trong thời gian thực hiện chương trình du lịch”.

Điều 45, mục 2, chương VI Luật du lịch Việt Nam quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh lữ hành nội địa trong Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “Mua bảo hiểm du lịch cho khách du lịch nội địa trong thời gian thực hiện chương trình du lịch khi khách du lịch có yêu cầu”.

Tại sao phải mua bảo hiểm du lịch?

“Bảo hiểm du lịch luôn được xem là giấy thông hành quan trọng thứ hai sau hộ chiếu đối với những khách hàng phải di chuyển thường xuyên ra nước ngoài”

CARLOS VANEGAS
(Tổng giám đốc Bảo hiểm Liberty, Mỹ)

Việc mua bảo hiểm du lịch sẽ mang lại những điều sau:

- Có được sự an tâm: mua bảo hiểm là mua sự an tâm, đổi lấy những rủi ro không chắc chắn sẽ xảy ra thông qua việc đền bù. Việc mua bảo hiểm du lịch góp phần giúp du khách có được sự yên tâm để thoải mái tận hưởng chuyến đi của mình.

- Bảo vệ mình khỏi những rủi ro khi đi du lịch, giảm thiệt hại về tài chính: trong quá trình đi du lịch, du khách có thể gặp phải những rủi ro như bệnh tật, ốm đau, tai nạn, thiệt hại về tài sản… Mức độ và cường độ của các rủi ro khi đi du lịch là không thể lường trước, mang đến nhiều thiệt hại cho du khách. Trong những tình huống như vậy bảo hiểm du lịch sẽ hỗ trợ khách du lịch trong việc bảo vệ, xử lý và khắc phục những rủi ro, đảm bảo việc giảm thiểu thiệt hại tối đa về người và của.

- Trong một số trường hợp, việc mua bảo hiểm du lịch là bắt buộc. Một số quốc gia thuộc khu vực châu Âu quy định trong thủ tục xin visa (thị thực) của quốc gia đó có kèm theo quy định người xin visa phải mua bảo hiểm như một thủ tục bắt buộc.

Mức phí bảo hiểm?

Mức phí bảo hiểm du lịch nội địa thấp nhất 1.500 đồng/người/ngày (được đền bù tối đa khi có tai nạn xảy ra 10.000.000 đồng). Du khách cũng có thể mua bảo hiểm với các mức cao hơn: 3.000 đồng/người/ngày; 4.500 đồng/người/ngày…

Trong khi đó, mức phí bảo hiểm khi đi du lịch nước ngoài sẽ có sự khác nhau tùy thuộc vào điểm đến và thời gian đi.

Mua bảo hiểm du lịch ở đâu?

Hiện nay có rất nhiều công ty bán bảo hiểm du lịch, để chọn mua được sản phẩm tốt nhất, trước khi mua khách du lịch nên tìm hiểu các loại bảo hiểm, thời hạn bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, mức bồi thường, các trường hợp được bảo hiểm, thủ tục bảo hiểm… Qua đó, sẽ có những đánh giá và quyết định phù hợp với nhu cầu cũng như túi tiền của mình.

Một số công ty bảo hiểm có bán bảo hiểm du lịch hiện nay có thể kể đến như Bảo Việt, Bảo Minh, ACE Life, AIG (Chartis), Liberty, Blue Cross…

MINH THIÊN thực hiện

 

Kết quả của chương trình Khảo sát ngành dịch vụ khách sạn năm 2012 của Grant Thornton

Kết quả của chương trình Khảo sát ngành dịch vụ khách sạn năm 2012 của Grant Thornton cho thấy giá thuê phòng trung bình và công suất sử dụng phòng của những khách sạn cao cấp ở Việt Nam đều tăng trong năm 2011.

Grant Thornton Việt Nam thông báo kết quả của chương trình Khảo sát Ngành dịch vụ Khách sạn được thực hiện thường niên vào ngày 20 tháng 6 năm 2012. Cuộc khảo sát năm 2012 là cuộc khảo sát lần thứ chín của một chương trình khảo sát toàn diện duy nhất nghiên cứu về khách sạn và các khu nghỉ dưỡng cao cấp tại Việt Nam. Kết quả của chương trình khảo sát cho thấy năm 2011 nối tiếp sự thành công của năm trước, ngành dịch vụ Khách sạn và Du lịch Việt Nam một lần nữa đạt được kết quả đáng khích lệ với số lượng khách du lịch nội địa và quốc tế đều tăng lên. Kết quả tuyệt vời này tiếp tục đóng góp cho sự tăng trưởng chung về giá phòng và công suất sử dụng phòng.

Mặc dù tốc độ tăng trưởng của số lượng khách du lịch quốc tế và nội địa không cao như năm ngoái, song thị trường du lịch Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển với hơn 6 triệu du khách nước ngoài, tăng 19,1% so với năm trước và góp phần thúc đẩy sự gia tăng giá phòng bình quân lên tới mức 90.84 đô la Mỹ một đêm, tăng 9,1% so với năm 2010. Ông Kenneth Atkinson,  Giám đốc Điều hành của Grant Thornton Việt Nam, đón nhận kết quả của cuộc khảo sát, nói “2011 là một năm thành công cho ngành dịch vụ khách sạn Việt Nam. Sự gia tăng công suất sử dụng phòng và giá phòng đã dẫn đến sự gia tăng về RevPAR (doanh thu trên mỗi phòng có sẵn), là một chỉ số chuẩn của ngành đo lường hiệu quả sử dụng phòng và doanh số của khách sạn, tăng 10,4% so với năm trước. ”

Dữ liệu trong cuộc khảo sát khách sạn được phân tích theo xếp hạng sao, qui mô khách sạn và theo vùng. Khi phân tích theo xếp hạng sao, kết quả thu được rất khác biệt so với năm trước khi công suất sử dụng phòng của nhóm khách sạn 3-Sao tăng một cách ấn tượng 8,1% trong khi đó khách sạn 5-Sao có công suất sử dụng phòng thấp hơn năm trước.

Chỉ số RevPAR trung bình năm nay tăng từ 49,73 đô la Mỹ đến 54,89 đô la Mỹ, tăng 10,4% do công suất thuê phòng cùng với giá phòng bình quân tăng cao. Khách sạn 4-Sao có RevPAR tăng mạnh nhất ở mức 17,9% đạt 54,67 đô la Mỹ trong năm 2011, tiếp đến là khách sạn 3-Sao tăng 5,0%, trong khi đó khách sạn 5-Sao năm nay có RevPAR giảm đáng kể, 7,8%. Sự suy giảm RevPAR của khách sạn 5-Sao chủ yếu là do giá phòng bình quân giảm 6,4%, từ 131,38  đô la Mỹ năm ngoái xuống còn 123,04 đô la Mỹ năm nay.

  Về doanh thu và chi phí, sự phân bổ doanh thu theo 3 loại chính (doanh thu phòng , dịch vụ nhà hàng và các dịch vụ khác) trong năm 2011 cũng tương tự như với sự phân bổ trong năm 2010, chiếm lần lượt 62,7%, 28,0% và 9,3% tổng doanh thu. Về chỉ tiêu EBITDA (Thu nhập trước lãi suất, thuế và các khấu hao) theo xếp loại sao, với cơ cấu chi phí phòng và chi phí dịch vụ nhà hàng thấp hơn so với các khách sạn 3 và 5-Sao, khách sạn 4-Sao đã đạt được EBITDA cao nhất là 37,8%.

Năm nay, 47,7% khách sạn thực hiện cuộc khảo sát này trả lời họ có kế hoạch mở rộng khách sạn hoặc cải thiện trang thiết bị trong vòng 2 năm tới, trong đó hơn 70% khách sạn và khu nghỉ dưỡng ở Việt Nam có kế hoạch Cải tạo hoặc nâng cấp khách sạn. Khi phân tích số liệu theo xếp hạng sao, có một sự khác biệt trong kế hoạch của các khách sạn năm nay so với năm trước. Năm nay “Cải tạo hoặc nâng cấp khách sạn” được xem là lựa chọn của nhiều khách sạn nhất ở tất cả các hạng sao, còn “Bổ sung thêm các dịch vụ” đã được lựa chọn nhiều nhất trong năm 2010.

Trong năm 2011, 63,6% khách sạn đã thực hiện Khảo sát Mức độ Hài lòng của khách lưu trú, tăng 10,5% so với năm trước. Phương pháp “Đặt bảng câu hỏi trong phòng nghỉ” vẫn tiếp tục được xem là phương pháp phổ biến nhất, theo sau là  phương pháp “Đặt bảng câu hỏi tại quầy tiếp tân”.

Trong năm 2011, đặt phòng thông qua các đại lý du lịch và nhà điều hành tour tiếp tục là phương pháp phổ biến nhất, không phân biệt khu vực,  xếp hạng sao, và qui mô của khách sạn, với 49,5% trên tổng số lượng đặt phòng, tăng 0,5% so với năm 2010. Đặt phòng trực tiếp với khách sạn là ưu tiên lựa chọn tiếp theo với 29,8%, tăng 0,8% so với năm 2010. Trong khi đó đặt phòng qua mạng Internet tăng từ 10,1% năm 2010 lên 14,8% trong năm 2011.

Điểm sáng về mô hình nông dân làm du lịch

Du khách tham quan rừng tràm Trà Sư (An Giang) trong một tour nông dân làm du lịch

VH- Tại An Giang vài năm trở lại đây, mô hình nông dân làm du lịch đã và đang mang lại nguồn thu nhập hấp dẫn, hứa hẹn tiềm năng, cải thiện đời sống cho nhiều hộ nông dân trong tỉnh…

Giai đoạn năm 2007-2009, để giúp nông dân Việt Nam có thêm việc làm, nâng cao thu nhập, Hội Nông dân Hà Lan (Agriterra) thông qua Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã tổ chức triển khai Dự án Du lịch nông nghiệp tại 3 tỉnh Lào Cai, Tiền Giang và An Giang với kinh phí tài trợ là 390.000 euro.

Sau 3 năm thực hiện (kết thúc giai đoạn 1), An Giang được Hội Nông dân Hà Lan đánh giá là địa phương thực hiện hiệu quả nhất và quyết định tiếp tục đầu tư cho riêng Hội Nông dân tỉnh An Giang thông qua Dự án Du lịch nông nghiệp giai đoạn 2 (2011-2014).

Đa phần số vốn được sử dụng để mở các lớp bồi dưỡng, đào tạo kĩ năng phục vụ khách du lịch cho nông dân sở tại, một phần dành hỗ trợ các hộ để đầu tư nâng cấp, xây dựng mới phòng ngủ, đặc biệt chú trọng cải tạo và xây dựng mới nhà vệ sinh, sửa chữa thuyền máy, trang bị áo phao, xe đạp đôi, cải tạo ao thả cá… phục vụ nhu cầu tham quan, ăn ở cho du khách. Hiện giai đoạn 2 đang đi được 1/6 chặng đường với kế hoạch mở rộng địa bàn du lịch và tăng thêm số hộ nông dân tham gia.

Theo thống kê cho thấy, qua các năm số lượng khách tham gia chương trình nông dân làm du lịch tại An Giang có sự tăng trưởng rõ rệt, năm 2008 đón khoảng 1.000 lượt du khách, năm 2009 là 2.000 lượt du khách, năm 2010 là 4.000 lượt du khách, năm 2011 là 7.000 lượt du khách và trong 3 tháng đầu năm 2012 đã có hơn 3.000 lượt du khách tham quan (trong đó 1/10 là khách quốc tế). Đồng thời, thu nhập của những hộ nông dân tham gia dự án cũng được cải thiện rõ rệt. Cụ thể nếu trước đây là 2 triệu đồng/hộ/tháng thì nay tăng lên đến 5-6 triệu đồng, thậm chí có hộ còn đạt 10-20 triệu đồng/hộ/tháng.

 Du khách thích thú trong một tour nông dân làm du lịch Ảnh :T.L

Được biết, khoản thu nhập tăng thêm này là từ các sản phẩm có sẵn tại vườn nhà như gà, vịt, cá, trái cây… Thay vì bán cho thương lái với giá rẻ, nay các hộ dân chế biến và phục vụ cho du khách với giá cao nhưng so ra vẫn rẻ hơn các nhà hàng.

Hiện tổng số hộ nông dân tham gia hưởng lợi trực tiếp từ dự án trên là gần 100 hộ, đó là chưa kể số hộ được hưởng lợi gián tiếp từ chương trình đào tạo, cùng tham gia các dịch vụ của dự án và bộ mặt nông thôn được thay đổi, phát triển của cộng đồng ở 15 xã trong quá trình dự án được triển khai.

Để góp phần thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động du lịch nông nghiệp của hội viên, vào tháng 2.2012, Trung tâm Du lịch nông dân tỉnh An Giang được thành lập, có nhiệm vụ kết nối khách du lịch với nông dân, quảng bá du lịch nông nghiệp, đại diện cho nông dân về mặt pháp lý, tạo điều kiện cho nông dân hợp tác với nhau, đào tạo và hướng dẫn nông dân, quản lý chất lượng, quản lý việc xây dựng các kế hoạch du lịch nông nghiệp và khách du lịch giữa các hội viên nông dân để tránh cạnh tranh không lành mạnh.

Phương châm của trung tâm là tiếp đón khách du lịch như những người bạn phương xa, những người thân đến An Giang và cùng sinh hoạt chung với người dân, cùng tham gia các hoạt động sản xuất, nấu ăn, cùng đi thu hoạch những sản phẩm người nông dân đã làm ra…

Hiện tại, trung tâm đã hình thành các tuyến du lịch khá hấp dẫn như: đưa du khách tham quan khu lưu niệm Bác Tôn, chợ Nổi và làng bè Long Xuyên bằng thuyền du lịch; tổ chức chài lưới bắt cá, tắm bùn phù sa trên sông; tham quan vườn cây ăn trái và thưởng thức đặc sản; tham quan nhà cổ, dịch vụ ở tại nhà (homestay), tham quan rừng Trà Sư; dã ngoại Thất Sơn…

Mô hình nông dân làm du lịch tại An Giang đã và đang phát huy hiệu quả rất đáng được kích lệ, hứa hẹn mang lại nguồn thu nhập cao, ổn định cho nhiều hộ nông dân trong tỉnh. Trong thời gian tới, Hội Nông dân tỉnh An Giang sẽ đẩy mạnh việc tìm đầu ra cho loại hình du lịch này bằng cách tăng cường liên kết với công ty lữ hành tại TP.HCM để bán tour, cùng nhau hợp tác, phát triển, mang khách đến cho nông dân phục vụ…(Ông Phan Thanh Tùng, đại diện Hội Nông dân Việt Nam tỉnh An Giang)

Trần Lâm

DU LỊCH VÀ NHÀ VỆ SINH

Nâng cấp du lịch từ nhà vệ sinh

Tổng cục Du lịch (Bộ VH-TT&DL) vừa ban hành quy định tạm thời về tiêu chuẩn nhà vệ sinh (WC). Các điểm tham quan du lịch, điểm dừng chân, điểm phục vụ khách du lịch có WC không đạt chuẩn thì phải lo nâng cấp.
Hầu hết WC dưới chuẩn
Thế nhưng so với tiêu chuẩn thì rất nhiều điểm du lịch không đạt về WC.
Một ngôi chùa ở quận 1 thu hút rất nhiều khách nước ngoài đến tham quan. Tuy nhiên, WC khai nồng nặc, tối và ẩm thấp, buồng vệ sinh được che chắn tạm bợ, không có bồn vệ sinh. WC nam không có cửa, chỉ có một bức tường gạch ngăn lại.
WC tại Bảo tàng TP (quận 1), Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (quận 3) khá sạch sẽ, tương đối đầy đủ các hạng mục nhưng vẫn không có xà phòng rửa tay hoặc móc treo đồ.
Một địa chỉ hiếm hoi đảm bảo đủ các yếu tố theo tiêu chuẩn tạm là Bảo tàng Hồ Chí Minh – Chi nhánh 2 (quận 4). Đáng tiếc là vẫn không có WC dành riêng cho người khuyết tật.
Nhiều điểm du lịch ở các tỉnh, thành khác cũng bị chê vì WC dơ bẩn. Ông Trần Thế Dũng, Phó Trưởng nhóm kích cầu du lịch nội địa TP.HCM, cho biết tại Khu du lịch Đền Hùng, WC rất hôi, không có giấy vệ sinh nhưng du khách phải trả 2.000 đồng/lượt ra vào. Tại bến thuyền ở vịnh Hạ Long, đừng nói là vào bên trong, chỉ đứng gần WC đã nghe mùi hôi.

Nhiều du khách Huế từng than phiền về điểm tham quan quá rộng mà lại ít WC.
Khách phản ứng mới sửa
Ở Huế, từ lâu du khách đã phàn nàn về tình trạng thiếu WC. Để khắc phục điều đó, Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã triển khai dự án gần 6 tỉ đồng xây dựng 10 khu WC tại di tích Đại Nội, Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế, các lăng Tự Đức, Minh Mạng, Khải Định…

Các WC có diện tích rộng rãi, thiết bị hiện đại, có phòng riêng cho người khuyết tật được đưa vào hoạt động đầu tháng 4-2012, trước Festival Huế 2012. Hệ thống WC công cộng dọc bờ sông Hương cũng đã được sửa sang thoáng mát, sạch sẽ phục vụ du khách đi dạo ngắm cảnh.

Một cán bộ Hiệp hội Du lịch TP.HCM cho biết WC tại chợ Bến Thành từng bị du khách phản ứng. Nhiều du khách đã viết thư đề nghị sửa gấp WC. Sau đó, tại chợ đã xây một khu WC dành cho khách Tây, một khu WC dành cho tiểu thương.

“Nhưng phải thừa nhận rằng vẫn chưa đảm bảo tiêu chí sạch sẽ! Tôi thấy sau khi khách dùng WC, người dọn vệ sinh đứng ở ngoài rồi hắt nước vào trong. Sàn lênh láng nước, mùi thum thủm” – vị cán bộ trên cho biết.

Theo kế hoạch của Bộ VH-TT&DL, đến hết năm 2012, mỗi địa phương có ít nhất 50% điểm du lịch có WC đạt chuẩn và đạt 100% vào năm 2014.
Tuần sau sẽ họp về WC
Tôi cho rằng WC ở các điểm tham quan tại TP.HCM đều đã làm được tiêu chuẩn Tổng cục đưa ra. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là ý thức vệ sinh, ý thức phục vụ của nhân viên thì vẫn chưa làm được. Nhiều WC không có người túc trực quét dọn thường xuyên nên rất nhanh bẩn.
Trong tuần tới, Sở sẽ thảo luận với các khách sạn, điểm tham quan du lịch về tiêu chuẩn WC du lịch. Chúng tôi sẽ đặt vấn đề về ý thức giữ vệ sinh, lau dọn thường xuyên của các điểm du lịch.
Ông LÃ QUỐC KHÁNH, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP. HCM
Vào WC, ra bỏ tour
Tiêu chuẩn mà Tổng cục mới ban hành chỉ là những điều cơ bản nhất về WC nhưng thực tế nhiều địa phương không làm được điều đó cho các điểm du lịch. Có du khách sau khi “thăm” WC xong đã đòi về khách sạn ngay vì chẳng còn tâm trí đâu mà ăn uống, thưởng ngoạn cảnh đẹp nữa.
Ông TRẦN THẾ DŨNG, Phó Trưởng nhóm kích cầu du lịch nội địa TP.HCM
Quan trọng nhất là nhân viên
Khu du lịch rừng Madagui (Lâm Đồng) là một trong những điểm tham quan có hệ thống WC được du khách hài lòng.
WC ở đây có hệ thống tự động, sàn khô ráo, sạch sẽ, rộng rãi. Quan trọng là luôn có người túc trực để dọn dẹp, chăm sóc.
WC hiện đại đến mấy mà không có người thường xuyên chăm sóc thì cũng nhanh dơ bẩn. Vì vậy, Tổng cục đưa ra tiêu chuẩn cho WC du lịch là điều cần thiết. Nhưng các điểm du lịch cần bố trí nhân viên vệ sinh trực thường xuyên.
Ông NGUYỄN NHÂN NHẬT PHÚ, Giám đốc Trung tâm  Lữ hành của Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch Chợ Lớn
Tiêu chuẩn WC
WC phải có số phòng vệ sinh phù hợp với số lượng khách; có chia nam, nữ; tường cao trên 2,5 m, ốp gạch men, sàn lát chống trơn, diện tích tối thiểu 2,5 m2/phòng.
Phòng vệ sinh phải có cửa, có chốt cài, móc treo túi hoặc giá để đồ, giấy vệ sinh, thùng rác có nắp… WC phải cung cấp nước sạch 24/24 giờ, có hệ thống xử lý nước thải, không có mùi hôi, không ứ đọng nước.
Có nhân viên phục vụ lau dọn, cung cấp đồ dùng khi thiếu hoặc hết.
(Trích tiêu chuẩn của Tổng cục Du lịch)
Theo PLTP

 

Nâng cấp du lịch từ nhà vệ sinh

Ám ảnh từ nhà vệ sinh

Cuối năm 2011, tôi theo công ty của người bạn đi nghỉ mát ở Phan Thiết. 6 giờ sáng, xe lăn bánh từ TP.HCM và đến 9 giờ thì đoàn dừng lại dùng bữa ăn sáng ở một trạm bên đường. Vừa xuống xe, tôi vội chạy vào nhà vệ sinh để giải quyết nhu cầu. Tại đây có hàng chục người đứng xếp hàng và tôi phải đợi hơn 10 phút mới vào được. Điều khiến tôi kinh hãi là mùi hôi thối bốc lên nồng nặc do toilet không xài vòi tự động. Mọi người phải dùng nước dội nhưng nước lại chảy từng giọt rất ít… Ra khỏi nhà vệ sinh, tôi không thể ăn uống gì được nên phải mua ổ bánh mì để lên xe chống đói.

Khoảng 3 giờ sau, đoàn chúng tôi đến Phan Thiết. Động tác đầu tiên của tôi khi nhận phòng khách sạn là bước vào toilet để xem xét tình hình. Thấy các dụng cụ trong đó tương đối tốt, tôi mới yên tâm ra ngoài tắm biển…

Tại TP.HCM, các nhà vệ sinh công cộng còn thưa thớt, chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Ảnh minh họa

Đi vệ sinh là một nhu cầu quan trọng của mọi người nên nếu các trạm dừng chân, khách sạn… không quan tâm, tổ chức đàng hoàng thì dù các dịch vụ khác được làm tốt cỡ nào, khách cũng không mặn mà quay lại.

PHAN THIÊN HƯƠNG (Quận Bình Tân, TP.HCM)

Năm rồi tôi có dịp đi tham quan khu Tuần Châu của tỉnh Quảng Ninh. Tôi còn nhớ rất rõ là sau khi ăn chiều thì chúng tôi phải ngồi xe khoảng 40 phút theo con đường độc đạo xuyên qua mặt biển êm ả mới tới nơi.

Sau khi mua vé đi tham quan lòng vòng một hồi, tôi và người bạn muốn đi vệ sinh. Không thấy bảng hướng dẫn nên chúng tôi phải đi hỏi nhân viên bảo vệ và được chỉ ra ngoài cổng cách đó cả cây số. Khu nhà vệ sinh tại đây rất rộng, phân chia nam, nữ riêng biệt và mặc dù thu 2.000 đồng/người nhưng mùi hôi hám xộc ngay vào mũi du khách. Tôi chỉ dám bước đi nhè nhẹ vì sàn nhà vệ sinh tuy có lót gạch nhưng bị ứ nước và bẩn thỉu. Đâu chỉ có thế, phòng vệ sinh rất dơ và tôi phải nhắm mắt đi cho xong việc rồi nhanh chân chạy ra.

Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao một khu du lịch sang trọng như vậy lại có thể để nhà vệ sinh quá bẩn thỉu khiến nhiều du khách không còn muốn quay trở lại.

TUYẾT NHƯ (Phường 12, quận 10, TP.HCM)

Thiếu và nhếch nhác

Năm nay cơ quan tôi có tổ chức chuyến du lịch tới một địa điểm có phong cảnh hữu tình khá hấp dẫn. Rất nhiều người muốn đăng ký nhưng sau đó đã luyến tiếc bỏ tour vì nghe nói có thể phải sống như Robinson ở đảo hoang, ăn “bụi” và đi vệ sinh cũng “bụi”. Tuy cho rằng mỗi kiểu chơi đều có cái thú của nó nhưng tôi cũng đồng cảm đi du lịch mà phải thắc thỏm lo chuyện vệ sinh thì ít nhiều thú vui cũng bị ảnh hưởng.

Có dịp đi nhiều nơi nên tôi thấy nhiều nhà vệ sinh rất tệ hại. Từ TP.HCM đến các tỉnh, nếu phải ghé các trạm đổ xăng, nhiều du khách có nhu cầu cũng rất ngại đi vào. Ở các nhà hàng mà xe du lịch thường dừng lại cho du khách ăn uống, nghỉ ngơi, nhà vệ sinh luôn bị quá tải, quá dơ, không có giấy, xà phòng, nước lại chảy yếu…

Tại TP.HCM, nhiều du khách có sở thích đi bộ dạo quanh TP cũng đau đầu với chuyện vệ sinh cá nhân do các nhà vệ sinh công cộng còn thưa thớt, chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Đã vậy, chúng cũng không được sạch, bước vào là có mùi hôi, diện tích lại quá nhỏ, có thể gây khó khăn cho những du khách nước ngoài to con.

Trong một lần dạo chơi ở Khu du lịch Văn Thánh, tôi đã rất ấn tượng bởi sự sạch sẽ, mùi thơm dễ chịu, cách bày biện những đồ dùng, những bức tranh treo tường xinh xắn trong nhà vệ sinh tại đây. Dĩ nhiên là tôi hài lòng và sẽ an tâm giới thiệu địa điểm này cho nhiều bạn bè.

ĐẶNG CẢNH (Quận Bình Thạnh)

Tôi đã có dịp đi Côn Đảo và giờ nghe ai hỏi về địa danh này tôi đều mạnh dạn khẳng định: “Đẹp, hay!”. Tuy nhiên, có một chuyện tế nhị mà tôi vẫn thấy thẹn khi kể lại.

Trong lúc tham quan khu nhà tù khá rộng của Pháp thì tôi và chị bạn có nhu cầu đi vệ sinh. Nhìn xung quanh không có bảng hướng dẫn, chúng tôi quay sang tìm hướng dẫn viên nhưng anh này đã mất hút trong dòng người đang thẳng tiến. Nhờ mấy người trong đoàn từng đến đây chỉ chỗ nhưng họ đều lắc đầu “không biết”. Chợt nhìn thấy gần đó có miếng đất trống đầy cỏ có bức tường bao bên ngoài, mọi người đã đẩy hai chúng tôi vào. Cả hai chạy lẹ như ma đuổi… Nhưng như vậy vẫn chưa yên, vài người nam do không biết chuyện đã toan đi vào bên trong tham quan. Nghe mấy chị đang đứng canh chừng la to “không được, cấm vào” rồi sau đó là tiếng cười của mấy người nam, tụi tui run bần bật.

Sau đó, để tránh chuyện không hay xảy ra lần nữa, tôi đã quan sát rất kỹ khi bước chân vào khu nhà tù của Mỹ. Thế nhưng tôi vẫn không tìm thấy ký hiệu WC nào cả…

Nhân đây cho tôi đề nghị: Các khu du lịch nên đặt ở cổng ra vào bảng chỉ dẫn các vị trí của khu, trong đó có nhà vệ sinh. Đồng thời, hướng dẫn viên nên chủ động giới thiệu điều này để mọi người đều rõ. Tất nhiên, nhà vệ sinh phải hội đủ yêu cầu theo quy định của Tổng cục Du lịch để du khách luôn cảm thấy dễ chịu, hài lòng.

MINH CHÂU

Đưa hoạt động kinh doanh du lịch về vùng quê nghèo: Giúp đồng bào dân tộc phát triển kinh tế

Đối với những vùng quê nghèo như hai xã Tà Lài, Đăk Lua (thuộc huyện Tân Phú, Đồng Nai), việc người dân được tham gia kinh doanh du lịch thật sự rất có ý nghĩa.

Người dân nghèo nơi đây không những được tiếp cận cách phát triền kinh tế mới, mà qua đó còn được giáo dục nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường sống và giữ gìn bản sắc văn hóa địa phương. Những hình thức kinh doanh của họ tuy mới bắt đầu khởi động nhưng hứa hẹn một sự phát triển bền vững.

Rất nhiều tiềm năng

Tà Lài, Đăk Lua được biết đến là hai xã nghèo, khó khăn so với các xã khác của tỉnh Đồng Nai. Nhưng bù lại, hai xã vùng đệm áp sát Vườn Quốc gia Cát Tiên này lại có nhiều ưu thế để phát triển du lịch cộng đồng. Nhất là khi Vườn Quốc gia Cát Tiên đang trở thành địa điểm được du khách ưa thích.

Xã Tà Lài là nơi tập trung 11 dân tộc: Kinh, S’Tiêng, Châu Mạ, Tày, Choro, Xray, Ê Đê, Khme… chung sống. Trong đó, đồng bào dân tộc S’Tiêng, Châu Mạ và Tày lưu giữ được nhiều những bản sắc dân tộc mình như các lễ hội đâm trâu, cúng thần linh (Yang), lễ hội cầu mưa… Đồng bào dân tộc S’Tiêng, Châu Mạ đã sớm hình thành cộng đồng và tồn tại cùng với rừng Cát Tiên từ hàng nghìn đời. Rừng gắn bó với dân và là môi trường hình thành và phát triển những phong tục tập quán, những phẩm chất tốt đẹp của cộng đồng. Năm 1978, sau khi khu rừng cấm được thành lập, UBND tỉnh Đồng Nai đã vận động và đưa các hộ này đang sống rải rác trong rừng ra sống định canh định cư tại ấp 4 của xã Tà Lài. Bên cạnh đó, người Tày di cư từ các huyện Trùng Khánh, Hạ Lang (Cao Bằng), Ngân Sơn (Bắc Kạn) vào sinh sống tại ấp 7 từ năm 1984 đến năm 1994. Người Tày ở ấp 7 còn duy trì lễ Lồng Tổng, lễ Tung Còn được tổ chức vào những dịp đầu năm. Mỗi dân tộc có phong tục tập quán khác nhau, tạo nên sự phong phú hấp dẫn du khách.

Còn xã Đăk Lua – vốn là nơi đóng quân của Trung đoàn I (Sư đoàn 600) từ những năm 1970. Do vậy, dân cư ở đây phần lớn là các cựu chiến binh đến từ các tỉnh phía Bắc. Họ mang theo cả những nét văn hóa truyền thống, ẩm thực của các địa phương này.

Ngoài ra, sông Đồng Nai đoạn chảy qua địa phận xã Đắk Lua uốn khúc bao quanh một phần diện tích và hình thành ranh giới tự nhiên cho xã. Trên vùng đất bằng phẳng là các cánh đồng lúa nối tiếp nhau rộng lớn, tạo thành cảnh quan thiên nhiên tuyệt vời. Đắk Lua còn có vị trí nằm giáp ranh với Vườn Quốc gia Cát Tiên và trong vùng giáp ranh giữa 3 tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng và Bình Phước, tạo thuận lợi trong phát triển các tour du lịch kết nối giữa VQG Cát Tiên với các điểm du lịch lân cận như khu di chỉ khảo cổ học của huyện Cát Tiên, tỉnh Lâm Đồng, các điểm du lịch của tỉnh Bình Phước.

Thế mạnh của Tà Lài là văn hóa truyền thống và dựa vào rừng nên sản phẩm du lịch cộng đồng của Tà Lài khá đa dạng. Du khách có thể đi bộ tham quan ấp 4, trường học, nhà văn hóa và phòng truyền thống, cầu treo và tượng đài Ngục Tà Lài; hoặc tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất cùng với người dân (trồng lúa); hoặc tìm hiểu về dệt thổ cẩm, đan lát, rèn, và giao lưu văn nghệ, ẩm thực địa phương. Du khách có thể đi bộ hay ca nô từ Tà Lài theo các tuyến trong Vườn Quốc gia Cát Tiên (Đồi Xanh – Bầu Sấu hay Tà Lài – Đồi Đất Đỏ – Sa Mách).

Trong khi đó, mô hình homestay (ngủ tại nhà dân địa phương) được cho là thế mạnh của xã Đắk Lua. Mô hình homestay phát triển ở xã Đắk Lua vì hai lý do. Thứ nhất homestay là xu hướng mới của ngành du lịch, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Xã Đắk Lua là địa điểm gần rừng cấm nhất với nhiều đường dạo thanh bình, nhiều cửa hàng địa phương và con người thân thiện, mến khách sẽ mang lại nhiều trải nghiệm cho du khách. Thứ hai, khi đi bộ tham quan hết rừng cấm du khách không thể quay lại ngay tại điểm khởi đầu trong ngày mà cần một nơi để nghỉ ngơi, thư giãn.

Người dân được hưởng lợi

Với mục tiêu phát triển du lịch cộng đồng bền vững, Ban quản lý dự án phát triển du lịch sinh thái của Vườn Quốc gia Cát Tiên đã xây dựng các mô hình liên kết giữa các công ty du lịch, chính quyền và người dân địa phương. Nhờ vậy, quyền lợi của người dân khi tham gia kinh doanh du lịch được đảm bảo.

Bà Phạm Thị Vinh, Phó Chủ tịch UBND xã Tà Lài cho biết, khi triển khai dự án du lịch cộng đồng, Ban quản lý dự án đã xác định phải thành lập được một tổ hợp tác liên kết người dân địa phương để đứng ra quản lý tài sản, nhân lực và thực hiện công tác liên kết với các đơn vị du lịch. Số tiền đóng góp thấp nhất là 100.000 đồng/người để tất cả mọi người dân đều có thể tham gia đóng góp, tránh tình trạng lợi nhuận chủ yếu tập trung vào một số người có khả năng kinh tế đóng góp nhiều thì được hưởng lợi nhiều. Hiện tại, Tổ hợp tác có 19 người và đang ký kết với Công ty Du lịch Lữ hành Viet Adventure. Công ty sẽ đưa khách du lịch các địa điểm trong hai ấp. Từ đấy, người trong tổ hợp tác với tư cách là hướng dẫn viên sẽ hướng dẫn khách tham quan, ăn uống. Lợi nhuận thu được chia theo hình thức 50/50 và được chia đều cho các xã viên.

Ông Nguyễn Văn Hanh, ở ấp 4 tổ 3, xã Đăk Lua, một trong ba hộ đang tham gia dịch vụ homestay phấn khởi chia sẻ: Mô hình homestay là mô hình mới và cần nhiều điều kiện mới có thể tham gia được. Do vậy, Ban quản lý dự án mới triển khai cho một số hộ sau đó sẽ triển khai dần cho tất cả các hộ trong xã. Thông qua UBND xã Đăk Lua, các hộ đã liên kết được với công ty Inno Việt. Cũng với hình thức phân chia lợi nhuận như xã Tà Lài, ước tính trong năm 2012 thu nhập bình quân hàng tháng của mỗi hộ là khoảng 6,9 triệu đồng. Ngoài ra, một phần nhỏ sẽ được trích ra để hỗ trợ cho các lễ hội văn hóa, trẻ em nghèo hiếu học, người già không nơi nương tựa, trồng cây xanh… nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong hai xã đều được hưởng lợi từ du lịch.

Không chỉ thế, điều được hơn cả là thông qua hình thức liên kết này, người dân địa phương được học hỏi kinh nghiệm quản lý, thiết kế tour du lịch, các kỹ năng cần thiết khác để hướng dẫn khách nước ngoài. Từ đó, sẽ hình thành nên nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh du lịch sau này. Anh K’Yên, người Châu Mạ, Tổ trưởng Tổ hợp tác cho biết: “Hầu hết đồng bào trong Tổ hợp tác chưa học hết cấp I, nên việc học cách thức kinh doanh, ngoại ngữ… là điều vô cùng khó khăn. Nhiều người đã từng nghĩ sẽ bỏ cuộc. Nhưng nghĩ lại, nếu mình bỏ thì ai sẽ làm, và người dân mình sẽ chỉ mãi lên rừng hái măng, săn bắn. Do vậy, mọi người lại động viên nhau cùng học, cùng làm. Hơn nữa, học hỏi để sau ba năm hết hợp đồng với công ty du lịch, Tổ hợp tác sẽ đủ sức để điều hành mọi hoạt động từ thiết kế tour, tiếp thị sản phẩm du lịch”.

“Không những giáo dục tuyên truyền bà con bảo vệ rừng, mục đích phát triển du lịch cộng đồng tại hai xã còn góp phần giúp người dân hiểu được sự cần thiết của việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc mình. Vì nhiều lý do, các lễ hội, các hoạt động dệt thổ cẩm, đan lát, gùi… của đồng bào dân tộc nơi đây đã mai một dần; nhất là nghề dệt thổ cẩm, dù đã được Nhà nước đầu tư xây dựng nhà xưởng để làm nơi bà con tập trung nhau lại dệt, tuy nhiên, vì không có đầu ra (chỉ bán các sản phẩm dệt trong dịp lễ hội), nên hoạt động trong nhà xưởng hiện gần như đã ngừng hẳn. Cho nên, nếu các sản phẩm dệt được tiêu thụ thông qua việc bán cho khách du lịch, sẽ góp phần không nhỏ trong việc khôi phục nhà xưởng cũng như một làng nghề truyền thống đặc sắc của đồng bào dân tộc thiểu số” – anh K’Yên chia sẻ.

Lan Phương

Nguồn: Báo Tin tức

Hẹn nhau nơi đất lạ – Bài học làm du lịch ở Việt Nam

Được trích thành một bộ phim tài liệu để trình chiếu tại Việt Nam, chuyến du hành của ngôi sao bóng bầu dục Frederic Michalak tới bản người dân tộc Lô Lô đen ở Cao Bằng trong chương trình Hẹn nhau nơi đất lạ (kênh France 2) đã mang lại nhiều bài học quý giá cho những ai quan tâm đến du lịch.

Khám phá không phải một cuộc đi dạo

Phim mở đầu bằng hình ảnh ngôi sao Michalak tình nguyện bị bịt mắt để lên máy bay tới một quốc gia bí mật. Khi đặt chân đến sân bay Nội Bài, anh mới biết đó là Việt Nam. Nhưng điểm dừng chân của Michalak không phải Hà Nội với dòng xe nườm nượp mà mỗi khi sang đường là một lần đấu trí. Anh mất thêm hành trình dài bằng ô tô nữa để lên đến huyện miền núi giáp biên giới Trung Hoa, thuộc tỉnh Cao Bằng. Xe dừng lại bên một cây cầu nhỏ bắc qua con suối nhỏ, nơi anh và biên kịch của chương trình – Frédéric Lopez – làm quen với người liên lạc địa phương và bắt đầu hành trình 2 tuần “khám phá đất lạ” đầy lao lực nhưng không ít giá trị sống bằng một cuộc đi bộ đường rừng gần 4 tiếng đồng hồ vào với bản người Lô Lô đen.

Chương trình Hẹn nhau nơi đất lạ đêm 01 tháng 11 năm 2011 trên đài France 2 (Pháp) ghi lại cuộc hành trình của cầu thủ bóng bầu dục Frederic Michalak tới bản người Lô Lô đen đã thu hút đến 7,7 triệu người xem

Michalak đến đây không phải để chơi mà là để khám phá vùng đất lạ. Và yêu cầu khám phá mà chương trình đặt ra với ngôi sao bóng bầu dục này là phải hoà nhập vào cuộc sống sinh hoạt, lao động của người dân địa phương. Hay nói cách khác, Michalak – một người nổi tiếng, một công dân Pháp, phải quên đi mình là ai và sống như một người Lô Lô đen trong 2 tuần lễ.

Không có bất kỳ một ưu ái nào dành cho Michalak trong suốt thời gian thử thách đó.

Bữa tối đầu tiên của Michalak tại nhà Phương – một người Lô Lô đen, anh phải cầm đũa ăn cơm như tất cả mọi người trong nhà với mâm cơm chỉ có 1 bát canh rau rừng và 1 bát cá khô kho mặn. Anh không nhăn mặt nhưng cách anh gắp miếng cơm cho biết anh đã rất nỗ lực để có thể ăn được hai bát theo lời mời của chủ nhà.

Các bữa cơm sau đó của Michalak đều chỉ có hai món kể trên, ngoại trừ bữa tiệc chia tay ăn cùng cả làng. Nhưng đương nhiên là không có bánh ngọt, thịt nướng hay bất cứ thức ăn ngoại lai nào đối với người Lô Lô.

Michalak đã vượt qua thử thách này khá dễ dàng. Bởi chỉ hôm sau ra làm nương, anh đã xắn quần đến gối ngồi ăn được 3 bát cơm với cá khô bên bờ ruộng. Tuy nhiên với người dân ở đây thì như thế chưa đạt. Bởi như Tuyền-vợ Phương nói: “Các anh to béo thế mà chỉ ăn có 3 bát, chúng tôi gầy thế này mà ăn được 6 bát cơm”.

Trong 2 tuần, Michalak làm việc như một thành viên của gia đình Phương. Anh phải đi đốn cây tre để đóng cọc làm hàng rào, đi cấy mạ, cày ruộng, cuốc đất làm nương, tắm cho trâu, đi bắt lợn làm giống, xuống chợ bán gạo, hái rau khoai về băm rau nấu cám cho lợn, trông lũ trẻ con nhà Phương, cả đi học lớp xóa mù chữ dạy tiếng Kinh cho người Lô Lô… Tất cả những việc gì một người đàn ông Lô Lô phải làm thì Michalak cũng phải làm.

Mỗi khi anh làm chưa tốt việc gì đó, mọi người ai cũng cười nhưng là cười vui chứ không cười nhạo. Và Tuyền bảo anh: “Làm quen rồi thì sẽ không khó. Đừng bỏ cuộc”. Michalak đã không bỏ cuộc. Anh luôn giấu những tiếng thở dốc mệt lử người để làm đến cùng công việc được giao.

Chỉ khi ngồi tâm sự riêng với Lopez, anh mới chia sẻ: “Một ngày tập luyện trước giải đấu cúp thế giới chỉ giống như đi dạo quanh đây một vòng” và “nếu đội tuyển quốc gia mà đến đây tập luyện trước mùa giải thì họ sẽ 40 lần vô địch thế giới”.

Hai tuần ở với người Lô Lô, Michalak khám phá ra bao giá trị sống mới mà ở một quốc gia văn minh như Pháp, anh không tìm thấy. Đó là những nụ cười, là khái niệm vô cùng giản đơn về hạnh phúc: mùa màng không bị thất bát, cái ăn có đủ, được lao động và chờ vợ về ăn cơm.

Ở mảnh đất này, đoàn kết là giá trị cốt lõi cho sự sinh tồn và chăm chỉ lao động là giá trị cốt lõi của phẩm chất con người. Michalak được dân làng yêu mến, tin tưởng và chấp nhận vì anh đã chăm chỉ lao động chứ không phải vì anh là khách, lại là một ông khách Tây. Phương yêu Tuyền vì cô rất siêng năng chứ không phải vì cô từng đoạt giải trong một cuộc thi sắc đẹp 54 dân tộc Việt Nam. Còn một người Pháp như Michalak mới bị cuốn hút bởi một cô gái đẹp. Nên lúc nào anh cũng hướng đôi mắt trìu mến về phía người phụ nữ 2 con, gầy guộc, mặc trang phục dân tộc kín đáo, phải làm việc lao lực từ sáng sớm đến chiều muộn mà vẫn đầy duyên dáng khi nói, khi  cười, khi đi, khi vác bó củi to lên vai, khi rũ mái tóc ra chải và quấn gọn trước lúc lên nương, khi tháo chiếc khăn bịt mặt nhìn ống kính máy quay lúc trở về nhà sau một ngày mệt nhọc. Chỉ người Pháp như Michalak mới nói: “Tôi rất vinh dự được xuống chợ với nữ hoàng sắc đẹp”. Còn người Lô Lô nói: “Michalak, anh siêng năng đấy. Anh có thể cưới một cô vợ Lô Lô được rồi”.

Những điều mà Michalak “thu hoạch” được sau 2 tuần ở cùng người Lô Lô là những điều không tra được trên mạng internet, không dễ có với những chuyến đi khám phá theo kiểu cưỡi ngựa xem hoa, ăn uống sinh hoạt tách biệt với người dân bản địa, và không thể có với những ai đi du lịch khám phá với tâm thế của một vị khách.

Những giọt nước mắt của một ngôi sao quốc tế khi chia tay những người dân Lô Lô đen bé nhỏ, những thước phim tinh tế và sống động, tiếng ghita rộn ràng những bản ballad đồng quê Pháp… tất cả quấn quýt trong đầu và khơi dậy khát khao lên đường, khát khao khám phá trong lòng mỗi người xem phim.

Và bài học về cách làm du lịch

Trên truyền hình Việt hiện nay có không ít các chương trình thực tế về du lịch Việt. VTV1 có S-Việt Nam Hương vị cuộc sống, VTV3 có Ấn tượng Việt Nam, SCTV có Nhịp cầu du lịch… Có cả các ngôi sao Việt tham gia vào hành trình khám phá để mang đến những trải nghiệm chân thật nhất cho khán giả. Tiếc là những gì hiện lên màn hình chỉ là những cái nhăn mặt khi đối diện với thử thách và bàn tay dàn xếp cho nhân vật vượt qua thử thách dễ dàng, những cảm nhận hời hợt của chính người viết kịch bản và tâm thế của những vị khách lạ không sẵn sàng nhập cuộc hiển hiện rõ nét qua từng thước phim.

Chương trình đã mang lại nhiều bài học quý giá cho những ai quan tâm đến du lịch Việt Nam (Trong ảnh: du khách nước ngoài tại Hà Giang-Ngọc Thành)

Các tour du lịch của Việt Nam cũng ngày càng nở rộ hình thức “một ngày”: Một ngày làm cư dân phố cổ, một ngày làm nông dân, một ngày làm ngư dân… Nhưng với một ngày, liệu các vị khách có học được cách cầm cuốc sao cho không bị mỏi tay? Chứ chưa nói đến việc gieo trồng, đánh bắt, hái lượm như nhà tour thiết kế.

Dưới hình thức các tour một ngày này, các điểm đến du lịch sinh thái bị biến thành một bảo tàng, nơi đó mọi sinh hoạt và lao động của người dân bị biến thành hiện vật trưng bày, không có hơi thở của mồ hôi và vận hành lo toan của cuộc sống thường nhật. Những luống rau ở Trà Quế chỉ để khách đến vụng về trồng vài cây giống, làng gốm ở làng cổ Phước Tích chỉ biểu diễn nặn gốm khi có khách, chiếc võng tết dở bằng cây ngô đồng ở Cù Lao Chàm chỉ để khách vào chụp ảnh…

Khách có thể háo hức trong một vài giờ, hoặc trong một lần đến duy nhất, chứ không thể vẹn nguyên ở những lần trở lại.

Những tour như thế chắc chắn sẽ không đánh thức được cảm xúc của du khách khi xem lại những kỷ niệm, không thể làm Michalak phải rơi lệ trước hàng trăm khán giả trong trường quay như Hẹn nhau nơi đất lạ đã làm được đối với anh. Và quan trọng nhất, nó không thúc giục được bước chân của mỗi người phải khoác ba lô lên đường đến với vùng đất mới. Không làm được điều đó tức là thất bại của người làm du lịch.

Khánh Hải

Nguồn: Báo Tổ quốc

Đón 2,5 triệu khách quốc tế trong bốn tháng đầu năm

Số liệu tổng cục Thống kê và báo cáo của tổng cục Du lịch cho thấy, ước tính tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong bốn tháng đầu năm 2012 đạt gần 2,5 triệu lượt khách, tăng 22,9% so với cùng kỳ năm 2011.

 

Ước tính tổng số khách quốc tế đến Việt Nam trong bốn tháng đầu năm 2012 đạt gần 2,5 triệu lượt khách.

Đa số các thị trường khách đều tăng so với cùng kỳ năm 2011, cụ thể: Tăng nhiều nhất là thị trường khách Nga với 50,9%; tiếp đến là Hàn Quốc tăng 49,3%; Đài Loan tăng 30,2%; Malaysia tăng 28,3%; Nhật Bản tăng 25,3%; Trung Quốc tăng 23,3%.

Riêng thị trường khách Campuchia và thị trường Australia có xu hướng giảm từ 3,4-3,6% so với cùng kỳ năm 2011.

Mục đích của lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong những tháng đầu năm chủ yếu là để du lịch và nghỉ dưỡng, đạt 1.482.611 lượt người, tăng 23,0% so với cùng kỳ năm trước; đến vì công việc là 429.537 lượt người, tăng 26,7%; đến thăm thân là 441.510 lượt người, tăng 20,6%; đến vì các mục đích khác là 140.068 lượt người, tăng 18%.

Ước tính riêng số khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 4.2012 đạt 620.000 lượt, tăng 10,3% so với tháng 3.2012 và tăng 18,4% so với cùng kỳ năm 2011.

Phương tiện đường hàng không vẫn là lựa chọn tối ưu của du khách, đạt 530.000 lượt, chiếm 85,5% (tăng 16,9 % so với cùng kỳ năm 2011). So với cùng kỳ năm 2011, khách đến bằng phương tiện đường biển đạt 5.000 lượt khách, chiếm 0,8% (tăng 66,7%), đến bằng phương tiện đường bộ đạt 85.000 lượt khách, chiếm 13,7% (tăng 26,4%).

Như vậy, tuy mới đi được 1/3 chặng đường nhưng ngành du lịch đã đạt con số khá ấn tượng với 2,5 triệu lượt. Nếu vẫn duy trì được “phong độ” ổn định như bốn tháng đầu năm, thì con số chỉ tiêu đón 6,5 triệu lượt khách quốc tế năm 2012 hoàn toàn không phải khó với du lịch Việt.

Theo Vietnam +

Tạo cơ hội cho lao động tự do trong du lịch: Bài 1: Nhiều kỹ năng cần đào tạo

Hiện Việt Nam có khoảng 500.000 lao động trực tiếp làm trong ngành du lịch và hơn 1 triệu lao động gián tiếp; dự kiến số lượng này sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020. Trong đó, khá đông lao động này là tự phát, không được đào tạo nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dịch vụ du lịch.

Chương trình Đào tạo kỹ năng nghề du lịch cho nhóm lao động tự do ở Việt Nam (HITT) vừa được Tổ chức Phát triển Hà Lan (SNV) triển khai tại các địa bàn thu hút lượng lớn khách du lịch và có nhiều lao động tự do nhằm nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực du lịch là một hướng đi thật sự cần thiết.

Bán hàng rong trước cửa khách sạn ở Sa Pa.

Những khảo sát của SNV cho thấy, tại các điểm du lịch có tiếng của Việt Nam như Sa Pa (Lào Cai), Hội An (Quảng Nam)… người dân đã tích cực tham gia vào dịch vụ du lịch; tuy nhiên do còn thiếu nhiều kỹ năng, nên hiệu quả chưa cao.

Chị Thúy, 58 tuổi, dân tộc Dao, hiện sống tại bản du lịch Tả Pìn, Sa Pa (Lào Cai) cho biết: “Nhà mình kinh doanh lưu trú homstay với 14 giường nhưng mùa cao điểm chỉ đón vài chục khách. Do đó, mình muốn mở thêm dịch vụ cà phê và muốn giao tiếp được với khách để tìm hiểu nhu cầu của du khách nước ngoài”.

Còn Vàng Thị Dở, dân tộc Mông, 42 tuổi, bán hàng rong ở thị trấn Sa Pa kể: “Tôi làm việc từ 7 giờ sáng đến 5 giờ chiều tất cả các ngày trong tuần, nhưng thu nhập chỉ hơn 1 triệu đồng/tháng. Bán hàng rong rất vất vả vì đi theo chân khách suốt cả ngày. Tôi mong muốn có cửa hàng hoặc một chỗ bán hàng trong chợ. Mong muốn lớn nhất là được học tiếng Anh để có thể giao tiếp với khách”.

Đó là những tâm tư của người lao động tự do tại các điểm du lịch mà SNV đã phỏng vấn để tìm hiểu nhu cầu của họ muốn gì khi tham gia vào các dịch vụ du lịch. “Lao động tự do là những đối tượng lao động nằm ngoài hệ thống chính thức, không được kiểm soát bởi thuế hay những quy định về lao động”, ông Phil Harman, cố vấn chương trình du lịch SNV cho biết.

Bên cạnh đó, SNV cũng đã khảo sát về sự hài lòng của khách với dịch vụ du lịch ở 107 điểm tham quan, 87 khách sạn nhỏ, 35 địa điểm có lưu trú nhà dân và 205 nhà hàng. Kết quả cho thấy, du khách quốc tế đánh giá cao thái độ thân thiện, mến khách của người Việt Nam khi đón khách, tiếp xúc, hướng dẫn du lịch, phục vụ tại nhà hàng, khách sạn nhỏ; nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần cải thiện, nhất là tiếng Anh.

Bà Đỗ Thị Cẩm Thơ, Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch cho biết: Từng loại hình cần những kỹ năng, yêu cầu riêng. Trước tiên, với dịch vụ tham quan, du khách đánh giá cao về sự thân thiện của HDV, sự chào đón khi bắt đầu chuyến đi. Tuy nhiên, khách đánh giá không cao dịch vụ vận chuyển (chỉ 5% hài lòng) và khả năng ngoại ngữ của HDV và các hoạt động trong tour (dưới 18%). Do đó cần nâng cao kiến thức của hướng dẫn viên về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên; cung cấp thêm thông tin cho khách du lịch trước và trong chuyến đi, đào tạo kỹ năng giao tiếp cho lái xe.

Trong khi đó, với khách sạn nhỏ, khách đánh giá cao sự thân thiện của nhân viên, dịch vụ đặt, nhận và trả phòng. Tuy nhiên khách đánh giá thấp chất lượng phòng tắm (20%) và xử lý tình huống của nhân viên. Do đó, khuyến nghị với khách sạn nhỏ cần cải thiện kỹ năng tiếng Anh của nhân viên, điều kiện vệ sinh, lễ tân cần chuyên nghiệp hơn.

Đối với dịch vụ nhà hàng, khách hài lòng về sự thân thiện, đa dạng món ăn và cách trình bày. Tuy nhiên, khách phàn nàn nhiều về kỹ năng tiếng Anh (2%) và tiêu chuẩn vệ sinh. Do đó, với loại hình này cần đào tạo kỹ năng phục vụ của nhân viên, sự nhanh nhẹn trong phục vụ và kỹ năng tiếng Anh để giải thích về văn hóa ẩm thực; đồng thời cần nâng cao về vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tại các bản làng du lịch cộng đồng, khách cho rằng cần nâng cao kiến thức về văn hóa địa phương của chủ nhà, bổ sung hoạt động về đêm… Khách ở nhà dân chủ yếu muốn hiểu sâu cuộc sống và văn hóa người dân nơi điểm đến, do đó ngoài kỹ năng tiếng Anh, các dịch vụ bài trí phải “thật” với đời sống hàng ngày.

Khảo sát cho thấy có khoảng cách lớn từ nhu cầu của khách và khả năng đáp ứng dịch vụ tại điểm du lịch. Do đó, việc đào tạo kỹ năng cho người dân tại cộng đồng điểm du lịch là rất cần thiết giúp khách có những trải nghiệm thú vị nơi điểm đến, đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và đó cũng là cách quảng bá hữu hiệu nhất hình ảnh điểm đến du lịch Việt Nam.

Bài và ảnh: Xuân Minh

Du lịch trách nhiệm vì sự phát triển bền vững

Ngày nay, khái niệm “Du lịch có trách nhiệm” không là một loại hình du lịch mới, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng. Bản chất của loại hình du lịch này chứa đựng những đặc trưng của phát triển du lịch bền vững, tuy nhiên nó mang tính phổ quát, định hướng cao hơn và thậm chí điều chỉnh tất cả các loại hình du lịch khác nhằm hướng mục tiêu phát triển ngành du lịch đạt tới sự hài hòa, đem lại lợi ích bình đẳng cho tất cả chủ thể tham gia vào quá trình phát triển du lịch. Đồng thời, nó góp phần đáng kể trong việc hỗ trợ cho việc tạo dựng nên một môi trường lành mạnh vì lợi ích kinh tế-xã hội.

Du lịch có trách nhiệm gồm một số đặc trưng cơ bản: Giảm thiểu các tác động tiêu cực về kinh tế, xã hội và môi trường; mang lại nhiều lợi ích hơn cho người dân địa phương và tăng thu nhập cho các cộng đồng dân cư điểm đến, cải thiện điều kiện làm việc và tạo thêm nhiều cơ hội việc làm cho ngành du lịch; khuyến khích người dân tham gia vào quá trình quyết định những vấn đề có thể ảnh hưởng tới cơ hội mưu sinh của họ; góp phần tích cực vào việc bảo tồn các di sản tự nhiên và văn hóa, duy trì tính da dạng; mang lại nhiều trải nghiệm thú vị cho khách du lịch thông qua giao tiếp với cộng đồng địa phương, qua đó giúp họ hiểu sâu sắc hơn về văn hóa, xã hội và môi trường bản địa; tạo điều kiện cho mọi người có thể tiếp cận dễ dàng hơn các dịch vụ du lịch; tăng cường sự tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau giữa khách du lịch và cộng đồng điểm đến, tạo dựng niềm tin và tự hào của người dân tại các điểm du lịch. Theo đó, phát triển du lịch có trách nhiệm cần tuân thủ những nguyên tắc chủ yếu sau:

Trách nhiệm về kinh tế:

- Khi phát triển các dự án du lịch, cần phải đánh giá tác động kinh tế, xác định rõ ưu tiên loại hình nào phát triển phù hợp, sẽ mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư địa phương và giảm thiểu các tác động tiêu cực tới đời sống của họ, ví dụ: phát triển dự án du lịch có dẫn tới hậu quả  làm tổn hại và cạn kiệt các nguồn lực, tài nguyên? Đồng thời, cũng cần phải xác định rõ phát triển du lịch có phải là ngành kinh tế mũi nhọn của địa phương mình hay không?

- Tăng cường liên kết nhằm khuyến khích sự tham gia mạnh mẽ hơn của các cộng đồng dân cư vào hoạt động du lịch; giảm thiểu sự thiệt hại trong quá trình khai thác và sử dụng các nguồn lực; phát triển du lịch gắn chặt với mục tiêu vì người nghèo và hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo.

- Chất lượng sản phẩm du lịch của điểm đến cần phải nêu bật được nét hấp dẫn đặc thù và chú trọng tới giá trị gia tăng.

- Xúc tiến quảng bá du lịch phải đảm bảo tôn trọng tính nguyên vẹn về văn hóa, kinh tế, tự nhiên và xã hội; khuyến khích phát triển các loại hình du lịch phù hợp với hoàn cảnh thực tế.

- Tôn trọng phong tục, tập quán của cư dân bản địa, kinh doanh bình đẳng, xây dựng giá cả hợp lý và xây dựng mối quan hệ kinh doanh chia sẻ trách nhiệm cả trong rủi ro và thành công. Tuyển dụng và đào tạo nhân viên làm việc có tay nghề đạt tiêu chuẩn quốc tế.

- Dành hỗ trợ đáng kể cho các doanh nghiệp nhỏ, vừa và cực nhỏ hoạt động trong các lĩnh vực liên quan tới du lịch phát triển theo hướng bền vững.

Trách nhiệm về xã hội:

- Tích cực thu hút cộng đồng dân cư địa phương tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và ra quyết định, nâng cao năng lực để cho họ hiện thực hóa các sáng kiến đề ra.

- Đánh giá tác động xã hội thông qua các chu kỳ vận động dự án, ngay từ khâu lập kế hoạch, thiết kế dự án nhằm giảm thiểu các tác động xã hội và tối đa hóa yếu tố tích cực.

- Biến du lịch là nhu cầu trải nghiệm chung của toàn xã hội, nhằm đảm bảo quyền lợi cho tất cả mọi người, đặc biệt la những nhóm người và cá nhân dễ bị tổn thương và thiệt thòi.

- Ngăn chặn lạm dụng tình dục trong du lịch, đặc biệt đối với trẻ em.

- Tôn trọng văn hóa bản địa, bảo tồn và phát huy tính đa dạng về văn hóa và xã hôi.

- Đảm bảo du lịch đóng góp đáng kể vào cải thiện y tế và giáo dục.

Trách nhiệm về môi trường:

- Cần đánh giá tác động môi trường trong quá trình hoạch định và thiết kế dự án du lịch.

- Sử dụng tài nguyên hợp lý và bền vững, giảm chất thải và tiêu thụ quá mức tài nguyên và năng lượng.

- Quản lý đa dạng tự nhiên, sinh thái theo hướng bền vững; phục hồi những khu vực tài nguyên tự nhiên bi xâm hại và xác định rõ các loại hình du lịch gắn với môi trường để có hướng bảo vệ, bảo tồn nguyên vẹn các hệ sinh thái dễ bị phá hủy và các khu phòng hộ.

- Tăng cường đào tạo, nâng cao nhận thức cho mọi chủ thể về phát triển bền vững.

- Nâng cao năng lực về du lịch cho mọi chủ thể và cần phải tuân thủ những mô hình phát triển du lịch lành mạnh và hiệu quả nhất. Để đạt được mục tiêu trên, cần phải thường xuyên tham vấn các chuyên gia môi trường và bảo tồn.

Phát triển bền vững là xu thế tất yếu của thời đại. Du lịch không những không nằm ngoài tiến trình trên mà còn đóng góp vai trò to lớn và quan trọng vào thực hiện mục tiêu đó. Hầu hết các quốc gia có ngành du lịch phát triển cũng như một số nước đang phát triển trên thế giới  đã và đang tập trung nhiều nỗ lực để phát triển mô hình du lịch này và gặt hái được nhiều thành công. Du lịch là một trong những ngành kinh tế có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nó là nhân tố phát triển và cũng là hệ quả để đảm bảo sự phát triển bền vững. Để có thể hiện thực hóa mục tiêu phát triển du lịch có trách nhiệm, đòi hỏi có tình thần trách nhiệm cao và sự phối hợp chặt chẽ từ mọi chủ thể, cả ngành du lịch lẫn các ngành liên quan. Trong đó, đặc biệt chú trọng mối quan hệ giữa 5 chủ thể chính đó là cơ quan quản lý nhà nước về du lịch cả trung ương và địa phương, cộng đồng dân cư địa phương, các hiệp hội nghề nghiệp trong đó hiệp hội du lịch là chủ đạo, doanh nghiêp du lịch và cuối cùng người khách du lịch. Đồng thời, vì sự nghiệp phát triển du lịch chung, cần phải xây dựng cam kết tập thể ở cấp cao thông qua việc hình thành cơ chế hợp tác chung, trong đó cơ quan quản lý nhà nước về du lịch đóng vai trò nòng cốt, với sự tham gia tích cực và thường xuyên của các cơ quan thẩm quyền liên quan, cần có trách nhiệm cụ thể, rõ ràng đối với từng nhiệm vụ được phân công. Cần phải xây dựng một chiến lược quốc gia riêng về phát triển du lịch có trách nhiệm, từ đó làm cơ sở để thể chế hóa các sáng kiến, nội dung du lịch có trách nhiệm trong các chương trình xây dựng chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, các kế hoạch, quy hoạch du lịch. Bên cạnh đó, việc huy động mọi nguồn lực để triển khai các hoạt động cụ thể cũng không kém phần quan trọng, trong đó đặc biệt là nhân lực và tài lực. Với những định hướng cơ bản trên, vận dụng và thực thi tốt chắc chắn sẽ là những nền móng quan trọng để thúc đẩy ngành du lịch phát triển theo hướng chất lượng, bền vững, có trách nhiệm.

Phương Linh RMIT

Nhờ Thomas Cook, trái đất dường như nhỏ lại

PNO – Thomas Cook (22/11/1808 – 18/7/1892, người Anh) được lịch sử ngành du lịch vinh danh với tư cách là ông tổ của ngành  lữ hành, người sáng lập ra Thomas Cook Travel Inc – công ty du lịch lữ hành đầu tiên trên thế giới.

Mặc dù khái niệm du lịch đã có từ trước Công nguyên, nhưng mãi đến  ngày 5/7/1841, khái niệm tour trọn gói mới xuất hiện khi Thomas Cook tổ chức cho 570 người đi từ Leicester tới Longborough bằng tàu hoả để tham gia một cuộc biểu tình chống uống rượu. Ông đã liên lạc với hãng tàu hoả để có giá vé giảm đặc biệt, cung cấp thực phẩm và nước uống trên tàu, tổ chức sắp xếp cho 570 người ở Longborough… – đó là những hoạt động thể hiện bản chất của ngành lữ hành hiện đại.

Nhận ra được tiềm năng lớn của loại hình dịch vụ này, năm 1845, Thomas Cook nhanh chóng thành lập công ty, mở rộng kinh doanh của mình bằng việc ký hợp đồng với ga tàu hỏa cung cấp vé giá rẻ cho nhiều tuyến đường, cung cấp thực phẩm trên tàu, tổ chức các chuyến du ngoạn bằng xe ngựa ở London, làm việc với các khách sạn trên khắp nước Anh để có thể đặt phòng cho khách hàng của mình… Du khách chỉ cần cho biết nhu cầu, công ty của ông sẽ sắp xếp tất cả.

 

Ga Leicester – nơi xuất phát chuyến tour trọn gói đầu tiên

Hậu thế nghiêng mình thán phục Thomas Cook, bởi ông là người đầu tiên nghĩ ra rất nhiều loại hình dịch vụ chính của ngành lữ hành, mà đến tận ngày nay các loại hình này vẫn còn hoạt động và sinh lời một cách hiệu quả. Ngoài tổ chức tour, đặt phòng khách sạn, ông còn viết sách về kinh nghiệm của những chuyến đi, giới thiệu nhiều địa điểm văn hóa – lịch sử khắp nơi. Ông đưa vào các cuốn sách của mình những thông tin giới thiệu hàng loạt dịch vụ hấp dẫn trong các chuyến hành trình để khách hàng có thể tham khảo, tìm hiểu và lựa chọn.

Thomas Cook đặc biệt chú ý đến loại hình du lịch giá rẻ cho số đông quần chúng và ộng đã thành công khi tổ chức cho hơn 165.000 người tham dự một triển lãm lớn.  Những năm sau, ông bắt đầu triển khai các tour lớn vòng quanh châu Âu, Bắc Mỹ. Cook cũng là người nghĩ ra loại hình “phiếu thanh toán” – tiền thân của thẻ tín dụng du lịch ngày nay, một loại phiếu giúp khách hàng có thể thanh toán dịch vụ phòng và ăn uống ở hàng trăm khách sạn có liên kết với doanh nghiệp của Thomas Cook.

Một ví dụ cho thấy sự  nhạy bén trong kinh doanh của Cook là chỉ vài tháng sau khi cuộc nội chiến ở Mỹ kết thúc, năm 1865, Thomas Cook đã có sản phẩm độc đáo phục vụ du khách: tour tham quan các chiến trường nổi tiếng trong cuộc nội chiến. Sáu năm sau, ông lại mở rộng thị trường này bằng cách tổ chức các chuyến du lịch trọn gói dành cho người có nhu cầu nhập cư đến Hoa Kỳ và Canada.

 

Tấm phù điêu ở trụ sở công ty Thomas Cook hiện tại, mô tả những chuyến tour nổi tiếng trong quá khứ

“Hổ phụ sinh hổ tử”, Thomas Cook may mắn khi có được một người con trai tài giỏi không kém cha. Sau khi con trai của ông là John Mason Cook tiếp quản và đổi tên doanh nghiệp là “Thomas Cook & Son“, công ty này đã có những bước phát triển vượt bậc về doanh thu cũng như lấn sân vào nhiều lĩnh vực kinh doanh khác. Năm 1869, với khả năng kinh doanh nhạy bén và khôn khéo, John Mason Cook tổ chức các tour đầu tiên đến Palestin và Ai Cập.  Các sản phẩm của Th.Cook & Son ngày càng đa dạng: đi thuyền buồm trên sông Nil, đi lạc đà xuyên sa mạc, cưỡi voi săn hổ ở Ấn Độ, chinh phục Himalaya, tour vòng quanh thế giới… Năm 1871, công ty của Thomas Cook đã có 120 chi nhánh khắp nước Anh và ở nhiều quốc gia trên thế giới. Đến nay, dù không còn thuộc quyền sở hữu của gia đình Thomas Cook nhưng công ty du lịch nổi tiếng thế giới này vẫn giữ nguyên tên Thomas Cook như một sự vinh danh cho người sáng lập.

 

Tượng Thomas Cook ởgần ga Leicester

John Mason đã từng nói:“Với Thomas Cook and Son, không có một nơi nào trên thế giới bạn không thể đi tới.” Và nhờ sự tiên phong của Thomas Cook, ngành du lịch đã sang trang mới, trở thành ngành công nghiệp không khói, thành nguồn thu, thành hướng phát triển chính của không biết bao vùng lãnh thổ… Nhờ Thomas Cook, những vùng đất xa lạ trở nên gần gũi hơn với du khách. Nhờ Thomas Cook, trái đất dường như nhỏ lại…

Thanh Bình

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 69 other followers