TÀI LIỆU TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH


LỜI MỞ ĐẦU
Theo thống kê sơ bộ, Việt Nam có khoảng 7.300 di tích văn hóa, lịch sử, kiến trúc khác nhau nằm rải rác ở 53 tỉnh, thành phố.
Điều kiện địa lý tự nhiên, lịch sử, văn hoá… đã tạo cho Việt Nam có tiềm năng du lịch dồi dào. Việt Nam có bờ biển dài, nhiều rừng, núi với các hang động tuyệt đẹp, nhiều công trình kiến trúc cổ và nhiều lễ hội đặc sắc.
Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km với nhiều bãi tắm nổi tiếng như ở Trà Cổ, Hạ Long, Ðồ Sơn, Cửa Lò, Lăng Cô, Ðà Nẵng, Nha Trang, Vũng Tàu, Hà Tiên… Ðặc biệt vùng biển Hạ Long là kỳ quan thiên nhiên được UNESCO hai lần công nhận di sản thiên nhiên thế giới. Vịnh Nha Trang được công nhận là một trong 29 vịnh đẹp nhất thế giới. Biển Đà Nẵng từng được tạp chí Forbes bình chọn là một trong những bãi biển đẹp nhất hành tinh. Ðặc biệt những kiến trúc cung đình ở Huế, khu tháp cổ Mỹ Sơn, Đô thị cổ Hội An, Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng, Nhã nhạc cung đình Huế và Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa thế giới.
Là quốc gia trong vùng nhiệt đới, nhưng Việt Nam có nhiều điểm nghỉ mát vùng núi mang dáng dấp ôn đới như: Sa Pa, Tam Ðảo, Bạch Mã, Bà Nà, Ðà Lạt… Ngoài ra, Việt Nam còn sở hữu nhiều vùng tràm chim và sân chim, nhiều khu rừng quốc gia nổi tiếng với những bộ sưu tập phong phú về động thực vật nhiệt đới như: Vườn quốc gia Cúc Phương ở Ninh Bình, Vườn quốc gia Cát Bà ở Hải Phòng, Vườn quốc gia Côn Ðảo ở Bà Rịa-Vũng Tàu… Trong đó vùng tràm chim Tam Nông (Ðồng Tháp), nơi có chim sếu đầu đỏ sinh sống, trở thành trung tâm thông tin về sếu được tài trợ bởi quỹ quốc tế về bảo tồn chim.
Nguồn nước khoáng thiên nhiên ở Việt Nam rất phong phú như suối khoáng Quang Hanh (Quảng Ninh), suối khoáng Hội Vân (Bình Ðịnh), suối khoáng Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối khoáng Dục Mỹ (Nha Trang), suối khoáng Kim Bôi (Hoà Bình). Những vùng nước khoáng này đã trở thành những nơi nghỉ ngơi và phục hồi sức khoẻ được nhiều khách du lịch ưa chuộng.
Với bề dày lịch sử 4.000 năm, Việt Nam còn giữ được nhiều di tích kiến trúc có giá như: Chùa Một Cột, Tháp Phổ Minh, Chùa Tây Phương, Ðình Tây Ðằng và Ðình Chu Quyến, Chùa Keo, Chùa Bút Tháp và Ðình Bảng , Chùa Kim Liên, Tháp Chàm và kiến trúc cung đình Huế. Đây chính là điều kiện, một thế mạnh vô cùng thuận lợi để chúng ta phát triển mạnh ngành du lịch. Đưa hình ảnh đất nước, con người Việt Nam tới bạn bè khắp mọi nơi trên thế giới
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM VÙNG ĐÔNG NAM BỘ 3
1.VỊ TRÍ ĐỊA LÝ 3
2. LỊCH SỬ 4
3. NHÂN VĂN 5
4. CÁC VẤN ĐỀ KHÁC 5
II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ 6
1. TUYẾN CỦ CHI – TÂY NINH 6
SƠ ĐỒ TYẾN ĐIỂM DU LỊCH CỦ CHI – TÂY NINH 6
2. TUYẾN VŨNG TÀU 22
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VŨNG TÀU 22
I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN TÂY NAM BỘ 45
1)VỊ ĐỊA LÝ 45
2) LỊCH SỬ 46
3) NHÂN VĂN 47
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC 47
II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ48
1. TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 48
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG 48
I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM TÂY NGUYÊN 104
1)VỊ ĐỊA LÝ 104
2) LỊCH SỬ 105
3) NHÂN VĂN 106
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC 107
II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ 108
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH TÂY NGUYÊN 108
I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG 133
1)VỊ ĐỊA LÝ 133
2) LỊCH SỬ 134
3) NHÂN VĂN 135
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC 135
II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ 137
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH MIỀN TRUNG 137
I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN BẮC 233
1)VỊ ĐỊA LÝ 233
2) LỊCH SỬ 234
3) NHÂN VĂN 235
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC 235
II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ 237
1. TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CITY TOUR HÀ NỘ I237
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH CITY TOUR HÀ NỘ I237
2. TUYẾN HÀ NỘI-HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH 252
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCHHÀ NỘI-HẢI PHÒNG-QUẢNG NINH 252
3. TUYẾN HÀ NỘI-PHÚ THỌ-LÀO CAI-SA PA 265
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH HÀ NỘI-PHÚ THỌ-LÀO CAI-SA PA 266

I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
1. ĐỊA LÝ
Diện tích: 23.607,7 km².
Dân số:12.067.500 người.
Vùng Đông Nam Bộ bao gồm các tỉnh, thành phố: thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Tây Ninh, tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước, tỉnh Đồng Nai, và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông. Ở nguồn phía Bắc Đông Nam Bộ có: Đồng Xoài, Bù Đăng, Cát Tiên, Tân Phú, Định Quán, Long Khánh có đồi núi cao trên 50m, đất đỏ bazan rất thuận lợi trồng cây công nghiệp dài ngày như: cao su, tiêu, cà phê, điều,… Nguồn đất ở giữa vùng Đông Nam Bộ đa số là đất phù sa cổ cao trung bình từ 10 – 20m so với mực nước biển thích hợp trồng cây công nghiệp ngắn ngày như: thuốc lá, mía, bắp, đậu phụng,… Vùng tiếp giáp với Tây Nam Bộ trồng lúa, nhưng do gần biển nên bị ngập mặn nhiễm phèn như ở Bình Chánh, Cần Giờ, Nhà Bè,… có thể trồng đước, tràm,…
Khí hậu: có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Sông ngòi: có ba con sông chính: sông Vàm Cỏ Đông (tiếp giáp sông Mê Kông), sông Sài Gòn, sông Đồng Nai. Ba con sông này đều bắt nguồn ở nguồn phía Bắc có lưu lượng nước trung bình khá; trên thượng nguồn người ta đã xây các hồ thủy lợi để điều tiết nước vào mùa khô như Hồ Dầu Tiếng (sông Sài Gòn), Hồ Trị An (sông Đồng Nai). Khi về tới miền đồng bằng thành phố Hồ Chí Minh sông dùng dằn trước khi đổ ra biển (do phù sa bồi đắp dẫn đến tạo nên 33.000 ha rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trong 100 vùng sinh quyển của thế giới). Riêng sông Đồng Nai bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên (Đà Lạt) dài khoảng 500km có giá trị kinh tế quốc phòng bậc nhất của Đông Nam Bộ. Sông Đồng Nai cung cấp nước cho toàn bộ vùng Đông Nam Bộ, và tạo ra hệ thống cảng quan trọng, nhiều nhà máy thủy điện ra đời như: Đại Ninh (Đức Trọng), thủy điện Đồng Nai 1,2,3 (giáp Đắk Nông), thủy điện Trị An. Sông Đồng Nai có giá trị quốc phòng cao vì nó bắt đầu và kết thúc trong toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam nên chúng ta toàn quyền sử dụng.
Giao thông vận tải: Khá thuận tiện và liên hoàn. Từ thành phố Hồ Chí Minh có thể đi khắp đất nước dễ dàng bằng tất cả các loại hình giao thông. Từ thành phố Hồ Chí Minh đi Tây Ninh: quốc lộ 22; đi Bình Dương, Bình Phước: quốc lộ 13; đi Đồng Nai: quốc lộ 1; đi Vũng Tàu: quốc lộ 51. Thành phố Hồ Chí Minh có sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất nhộn nhịp nhất cả nước và Đông Nam Á.
Tài nguyên du lịch: vùng Đông Nam Bộ có nhiều thuận lợi cho việc phát triển du lịch. Có các tour hấp dẫn du khách trong và ngoài nước như Củ Chi – Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh tour, tour Vũng Tàu, Nam Cát Tiên,… Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm du lịch lớn nhất nước, thu hút hằng năm 70 % lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Sở dĩ như vậy vì ngoài cơ sở hạ tầng khá tốt, giao thông tương đối thuận tiện, thành phố là một nơi có tài nguyên du lịch phong phú. Nơi đây là một vùng đất gắn liền với lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc kể từ khi thực dân Pháp đặt chân lên Việt Nam. Thành phố Hồ Chí Minh cũng là nơi chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước (1911). Gắn liền với sự kiện đó, cảng nhà Rồng và Bảo tàng Hồ Chí Minh là một di tích quan trọng, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài nước. Các di tích Cách mạng khác như địa đạo Củ Chi, hệ thống các bảo tàng, nhà hát, nhà văn hoá, các công trình kiến trúc thời Pháp là những điểm du lịch hấp dẫn. Gần đây thành phố đã đầu tư nhiều khu du lịch như Thanh Đa, Bính Quới, nhiều khu vui chơi giải trí như Đầm Sen, Kỳ Hoà, Suối Tiên,… đã thu hút và hấp dẫn du khách. Hiện nay thành phố đang tiến hành tôn tạo các di tích lịch sử, các công trình kiến trúc cổ, đầu tư cho hệ thống bảo tàng, khôi phục nền văn hoá truyền thống kết hợp với tổ chức các lễ hội, khôi phục văn hoá miệt vườn, làng hoa để phát triển một cách vững chắc ngành du lịch của thành phố. Ngoài ra từ thành phố Hồ Chí Minh có thể dễ dàng đi đến các điểm du lịch khác như rừng ngập mặn Cần Gìơ, địa đạo Củ Chi, tòa thánh Cao Đài, biển Vũng Tàu, Nam Cát Tiên, Đầm Sen, Suối Tiên,…
2) LỊCH SỬ
Từ thời cổ đại (thời kỳ chưa có chữ viết) đây là vùng đất có con người sinh sống cách đây khoảng 10 ngàn năm (tương ứng thời đồ đá mới) các nhà khảo cổ học đã phát hiện ven sông Đồng Nai rất nhiều công cụ ghè, đẽo bằng đá. Hậu duệ của những người cổ đại là các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên ngày nay. Ở Long Khánh có di tích mộ cổ Hàng Goòng cách đây 2.500 năm. Đầu công nguyên đến thế kỷ thứ VI, vùng này thuộc kinh quốc Phù Nam (nhà nước cổ lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ). Đến thế kỷ VII, VIII vùng này trở nên hoang vắng. Từ thế kỷ IX đến thế kỷ XVII thuộc vương quốc Chân Lạp. Năm 1698, ông Nguyễn Hữu Cảnh đã lập 2 dinh Phiên Cấn (Tân Bình), Trấn Biên (Biên Hòa) làm 2 đơn vị hành chính đầu tiên của Việt Nam ở Đông Nam Bộ. Bên cạnh người Việt còn có người Hoa đến lập nghiệp. Với ưu thế là buôn bán, người Hoa nắm vai trò chủ đạo và thống lĩnh cả vùng. Năm 1859, Pháp đã chính thức đánh vào Sài Gòn. Năm 1863, chiếm dược 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ. Năm 1867 chiếm 3 tỉnh miền tây Nam Kỳ. Kéo dài đến gần 100 năm (1954). Người Pháp đã chọn Đông Nam Bộ làm trung tâm người Pháp ở Đông Dương. Quy hoạch Sài Gòn thành đô thị hiện đại như Pari thu nhỏ. Từ năm 1954 đến 1975, Mỹ vào đặt mần móng cho cơ sở hạ tầng Đông Nam Bộ như ngày nay. Từ 1975 đến nay Đông Nam Bộ luôn đi đầu trong cải cách kinh tế và sớm trở thành trung tâm kinh tế lớn cả nước, với cơ sở giáo dục, y tế, giải trí, nghệ thuật nhộn nhịp nhất. Riêng từ năm 1979 đến 1989 các tỉnh biên giới giáp Cambodia phải chịu ảnh hưởng chiến tranh biên giới Tây Ninh.
3) NHÂN VĂN
Có nhiều danh nhân nổi tiếng theo dòng lịch sử như: Nguyễn Hữu Cảnh (khai sinh đất Nam Bộ), Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Tri Phương, Gia Định, Tân Gia, cụ Đồ Chiểu, Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Huỳnh Văn Nghệ, Lê Văn Diệt (danh nhân chống Pháp), thủ tướng Phan Văn Khải (Củ Chi), chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (Bình Dương). Nghệ thuật thì có: Thanh Kim Huệ, Bảo Quốc (Tây Ninh),..
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Các chuyên đề giới thiệu về các khu Công nghiệp, các lễ hội truyền thống như Núi Bà (Tây Ninh), chùa Thiên Hậu, Ngư Ông (Vũng Tàu), lễ hội trái cây (Suối Tiên), giới thiệu về Người Hoa, Người Chăm, giới thiệu về đạo Cao Đài, đạo Ông Trần (Bà Rịa – Vũng Tàu), giới thiệu về tiềm năng dầu khí (Bà rịa – Vũng Tàu), giới thiệu rừng ngập mặn Cần Giờ, rừng Cát Tiên, chiến khu Đ, Trung ương Cục R, địa đạo Củ Chi,…

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ
1. TUYẾN CỦ CHI – TÂY NINH
SƠ ĐỒ TUYẾN CỦ CHI – TÂY NINH

Từ thành phố Hồ Chí Minh, dọc theo đường Trường Chinh, đầu tiên chúng ta sẽ đi ngang qua đài tưởng niệm các liệt sĩ đã hi sinh trong cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc vào năm 1968. Sau đó chúng ta sẽ đi qua công ty dệt may Thành Công, và công ty cổ phần thực phẩm Việt Nam(VIFON).
Công ty Dệt May Thành Công
Công ty dệt may Thành Công: Địa chỉ trụ sở chính :36 Tây Thạnh – Phường Tây Thạnh – Quận Tân Phú – TP. Hồ Chí Minh. Ngoài việc trở thành nhà sản xuất sản phẩm dệt may hàng đầu khu vực, Thành Công sẽ xây dựng và phát triển công ty trở thành tập đoàn Thành Công trong hoạt động đa ngành. các sản phẩm chính của công ty: sản phẩm vải, xơ sợi, dệt, nhuộm, may, nguyên phụ liệu dệt may.
Công Ty Cổ Phần Kỹ Nghệ Thực Phẩm Việt Nam (VIFON), là đơn vị chế biến thực phẩm ăn liền hàng đầu Việt Nam, với bề dày kinh nghiệm hơn 40 năm, xuất khẩu hơn 40 nước trên toàn thế giới. VIFON có năng lực sản xuất lớn, được tọa lạc trên khuôn viên rộng 67.000m2, đội ngũ cán bộ công nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp và lành nghề, máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến, đã sản xuất ra nhiều chủng loại sản phẩm Mì Ăn Liền, Sản Phẩm Ăn Liền Chế Biến Từ Gạo (Phở, Hủ Tiếu, Bún, Cháo), Sản phẩm Túi Thịt Hầm và các loại Gia Vị đáp ứng mọi nhu cầu khác nhau của khách hàng.Công ty VIFON không ngừng hiện đại hóa thiết bị và công nghệ, đầu tư mạnh vào nghiên cứu để tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng quốc tế. Sản phẩm của VIFON đã có mặt rất nhiều nước trên thế giới kể cả các nước có yêu cầu rất khắt khe về chất lượng như Mỹ, Úc, Nhật và các nước châu Âu.
Qua hết quận Bình Thạnh chúng ta sẽ đi qua cầu Tham Lương rồi đi qua quận 12.
Quận 12
Quận 12 nằm phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh với vị trí địa lý như sau: Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Quận Thủ Đức; phía Nam giáp quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh; phía Tây giáp huyện Bình Tân; xã Bà Điểm. Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống đường bộ với quốc lộ 22 (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là quốc lộ 1A ), các tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày, Quận 12 có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng. Trong tương lai, nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua. Vị trí này, cảnh quan này tạo cho Quận 12 không gian thuận lợi để bố trí các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tiếp tục chuyến đi, chúng ta sẽ đi qua ngã tư An Sương. Tại ngã tư này nếu rẽ trái thì sẽ tới An Lạc. Ngã tư này là điểm giao cắt giữa xa lộ Đại Hàn với phần cuối đường Trường Chinh. Nối liền viới đường Trường Chinh là quốc lộ 22 hay còn gọi là đường xuyên Á. Đi thêm một đoạn đường nữa các bạn sẽ đi ngang qua con rẽ vào 18 thôn vườn trầu Bà Điểm.
18 thôn vườn trầu
Quê hương Hóc Môn – Bà Điểm đã đi vào lịch sử dân tộc Việt Nam bằng tên gọi thân thương: “Mười tám thôn vườn trầu”. Lịch sử “Mười tám thôn vườn trầu” gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh hơn 300 trăm năm. Trầu cau là thổ sản đặc biệt của người Việt Nam, người Viêt Nam có phong tục ăn trầu cau nên nơi nào có người Việt Nam nơi đó có trồng trầu cau. Hiện nay trong quá trình đô thị hóa, toàn huyện chỉ còn xã Bà Điểm giữ lại truyền thống trồng trầu cau.
Từ năm 1698 đến năm 1731, một số lưu dân từ miền Bắc, miền Trung do không cam chịu sự thống trị hà khắc của phong kiến triều Trịnh – Nguyễn phân tranh loạn lạc nên đã rời bỏ quê hương đến vùng đất này để sinh cơ lập nghiệp. Những người nông dân đầu tiên đến đây đã ra sức chống lại sự khắc nghiệt của thiên nhiên, chống thú dữ; lao động gian khổ, cật lực, khai phá rừng rậm, bãi hoang để trồng tỉa và chăn nuôi. Chủ yếu họ trồng lúa, khoai và hoa màu, dần dần họ phát triển thành những vườn cây ăn quả. Đặc biệt họ trồng trầu cau thành những mảnh vườn xanh tốt quanh năm. Người nông dân đã lập ra những thôn – ấp, từ 6 thôn đầu tiên dần dần được phát triển thành 18 thôn. Đến đầu thế kỷ 19, đời vua Minh Mạng triều Nguyễn, “Mười tám thôn vườn trầu” đã là nơi dân cư trú mật và là nơi chuyên canh trồng trầu cau nên có tên gọi chung là “Mười tám thôn vườn trầu”.
Đi hết địa phận quận 12 chúng ta sẽ tới huyện Hóc Môn.
Hóc Môn
Theo sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức, tháng 2 năm Mậu Dần (1698), chúa Nguyễn ra lệnh cho Thống suất Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lý phía Nam và quyết định thành lập chủ Gia Định gồm huyện Phước Long và huyện Tân Bình. Thời điểm 1698, vùng đất phía Nam dân cư thưa thớt, đất đai còn hoang vu, địa danh “Hóc Môn” lúc đó chưa có tên gọi, là một vùng đất nằm trong huyện Tân Bình, thuộc Phủ Gia Định.
Từ năm 1698 đến năm 1731, một số lưu dân từ miền Bắc, miền Trung do không cam chịu sự thống trị hà khắc của phong kiến triều Trịnh-Nguyễn phân ranh loạn lạc nên đã đến vùng đất này để sinh cơ, lập nghiệp; lập ra những thôn ấp và nông trại, lúc đầu hình thành 06 thôn dần dần phát triển thành 18 thôn. Đến đầu thế kỷ 19, một số thôn của Hóc Môn vẫn còn những nét hoang dã, có cọp dữ nổi tiếng như “cọp vườn trầu” và có nhiều đầm môn nước mọc um tùm, nên trong dân gian địa danh “Hóc Môn” có tên gọi từ đây (hóc hẻm có nhiều cây môn).
Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã cho cải cách lại các đơn vị hành chánh, đổi phủ Gia Định thành trấn Gia Định. Đến năm 1808, vua Gia Long lại đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành và nâng huyện Tân Bình lên thành Phủ Tân Bình. Phủ Tân Bình có 04 huyện, trong đó có huyện Bình Dương. Lúc đó, vùng đất Hóc Môn ngày nay có tên gọi là huyện Bình Dương thuộc phủ Tân Bình của Gia Định Thành, huyện lỵ Bình Dương đóng tại làng Tân Thới Nhì (nay là vùng Trung tâm Thị trấn Hóc Môn).
Năm 1832, vua Minh Mạng đổi tên Gia Định Thành thành tỉnh Phiên An. Đến năm 1836, lại tiếp tục đổi tên tỉnh Phiên An thành tỉnh Gia Định. Năm 1841, phủ Tân Bình lại tăng thêm 01 huyện là huyện Bình Long (do 01 phần huyện Bình Dương tách ra). Lúc đó, vùng đất Hóc Môn ngày nay có tên gọi là huyện Bình Long thuộc phủ Tân Bình, tỉnh Gia Định.
Năm 1862, thực dân Pháp đã chia lại địa giới hành chính tỉnh Gia Định bao gồm 03 phủ, 41 tổng; huyện Bình Long thuộc phủ Tây Ninh, tỉnh Gia Định. Huyện lỵ Bình Long đóng tại làng Tân Thới Nhì (nay là vùng trung tâm thị trấn Hóc Môn).
Sau cuộc khởi nghĩa 18 thôn vườn trầu (1885), thực dân Pháp chính thức đổi tên huyện Bình Long thành quận Hóc Môn. Quận Hóc Môn giai đoạn 1885-1945 thuộc tỉnh Gia Định là một vùng đất rộng lớn bao gồm 04 tổng: Tổng Long Tuy Thượng, Tổng Long Tuy Hạ, Tổng Long Tuy Trung và Tổng Bình Thạnh Trung nằm trên địa bàn của 03 quận huyện: Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 ngày nay.
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945-1954), Hóc Môn là một trong 4 quận của tỉnh Gia Định (Hóc Môn, Thủ Đức, Gò Vấp, Nhà Bè). Đến thời Mỹ- Ngụy chiếm đóng miền Nam (1954-1975), quận Hóc Môn tiếp tục thuộc tỉnh Gia Định. Đối với cách mạng tùy theo yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng trong từng thời điểm, Hóc Môn có nhiều lần tách nhập, thay đổi ranh giới: từ năm 1954 đến cuối năm 1959, quận Hóc Môn bao gồm 03 quận – huyện là: Hóc Môn, Củ Chi và quận 12 ngày nay; từ năm 1960 đến năm 1961 tách ra thành 02 quận: Hóc Môn và Củ Chi; từ năm 1961 đến năm 1969, Hóc Môn và Gò Vấp sáp nhập lại thành quận Gò Môn; sau đó nhập thêm một số xã của Củ Chi thành lập phân khu Gò Môn, từ năm 1969 đến năm 1972 phân khu Gò Môn tách ra thành 04 quận nhỏ, trong đó Hóc Môn tách thành 02 quận: Đông Môn và Tây Môn; từ năm 1972 đến năm 1975: Đông Môn và Tây Môn nhập lại thành quận Hóc Môn.
Sau ngày thành phố được giải phóng (30/4/1975), Hóc Môn là 01 trong 06 huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh bao gồm 16 xã và 01 thị trấn. Từ ngày 01/4/1997 đến nay do yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội chung của thành phố, huyện Hóc Môn tách ra 07 xã để thành lập quận 12. Hiện nay, Hóc Môn có 11 xã và 01 thị trấn.
Tiếp tục hành trình, chúg ta sẽ đi qua ngã tư Hóc môn và trước mặt các bạn là tỉnh lộ 9. Rẽ trái theo tỉnh lộ 9 chúng ta sẽ đến với Đức Hoà thuộc Long An, còn nếu rẽ phải thì sẽ đến với chợ Hóc Môn.
Sau khi đi qua cây cầu An Hạ chúng ta sẽ bước vào huyện Củ Chi
Củ Chi
Củ Chi là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Sông Sài Gòn chảy qua địa bàn của huyện. Gồm 1 thị trấn Củ Chi và 20 xã. Huyện Củ Chi có địa đạo Củ Chi nổi tiếng trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam. Củ Chi cũng có Đền tưởng niệm Bến Dược – Củ Chi. Hiện nay địa đạo Củ Chi được bảo tồn ở hai khu vực: Bến Dược (thuộc xã Phú Mỹ Hưng), Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức).
Hiện nay, huyện Củ Chi là nơi có nhiều khu công nghiệp. Tại đây cũng có dự án đô thị mới Củ Chi – Hậu Nghĩa rộng 4000 ha đã được phê duyệt và đang được triển khai. Huyện Củ Chi có Đường Xuyên Á nối với Campuchia qua Cửa khẩu kinh tế Mộc Bài của tỉnh Tây Ninh. Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, Củ Chi được coi là vùng “đất thép”, là căn cứ quan trọng của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Mỹ đã trút xuống đây 240.000 tấn bom đạn, tổ chức trên 5.000 trận hành quân, bố ráp. Chỉ tính riêng huyện Củ Chi đã có 18.000 người trực tiếp tham gia kháng chiến, có 10.510 liệt sỹ, 2.314 thương binh, 659 bệnh binh, 769 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 8.663 hộ liệt sỹ với 11.256 thân nhân liệt sỹ, 4.395 người có công với cách mạng, 648 người bị tù đày, 86 người bị nhiễm chất độc da cam… Sau năm 1975, huyện Củ Chi được thành lập trên cơ sở sáp nhập quận Củ Chi thuộc tỉnh Hậu Nghĩa cũ và quận Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương cũ.
Huyện Củ Chi trước đây thuộc tỉnh Gia Định. Năm 1956 chuyển sang tỉnh Bình Dương. Đến năm 1963 chuyển sang tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập.
Cũng nhìn về phía tay phải là bến xe Củ Chi và đi thêm một đoạn nữa là khu công nghiệp tây bắc Củ Chi. Tiếp tục đi thêm một đoạn đường nữa chúng ta sẽ tới con đường rẽ vào khu di tích địa đạo Củ Chi.
Địa đạo Củ Chi
Địa đạo Củ Chi là một hệ thống địa đạo ở huyện Củ Chi, cách 70 km về phía tây bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống địa đạo này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất. Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các vị trí các bụi cây. Địa đạo Củ Chi được xây dựng trên vùng đất được mệnh danh là “đất thép”, nằm ở điểm cuối Đường mòn Hồ Chí Minh. Trong Chiến dịch Tết Mậu Thân 1968, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã sử dụng hệ thống địa đạo này để tấn công Sài Gòn.
Trong thời gian 1961–1965, các xã phía Bắc Củ Chi đã hoàn thành tuyến địa đạo trục gọi là “xương sống”, sau đó các đoàn thể, cơ quan, đơn vị phát triển địa đạo nhánh ăn thông với tuyến trục hình thành những địa đạo liên hoàn giữa các ấp, các xã và các vùng. Đến năm 1965, có khoảng 200 km địa đạo đã được đào. Về quy mô, hệ thống địa đạo có tổng chiều dài toàn tuyến là trên 200 km, với 3 tầng sâu khác nhau, tầng trên cách mặt đất khoảng 3 m, tầng giữa cách mặt đất khoảng 6 m, tầng dưới cùng sâu hơn 12 m. Lúc này, địa đạo không chỉ còn là nơi trú ẩn mà đã trở thành nơi sinh sống, cứu thương, hội họp, kho chứa vũ khí… Địa đạo được đào trên một khu vực đất sét pha đá ong nên có độ bền cao, ít bị sụt lở. Hệ thống địa đạo nằm sâu dưới lòng đất, có thể chịu được sức công phá của các loại bom tấn lớn nhất của quân đội Mỹ.
Khu địa đạo Củ Chi (thuộc xã Phú Mỹ Hưng – huyện Củ Chi) đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia (theo quyết định số 54/VHQĐ ngày 29 tháng 4 năm 1979 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa). Hệ thống địa đạo Bến Đình (thuộc xã Nhuận Đức – căn cứ của Huyện ủy Củ Chi trong thời kỳ kháng chiến) cũng được xếp hạng di tích lịch sử quốc gia
Đến Củ Chi, bạn đừng quên đến đền Bến Dược, ngắm cổng tam quan, nhà văn bia, tháp 9 tầng và ngôi điện chính với kiến trúc truyền thống rất đẹp, hài hòa cùng thiên nhiên.
Đền Bến Dược
Đền Tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược là một công trình lịch sử văn hóa của Đảng bộ và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, được xây dựng để tưởng nhớ công ơn to lớn của đồng bào chiến sỹ đã chiến đấu hy sinh trên vùng đất Sài Gòn – Gia Định trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ .
Đền được khởi công từ ngày 19/5/1993 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 103 của Chủ tịch Hồ Chí Minh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam, trên một vùng đất rộng 7 ha trong quần thể của Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi . Ngày 19/12/1975 Đền Tưởng niệm khánh thành giai đoạn 1 và bắt đầu đón lớp lớp những đoàn người trong nước và ngoài nước đến tưởng niệm, dâng hương và nghĩ về một lẽ sống còn đã làm nên hồn thiêng dân tộc. Và Thành ủy – Hội đồng Nhân dân – Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã chọn ngày 19/12 hằng năm là ngày lễ hội tưởng niệm và tri ân các anh hùng liệt sỹ .
Đền Tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược gồm có các hạng mục:
1. Cổng tam quan :
Cổng tam quan được kiến trúc theo phong cách cổ truyền của dân tộc với các hàng cột tròn , trên lợp ngói âm dương . Cổng có hoa văn, họa tiết, mái cong của những cổng đình làng nhưng được cách tân bởi những vật liệu mới. Chính giữa cổng tam quan là biển đề : Đền Bến Dược và trên các thân cột là những câu đối của nhà thơ Bảo Định Giang .
2.Nhà văn bia:
Nhà văn bia là một nhà vuông có hai mái, lợp ngói, ở giữa đặt một tấm bia đá cao 3m, ngang 1,7m, dày 0,25m , nặng 3,7 tấn. Tấm bia đá này được lấy từ khối đá nặng 18 tấn ở Ngũ Hành Sơn ( Đà Nẵng ) và được các nghệ nhân đẽo gọt, chạm khắc những hoa văn độc đáo của dân tộc.
3. Đền chính:Kiến trúc mang dáng dấp đền đài cổ của Việt Nam, vừa tôn nghiêm, vừa tĩnh mịch.
Điện thờ bố trí theo hình chử U: Trung tâm là bàn thờ tổ quốc, chính giữa có tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía trên ghi: Vì nước quên mình. Tổ quốcghi công. Đời đời ghi nhớ. Tả, hữu là hai hương án thờ các bậc tiền hiền tiên liệt và đồng bào, chiến sỹ đã hy sinh, chưa tìm được tên. Dọc theo các bậc tường bên trái là tên liệt sỹ khối dân chính Đảng, các bậc tường bên phải là tên liệt sỹ lực lượng võ trang.
Tên liệt sỹ được khắc vào tấm bia đá hoa cương, chữ mạ vàng. Có 44.520 liệt sỹ được khắc tên trong Đền, gồm có mẹ Việt Nam anh hùng, anh hùng , liệt sỹ, trong đó có 9.322 liệt sỹ là con em của 40 tỉnh, thành phố khác.
Bên ngoài tường Đền chính là ba bức tranh hoành tráng bằng gốm sứ do Trường Đại học Mỹ thuật thực hiện , thể hiện các nội dung : Dân khai hoang thành lập xứ ; Sức tiếp sức chống xâm lăng ; Nhân dân ta bị đô hộ áp bức & vùng lên đoàn kết đấu tranh thắng lợi.
4.Tháp:
Tháp thể hiện cho sự vươn lên đỉnh cao trong tương lai.
Tháp có 9 tầng cao 39m. Trên vách tháp có nhiều hoa văn, phù điêu thể hiện cuộc sống và chiến đấu của nhân dân Củ Chi Đất thép thành đồng. Tầng cao của tháp để chúng ta ngắm nhìn một phần của vùng căn cứ cách mạng mà địa danh đã đi vào lịch sử vùng Tam giác sắt.
5. Hoa viên:
Từ khu đất đầy hố bom, cằn cỗi do chiến tranh tàn phá, nay Đền đã có một mảng hoa viên mượt mà, tươi đẹp hoa nở quanh năm với nhiều loại cây kiểng quý do nhiều nghệ nhân và các ban ngành gởi tặng. Đặc biệt, các đồng chí lãnh đạo trung ương, thành phố và các tỉnh đã trồng lưu niệm nhiều loại cây quý ở hoa viên trước Đền.
Hoa viên phía sau Đền là biểu tượng Hồn thiêng Đất nước, cao 16m, nặng 243 tấn, được làm bằng đá granit đặt giữa vườn hoa mặt hướng ra sông Sài Gòn . Biểu tượng được thể hiện qua hình tượng một giọt nước mắt, khái quát về sự đau thương mất mát của bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu hy sinh để giữ gìn đất nước. Toàn khối biểu tượng hình dung như một bông sen được dôi bàn tay nâng niu
Trên thân biểu tượng chạm khắc một số hình ảnh những sự kiện lịch sử Việt Nam từ thời vua Hùng Vương dựng nước đến ngày thống nhất đất nước 30/4/1975.
6. Tầng hầm:
Tầng hầm của Đền có 9 không gian, với chủ đề Sài Gòn Chợ Lớn kiên cường bất khuất, thể hiện lại các sự kiện tiêu biểu trong giai đoạn chiến tranh của quân và dân trong vùng Tam giác sắt nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc và bọn tay sai . Các sự kiện ấy được tái hiện sinh động bằng những bức tranh hoành tráng, tượng, sabàn, hiện vật, mô hình sân khấu hóa, các loại hình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc . . . Ở mỗi không gian thể hiện một nội dung lịch sử.
•Không gian thứ nhất: Giặc Pháp xâm lăng, quên mình giữ nước.
•Không gian thứ hai: Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 tại Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định.
•Không gian thứ ba: Quân dân Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định nổ phát súng đầu tiên , mở đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quyết tâm bảo vệ nền độc lập.
•Không gian thứ tư: Đỉnh cao ba mũi giáp công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ tại Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định.
•Không gian thứ năm: Chiến tranh du kích của nhân dân ngoại thành với Củ Chi đất thép thành đồng.
•Không gian thứ sáu: Quân dân ta xuống đường, nổi dậy tiến công trong dịp Tết Mậu Thân.
•Không gian thứ bảy: Quân dân Sài Gòn Chợ Lớn Gia Định góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Hồ Chí Minh mùa xuân 1975.
•Không gian thứ tám: Vì nghĩa lớn, lấy thân mình làm đuốc sống.
•Không gian thứ chín: Miền Nam đi trước về sau, vì khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do.
Đền Tưởng niệm liệt sỹ Bến Dược được những nhà kiến trúc, khoa học, sử học, chính trị, kỹ sư xây dựng và những người tâm huyết tạo thành một quần thể kiến trúc hài hòa, thoáng đãng mang bản sắc văn hóa Việt một cách tinh tế, dịu dàng như tâm hồn dân tộc Việt.
Tiếp giáp với huyện Củ Chi là tỉnh Tây Ninh.
Tỉnh Tây Ninh
Diện tích: 4.035,45 km2
Dân số TB: 1.047.365 người
Các dân tộc chính: Kinh (98%), còn lại là dân tộc thiểu số (chủ yếu là Khơme, Hoa, Chăm) .
Tỉnh Tây Ninh thuộc miền Đông Nam bộ . Phía Tây và Tây Bắc giáp vương quốc Campuchia, phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, phía Nam giáp TP.Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, là tỉnh chuyển tiếp giữa vùng núi và cao nguyên Trung bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa TP. Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Pênh vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam.
Tây Ninh có một thị xã (Thị xã Tây Ninh) và 8 huyện. Thị xã Tây Ninh là trung tâm kinh tế – chính trị – văn hoá của tỉnh, cách TP. Hồ Chí Minh 99km về phía Tây Bắc theo quốc lộ 22 và cách thủ đô Hà Nội: 1809 km theo quốc lộ số 1
Sông Sài Gòn: bắt nguồn từ vùng đồi Lộc Ninh (thuộc tỉnh Bình Phước) cao trên 200m chảy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam, làm ranh giới tự nhiên giữa Tây Ninh và 2 tỉnh Bình Phước, Bình Dương.
Trên dòng sông Sài Gòn về phía thượng lưu, công trình thuỷ lợi lớn nhất nước đã được xây dựng là công trình hồ Dầu Tiếng, với dung tích hữu hiệu 1,45 tỷ m3, diện tích mặt nước 27.000 ha (trên địa bàn Tây Ninh 20.000ha) có khả năng tưới cho 175.000ha đất canh tác của Tây Ninh, TP.Hồ Chí Minh và Long An.
Sông Vàm Cỏ Đông: bắt nguồn từ độ cao 150m ở Campuchia chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, sông Vàm Cỏ Đông có chiều dài 220km (151km chảy trong địa phận Tây Ninh). Con sông này đã ghi dấu nhiều chiến công oanh liệt chống giặc ngoại xâm của nhân dân tỉnh Tây Ninh trong sự nghiệp giải phóng đất nước.
Về tài nguyên nhân văn: Tây Ninh được khai phá từ giữa thế kỷ XVII do luồng dân cư từ phía Bắc vào. Đến đầu thế kỷ XIX (1837- Minh Mạng thứ 18), phủ Tây Ninh được thành lập với 2 huyện: Tân Ninh và Quang Hoá. Hiện nay, trên đất Tây Ninh có 26 dân tộc anh em sinh sống. Mỗi dân tộc tuy có những phong tục, tập quán sinh hoạt khác nhau nhưng đều có truyền thống chung là sống đoàn kết với cộng đồng, lao động cần cù, chiến đấu chống địch họa, thiên tai dũng cảm, tất cả đã tạo nên cho Tây Ninh một nền văn hoá đa dạng, phong phú và đầy bản sắc.
Ở Tây Ninh có đạo Phật, đạo Cao Đài, đạo Công giáo, đạo Tin Lành, đạo Hồi và một số tôn giáo khác…
Tây Ninh là địa phương giàu truyền thống cách mạng yêu nước, là thủ đô của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, là nơi đứng chân của các lực lượng vũ trang miền. Ngoài các di tích Trung ương cục Miền Nam, ở Tây Ninh còn nhiều di tích lịch sử khác gắn liền với cuộc kháng chiến giải phóng Miền Nam như di tích căn cứ Bời Lời, chiến khu Dương Minh Châu, địa đạo An Thới và nhiều di tích khác.
Tây Ninh với những cảnh quan thiên nhiên đa dạng, phong phú; di tích văn hóa, lịch sử độc đáo có tiềm năng to lớn phát triển du lịch: Tòa Thánh Tây Ninh, núi Bà Đen, hồ Dầu Tiếng, khu căn cứ Trung Ương Cục Miền Nam, các Chùa cổ Bình Thạnh, An Thạnh tiêu biểu cho nền văn hóa Óc eo…
Chúng ta sẽ đi qua huyện Trảng Bàng của tỉnh Tây Ninh
Trảng Bàng
Trảng Bàng là một huyện nằm ở phía Nam tỉnh Tây Ninh. Diện tích:334.61 km, Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Phía Tây giáp vương quốc Campuchia, Phía Nam giáp tỉnh Long An và thành phố Hồ Chí Minh, Phía Bắc giáp huyện Gò Dầu, Bến Cầu, Dương Minh Châu. Huyện nằm trên tuyến quốc lộ nối thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh của Campuchia, hiện đã thành lập được khu công nghiệp Trảng Bàng và khu chế xuất Linh Trung III, thu hút số lượng lớn nguồn lao động tại địa phương và các tỉnh khác. Món ăn nổi tiếng: bánh canh Trảng Bàng và bánh tráng Trảng Bàng được khá nhiều du khách thập phương yêu thích.Đặc biệt là món bánh tráng phơi sương .Trước khi ăn, vào buổi tối, khi nhìn thấy những chậu kiểng ươn ướt man mát hơi sương, người ta đem các vỉ bánh ra phơi độ một, hai phút để hơi sương thấm vào bánh, làm cho bánh có thêm tinh lực của đất trời.
Ngay đầu huyện là con đường đi vào khu chế xuất Linh Trung II nằm về bên trái của quốc lộ. cách đó không xa về bên phải là con đường dẫn vào địa đạo An Thới. trong chuyến đi này các bạn đừng bỏ lở dịp thưởng thức món bánh canh Trảng Bàng. Chúng ta sẽ đi ngang qua quán bánh canh Hoàng Ninh, tai đây bạn sẽ được thưởng thức món bánh canh mà rất nhiều khách du lich đến đây đã rất thích ăn. Gần cuối của huyện Trảng Bàng có một con đường dẫn các bạn vào khu chế xuất Trảng Bàng và Tha La xóm đạo.
Đi hết huyện Trảng Bàng chúng ta sẽ đến với huyện Gò Dầu trên quốc lộ 22B. Đến với huyện Gò Dầu các bạn sẽ được tới cửa khẩu Mộc Bài và siêu thị miễn thuế. chạy theo quốc lộ 22A các bạn sẽ đến đựơc hai đia điểm trên.
Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài
Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài cách thành phố Hồ Chí Minh73 km và cách Nông Pênh 170 km. Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ giao thương, buôn bán của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, đồng bằng sông Cửu Long, và vùng Tây Nguyên với Campuchia. Với diện tích gần 22.000 ha, trải dài trên 2 huyện Trảng Bàng và Bến Cầu, khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài được quy hoạch phát triển thành 4 phân khu chức năng, bao gồm khu các cụm công nghiệp (405 ha), khu dịch vụ thương mại (152 ha), khu dân cư đô thị (286 ha) và khu du lịchsinh thái (143 ha).
Chay dọc theo quốc lộ 22B, chúng ta sẽ đi ngang qua bến xe Gò Dầu, chợ Thạnh Đức, nghĩa trang liệt sĩ Tây Ninh, uỷ ban xã Thạch Đức. Tại xã Thạch Đức có cây vạn tuế 700 năm tuổi. và cuối cùng chhúng ta sẽ đi qua chợ Cẩm Giang để đến với huyện Hoà Thành. Chúng ta sẽ đi ngang qua ngã 3 Giang Tân. Nếu rẽ tại ngã 3 này chúng ta sẽ đến với chợ Long Hoa. Chạy tiếp trên quốc lộ 22B chúng ta tiếp tục đi qua thêm một ngã 3 nữa, một ngã 3 co cái tên khá độc đáo, đó là ngã 3 Mít Một trước khi đi vào thị xã Tây Ninh. Tại đây chúng ta sẽ đi thăm một số nơi như: Núi Bà Đen, toà thánh Cao Đài, Trung Ương Cục Miền Nam, hồ Dầu Tiếng, cửa khẩu Xa Mát, chùa Gò Kén.
Quần thể di tích Núi Bà
Quần thể di tích Núi Bà trải rộng 24 km², gồm 3 ngọn núi tạo thành: Núi Heo – Núi Phụng – Núi Bà Đen. Hệ thống chùa Điện Bà ở núi có chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà… Ngọn núi này thu hút khách thập phương vì cảnh núi non hùng vĩ, nhiều hang động, nhiều ngôi chùa nguy nga tráng lệ. Trước đây vốn là nơi ẩn cư của nhiều sư sãi. Đặc biệt, nơi đây còn gắn liền với truyền thuyết nàng Lý Thị Thiên Hương (Bà Đen).
Truyền thuyết Bà Đen
Tương truyền rằng vào khoảng nửa cuối thế kỉ 18, những cuộc xâu xé nhau giữa Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn đã đẩy nhân dân lâm vào cảnh khốn khổ lầm than. Nguyễn Huệ dấy lên cao trào Tây Sơn dẹp thù trong giặc ngoài. Bấy giờ có người thanh niên tên Lê Sỹ Triệt, quê ở Quang Hóa (tức huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh ngày nay) tài cao, chí lớn, vì nước nhà nên chia tay người yêu là Lý Thị Thiên Hương lên đường phò Nguyễn Huệ giữ nước. Lý Thị Thiên Hương là cô gái xinh đẹp với làn da bánh mật (bà đen) và có đức hạnh. Người yêu lên đường vì nghĩa lớn, cô ở nhà sống trong vòng vây của cường hào ác bá nhưng vẫn một lòng chung thủy với người yêu. Một hôm, cô bị cưỡng bức, vì giữ tiết hạnh nên cô gieo mình xuống núi quyên sinh. Sau đó ít lâu, Thiên Hương về báo mộng cho sư trụ trì chùa núi biết nơi thân thể cô đang bị gió sương bào mòn. Thi thể cô được đem về mai táng, phụng thờ. Tin này lan rộng ra, và từng đoàn người về tụ họp trên núi để chiêm bái và cầu nguyện vì sự linh thiêng của người con gái tiết hạnh, xin cô phù hộ độ trì. Nhà chùa đã cho lập đền thờ riêng để người ta cúng bái. Việc hành hương về chùa vào mùa xuân đã trở thành tập tục quen thuộc từ đây.
Có hai con đường lên đỉnh núi : Một đường mòn nằm sau lưng chùa Bà, đường này xấu, khó đi. Một đường mòn khác bắt đầu từ đài Liệt sĩ đi men theo các trụ điện lên thẳng đỉnh núi. Trên đỉnh núi khí hậu mát mẻ, ban đêm rất lạnh, không có dịch vụ chỉ có bán hai thứ là nước khoáng và mì tôm . Một người khỏe mạnh mất từ 2h-4h để leo tới đỉnh. Ngày nay, đã có cáp treo làm phương tiện để lên núi.
NÚI BÀ ĐEN
Núi Bà Đen ở Tây Ninh, cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km. Núi Bà Đen cao 986 m cao nhất Nam Bộ. Từ xa nhìn núi Bà Đen như một chiếc nón lá úp trên đồng bằng. Đây là ngọn núi cao nhất ở nam bộ.Núi Bà Đen còn gọi là núi Điện Bà, còn có tên là Vân Sơn, vì thường có mây phủ. Và còn có tên là núi Một.
Đường lên đỉnh núi quanh co, có rất nhiều cảnh trí do thiên nhiên tạo ra. Lên trên cao, hướng về phía đông nam là ngọn núi Cậu. Hướng về phía tây bắc là ngọn núi Heo và núi Phụng.
Tại Bà Đen có ba khu triển lãm bảo tàng được hình thành. Đó là động Kim Quang, khu chùa Hang và Chân Núi. Các khu này giới thiệu một phần hiện vật và hình ảnh của cán bộ, chiến sĩ quân giải phóng trước đây.
Ngày trước Mỹ xây dựng trên đỉnh núi một trung tâm thông tin siêu tần số, diện tích 40.000 m2, và một đài quan sát nhìn thấu vào căn cứ cách mạng của ta.
Tòa thánh Tây Ninh
Tòa Thánh Tây Ninh còn được gọi là Đền Thánh, là Tổ Đình, là Tòa Thánh Trung Ương của Đạo Cao Đài, hiện nay tọa lạc tại xã Long Thành Bắc, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, cách Thị Xã Tây Ninh khoảng 5 Km về hướng Đông Nam, thuộc Miền Nam nước ta.
Gọi Tòa Thánh Tây Ninh là Tổ Đình, vì đây là nơi phát xuất của Đạo Cao Đài, là nơi đặt các cơ quan trung ương của Hội Thánh Cao Đài, tức Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, để điều hành toàn bộ các hoạt động truyền giáo và cứu độ nhơn sanh.
Tòa Thánh được khởi công xây dựng từ năm 1931 (Tân Mùi), hoàn thành vào năm 1947 (Đinh Hợi), và được khánh thành vào dịp Đại Lễ Vía Đức Chí Tôn ngày mùng 9 tháng Giêng năm Ất Mùi (dl 1-2-1955).
Tòa Thánh được cất theo kiểu vở của Thiên đình, quay mặt về hướng Tây, có kích thước theo dự tính ban đầu của Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch là :
- Bề dài : 135 mét.
- Bề ngang : 27 mét.
- Bề cao tại Lầu chuông và Lầu trống : 36 mét.
- Bề cao tại Nghinh Phong Đài : 25 mét.
- Bề cao tại Bát Quái Đài : 30 mét.
Việc chọn đất Thánh địa làm nơi xây dựng Tòa Thánh và kiểu vở xây cất Tòa Thánh đều do Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông giáng cơ chỉ dạy tỉ mỉ.
Đạo Cao Đài Tây Ninh ra đời cuối năm 1926 tại Tây Ninh do một số người đứng ra thành lập, mà đứng đầu là ông Phạm Công Tắc.
Biểu tượng của đạo Cao Đài là Thiên Nhãn. Ngoài việc thờ Thiên Nhãn họ còn thờ các vị như Phật Thích Ca, chúa Giê su, Khổng Tử, Lão tử, Phật Bà Quan Âm…
Bắt đầu khởi công năm 1933. Năm 1947 thì hoàn thành công việc xây dựng. Nhưng mãi đến năm 1955 mới khánh thành. Nội ô của tòa thánh rộng 1 km2, trong đó còn có đền thờ Phật mẫu, có vườn kiểng đoàn kết, có rừng thiên nhiên. Ngôi tòa dài 140 m, rộng 40 m, có tam đài cao 36 m, hiệp thiên dài (hai lầu chuông và trống) cao 25 m, cửu trùng đài và bát quý đài cao 30 m. Cửa chính của tòa thánh quay mặt về phía tây.
Bên trong tòa thánh gồm hai hàng cột rồng, sơn xanh đỏ, trắng rất sặc sỡ. Trên trần được ngăn ra làm 9 khoảng có hình bầu trời đầy mây và sao. Khu chính diện thờ Thiên Nhãn nằm trên quả càn khôn có 3.027 ngôi sao (tượng trưng cho 3.072 quả dịa cầu)
Ngày nay, khách đến thăm tòa thánh còn được thấy nhiều công trình văn hóa của Tây Ninh phát triển từ sau ngày giải phóng, nằm trong khu vực Tòa Thánh.
Trung Ương Miền Nam
Nằm cách thị xã Tây Ninh 64 km, từ năm 1962 – khu vực rộng 70 ha sát biên giới này là căn cứ Trung ương cục – gọi tắt là R: Bộ phận đầu não chỉ đạo trực tiếp cách mạng miền Nam. Từ cửa khẩu Sa Mát, con đường nhỏ rải nhựa len lỏi giữa rừng nhiệt đới luôn đầy ắp hương rừng.
Rừng ở đây có các loại như: tếch, căm xe, gõ, trắc, đinh hương, bằng lăng, k’nia (cày)… nhưng nhiều nhất là họ Dầu. Thấp thoáng dưới tán cây là những căn nhà đơn sơ lợp lá trung quân. Lá được hái lúc còn xanh, gập đôi đan thành tấm lợp, vừa nhẹ vừa mát. Ðặc biệt lá trung quân gặp lửa là tự ngún chứ không cháy lan. Men theo những con đường là nhà làm việc của các cán bộ lãnh đạo R. Những mái nhà đơn sơ là những tên tuổi đã đi vào lịch sử cách mạng: Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Phan Văn Ðáng, Trần Nam Trung, Phạm Thái Bường… Vật dụng trong nhà giản dị với chõng tre; với những súc gỗ cưa tròn: nhỏ làm ghế, lớn làm bàn; với tủ và kệ bằng ván… Tất cả đều là sản vật của rừng dâng tặng. Dưới nền nhà là những căn hầm kiên cố được nối kết bởi hệ thống giao thông hào dài hàng chục km. Cạnh nhà vô số hố bom. Có hố sâu 5- 7 m, rộng 15 – 20 m được sử dụng như những ao cá nhỏ.
Trong chương trìnhxuyên suốt tour này chúng ta sẽ thăm Hồ Dầu Tiếng.
Hồ Dầu Tiếng
Cách thị xã Tây Ninh 20km là điểm du lịch nằm tuyến liên hoàn giữa thị xã Tây Ninh – Toà thánh Tây Ninh – núi Bà Ðen. Hồ có diện tích 27.000 ha, có sức chứa 1,5 tỷ m3 nước tưới cho đồng ruộng tỉnh và các tỉnh lân cận. Hồ Dầu Tiếng với khoảng không gian rộng lớn, sơn thủy hoà quyện, các ốc đảo tự nhiên lạ mắt, không khí trong lành, thoáng mát sẽ tạo cho du khách cảm giác thoải mái trong một chuyến du lịch. Ðến nơi đây, quý khách còn được thưởng thức các món ăn thủy sản của địa phương.

2. TUYẾN VŨNG TÀU
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM VŨNG TÀU

Từ trung tâm thành phố chúng ta chạy ra ngã tư hàng xanh và đi theo đường Điện Biên Phủ qua cây cầu đầu tiên đó là cầu Văn Thánh. Qua khỏi cây cầu này nhìn về phía bên phải là khu du lịch Văn Thánh.
Khu du lịch Văn Thánh
Vị trí: Cách trung tâm thành phố khoảng 2km, về phía đông thành phố Hồ Chí Minh, thuộc quận Bình Thạnh, hướng ra thành phố Vũng Tàu. Đặc điểm: Khu du lịch Văn Thánh hay còn gọi là công viên Văn Thánh là nơi thường tổ chức những đêm lễ, trình diễn thời trang, thi sắc đẹp để tuyển diễn viên điện ảnh. Khu du lịch Văn Thánh có tổng diện tích diện tích 77.000 m2, phần hồ chiếm khoảng 2 ha, khu du lịch mát mẻ, rộng rãi phù hợp với nhiều hoạt động giải trí thư giãn. Nằm trong khu vực rộng rãi bên bờ sông Thị Nghè, nhánh của sông Sài Gòn – Văn Thánh là nơi vui chơi giải trí của dân chúng Sài Gòn. Buổi tối Văn Thánh luôn rộn rã tiếng nhạc và sàn nhảy trong không khí mát rượi của sông nước, của vườn cây bạch đàn.
Tiếp tục chuyến đi chúng ta sẽ đi qua một trong những cây cầu lớn của thành phố Hồ Chí Minh. Đó chính là cầu Sài Gòn. Trong hành trình xe sẽ đi qua cầu Sài Gòn.
Cầu Sài Gòn
Cầu Sài Gòn là một trong những cây cầu bắc qua sông Sài Gòn nối đường Điện Biên Phủ (quận Bình Thạnh) với Xa lộ Hà Nội (Quận 2), Thành phố Hồ Chí Minh. Cho đến khi đường hầm Thủ Thiêm được xây dựng xong thì đây vẫn là cửa ngõ chính để vào nội ô Thành phố Hồ Chí Minh từ các tỉnh miền Trung và miền Bắc. Cầu được công ty Johnson_Drake and Piper thi công từ tháng 11 năm 1958 đến ngày 28 tháng 6 năm 1961 thì hoàn thành. Cầu dài 1010m, gồm 22 nhịp, trong đó có 3 nhịp với chiều dài 267,45m. Cầu được sửa chữa 3 lần vào các năm 1995, 1996. Năm 1998, cầu được tiến hành nâng cấp và sửa chữa với tổng kinh phí 54 triệu fancs từ nguồn vốn viện trợ của Pháp và đến tháng 6 năm 2000 thì hoàn thành. Sau khi nâng cấp, mặt cầu được mở rộng từ 19,63m lên 24m đạt tải trọng 430-XB80, có 4 làn xe, có tải trọng 32 tấn, đáp ứng nhu cầu giao thông ngày càng cao của thành phố Hồ Chí Minh.
Ngay bên cạnh cầu Sài Gòn là khu Tân Cảng. Đi qua hết cầu Sài Gòn chúng ta sẽ đi trên một con đường có tên là Xa Lộ Hà Nội. Qua khỏi cầu khoảng 1 km nhìn về bên phải chúng ta sẽ thấy một Metro khá lớn.
Mê Trô
Metro làm việc 7 ngày trong tuần kể cả ngày lễ, thời gian mở cửa từ 6 giờ sáng đến 9 giờ 30 tối. Metro là 1 hình thức kinh doanh được biến đổi nhằm mục đích tiết kiệm tiền bạc và thời gian của bạn. Là 1 tập đoàn được phép hoạt động theo phương thức thanh toán tiền mặt & tích trữ hàng tại Việt Nam.
Đi khoảng 3 km nữa chúng ta sẽ đi qua trạm thu phí. Cách trạm thu phí không xa là ngã ba Cát Lái, đi quận 2. Tại đây đang còn xây dựng cầu vựơt có quy mô khá lớn và hiện đại nhằm giải quyết phần nào tình hình ảnh tắc giao thông và đáp ứng nhu cầu phát triển của thành phố.
Đi qua ngã 3 này một đoạn nhìn về bên phải chúng ta sẽ thấy quán cơm tấm Ninh Giang. Cơm ở đây khá ngon, giá cả cũng phải chăng. Qua khỏi cầu Rạch Chiếc chúng ta đã đến với địa phận của quận Thủ Đức.
Quận Thủ Đức
Diện tích: 47,46 km², dân số năm 2006 hơn 250.000 người
Quận Thủ Đức là một quận phía đông bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997, phía nam của Huyện Thủ Đức đã được chia thành hai quận mới là Quận 9 và Quận Thủ Đức. Quận Thủ Đức có 12 phường: Linh Đông, Linh Tây, Linh Chiểu, Linh Trung, Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Trường Thọ, Bình Chiểu, Bình Thọ, Tam Bình. Trên địa bàn của quận này có Ga Bình Triệu, Làng đại học Thủ Đức, Công viên nước Sài Gòn. Sau khi đi qua cầu Rạch Chiếc, đi thêm một đoạn đường nữa, nhìn về bên trái các bạn sẽ thấy nhà máy xi măng Hà Tiên.
Công ty xy măng Hà Tiên
Công ty xi măng Hà Tiên 1 là đơn vị chủ lực của Tổng Công Ty Xi Măng Việt Nam tại Miền Nam. Hơn 40 năm qua, Công ty đã cung cấp cho thị trường trên 33.000.000 tấn xi măng các loại với chất lượng cao, ổn định, phục vụ các công trình trọng điểm cấp quốc gia, các công trình xây dựng công nghiệp và dân dụng.
Công ty hoạt động trong môi trường sạch và xanh với công suất thiết kế 1.500.000 tấn xi măng/năm.
Cách nhà máy xi măng Hà Tiên không xa chúng ta sẽ thấy nhà máy nhiệt điện Thủ Đức.
Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức
Nhà máy nhiệt điện Thủ Đức nằm ở phía Đông bắc Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 12 km, có tổng diện tích 15,5 ha.
Địa chỉ: km thứ 8 Xa lộ Hà Nội, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là một trong những nhà máy điện lâu đời nhất ở miền Nam hiện vẫn còn hoạt động tốt, và vẫn phát điện lên lưới điện Quốc gia.
Nhà máy điện Thủ Đức đã được đổi tên thành Công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một thành viên Nhiệt điện Thủ Đức với chức năng chính là phát điện lên lưới điện quốc gia. Công ty này trực thuộc Tập đoàn Điện lực.
Đi qua nhà máy nhiệt điện Thủ Đức, chúng ta sẽ tới ngã tư Bình Thái, rẽ qua bên tay trái đi chừng 3 km sẽ tới chợ Thủ Đức và bưu điện Thủ Đức. Tiếp tục chạy trên xa lộ Hà Nội chúng ta sẽ đi qua một ngã tư nữa, đó là ngã tư Thủ Đức. Ngay bên góc phải cuả ngã tư là siêu thị Coopmart và bên góc trái là trường đại học Sư Phạm Kỹ Thuật và nhà máy nước.
Qua ngã 4 Thủ Đức, xuôi theo một con dốc khá dài, đến khoảng giữa của con dốc nhìn về bên tay trái của quý khách là nhà máy CoCaCoLa và đi thêm khoảng 500 m nữa nhìn về bên phải là khu công nghệ cao. Đây là khu công nghệ vừa mới đựơc xây dựng vào năm 2002 với quy mô khá lớn và hiện đại.
Khu Công Nghệ Cao Thành Phố Hồ Chí Minh
Được thành lập từ tháng 10-2002, đến nay Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh có diện tích trên 573,4 ha và đã xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, các công trình phục vụ quản lý hoạt động trên 300 ha và hiện nay đang đầu tư xây dựng 46 dự án, trong đó có 11 dự án cơ sở hạ tầng thiết yếu như giao thông, thoát nước, cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, viễn thông…; 31 dự án xây dựng khác trong đó có các hạng mục công trình phục vụ, quản lý, điều hành, xây dựng và có 2 phòng thí nghiệm – công nghệ vi mạch bán dẫn, công nghệ nano, trung tâm đào tạo.
Trải qua gần 5 năm hình thành và phát triển, Khu công nghệ cao thành phố Hồ Chí Minh đã phát triển thành một khu kinh tế kỹ thuật, thu hút đầu tư nước ngoài, huy động các nguồn lực khoa học công nghệ cao trong nước.
Đây sẽ là cái nôi tập trung lực lượng sản xuất hiện đại, kết hợp sản xuất kinh doanh với nghiên cứu, tiếp thu, chuyển giao, phát triển Công nghiệp cao và là nơi đào tạo nguồn nhân lực cho nghiên cứu và sản xuất công nghiệp cao.
Tiếp tục chuyến đi, qua khu công nghệ cao chúng ta sẽ đi qua gầm cầu vựơt. Đây gọi là ngã ba trạm hai là diểm giao nhau giữa xa lộ Hà Nội và xa lộ Đại Hàn. Ngay đoạn đầu của xa lộ Đại Hàn là làng Đại học, đây là nơi tập trung nhiều trường đại học của thành phố Hồ Chí Minh như đai học thể dục thể thao, đại học kinh tế, đại học khoa học xã hội va tự nhiên…
Cách ngã 3 trạm 2 không xa theo chiều của chuyến đi về bên phải là khu du lịch Suối Tiên một điểm vui chơi, giải trí có quy mô lớn và thu hút khá đông du khách trong nước và quốc tế của thành phố Hồ Chí Minh
Suối Tiên

Vào năm 1987 Suối Tiên vẫn còn là đồng ruộng, đầm lầy, rừng rậm, và đã từng là căn cứ địa cách mạng thời kháng chiến chống Mỹ… Suối Tiên bắt nguồn nối tiếp Suối Lồ Ô (huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương ) chảy ngầm trong lòng đất hàng chục Km qua xa lộ Hà Nội và trồi lên mặt đất này , để rồi tiếp tục xuôi dòng đổ ra sông Đồng Nai. Lúc đó, Suối Tiên còn cả một khu rừng đặc hữu, một khung cảnh thiên nhiên hiếm hoi còn sót lại. Tại đây còn có một miếu thờ bảy cô gái ở ven suối có cùng tuổi rồng, tình cờ đến đây tắm và qui tiên ở đoạn suối sâu. Dân trong vùng kể lại : “Bảy cô gái rất linh thiêng nên bà con thường xuyên nhang khói, thờ phụng”. Phải chăng bảy cô gái đã qui tiên trở nên linh thiêng thành Tiên, độ cho đời, nên suối này có tên gọi là “Suối Tiên” và được lưu truyền đến ngày nay. Từ khung cảnh thiên nhiên và truyền thuyết ấy, ý tưởng xây dựng nơi đây thành một khu du lịch mang tầm cỡ quốc gia đã bắt đầu.
Ông Đinh Văn Vui đã bắt tay xây dựng “Lâm Trại Suối Tiên” với mục đích lâu dài ẩn chứa bên trong : Lâm trại là tiền đề cho một khu du lịch tầm cỡ trong tương lai. Quá trình sản xuất của lâm trại là quá trình tích lũy vốn liếng cũng như điều tra, nghiên cứu thăm dò để xây dựng khu du lịch.
Ngày 02 tháng 09 năm 1995, nhân kỷ niệm Quốc Khánh Nước CHXHCN Việt Nam, Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên chính thức mở cửa đón du khách từ mọi miền đất nước đến tham quan.
Du Lịch Văn Hóa Suối Tiên với chủ đề chính là trở về cội nguồn văn hóa dân tộc, đã tạo dựng các công trình qui mô, độc đáo, giàu ý nghĩa lịch sử, khơi gợi trong mỗi du khách đến tham quan lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, tự hào là Con Rồng Cháu Tiên.
Tính đến nay, DLVH Suối Tiên đã cho ra đời hơn 150 điểm tham quan, vui chơi và giải trí để phục vụ du khách, trên diện tích rộng hơn 55 ha, với tổng trị giá tài sản 1200 tỷ đồng. Hiện nay công ty đang mở rộng giai đoạn 2 với diện tích 50 ha, vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng, nâng tổng diện tích của DLVH Suối Tiên lên 105 ha, với tổng vốn đầu tư trên 2.200 tỷ đồng.
Qua hết khu du lịch Suối Tiên sẽ có một con đường dẫn vào sân golf Thủ Đức cũng nằm về bên tay phải. Chạy thêm một đoạn nữa là nghĩa trang liệt sĩ thành phố Hồ Chí Minh. Đi thêm một đoạn đường nữa là chúng ta tới Hàm Thuận An thuộc tỉnh Bình Dương. Đi một đoạn nữa là gặp ngã 3 Tân Vạn đi Dĩ An và cầu Đồng Nai, một cây cầu huyết mạch dãn vào thành phố Hồ Chí Minh. Đi trên cầu Đồng Nai, nhìn ngược về bên phải là cảng Bình Dương và xa xa về bên trái là cù lao Phố.
Cù lao Phố
Từ thác Trị An chảy ra biển đông, dòng chảy sông Đồng Nai để lại nhiều cù lao lớn nhỏ trong đó ở địa phận Biên Hòa dòng chảy bỗng chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất. Đó chính là Cù Lao Phố hay còn gọi là Nông nại Đại Phố- nay là xã Hiệp Hòa, thành phố Biên Hòa với diện tích 6,93km2.
Sử sách chép : năm 1679, Tổng binh Trần Thượng Xuyên dẫn theo một đoàn người xin cư trú tại việt Nam và được Chúa Nguyễn chấp thuận cho vào đất Đông Phố (nay là Cù Lao Phố) khẩn hoang. Khi đến Cù Lao Phố, Ông đã cùng người dân địa phương xây dựng nơi đây thành thương cảng lớn. Đường xá được mở rộng, phố xá được xây dựng, chợ búa được thành lập, hàng hóa dồi dào, thường xuyên có nhiều tàu ngoại quốc lui tới buôn bán.Trong lịch sử phát triển của mình cù Lao Phố phát triển nhiều ngành nghề như : dệt chiếu, trồng dâu nuôi tằm, nghề gốm, đúc đồng, làm mộc, làm pháo, nấu mía lấy đường.
Thế nhưng cuộc chiến năm 1776 giữa Tây Sơn và Nguyễn ánh đã tàn phá đi kiến trúc phong quang của Cù Lao phố, nay không còn dấu vết. Thời kỳ hoàng kim của Cù Lao Phố đi vào dĩ vãng, hoàn thành sứ mạng của đô thị cổ, một thương cảng sầm uất nhất phương Nam.
Từ sau ngày giải phóng, người dân Cù Lao Phố đã biến cải vùng đất này thành vựa lúa lớn của Biên Hòa. ở Cù Lao Phố hiện nay còn 5 ngôi chùa, 3 tịnh xá, 11 ngôi đình, 3 ngôi miếu. Có thể nói Cù Lao Phố còn tồn tại nhiều dạng hình thức tín ngưỡng, tạo thành một cơ cấu đan xen hòa trộn lẫn nhau.
Tiếp tục chuyến đi, chúng ta sẽ tới ngã 3 Vũng Tàu. Tai đây chúng ta sẽ chạy theo quốc lộ 51 để đến với Vũng Tàu. Còn nếu các bạn chạy thẳng thì sẽ đến với khu công nghiệp Biên Hoà 1 và 2. Ngay góc ngã 3 có siêu thị Big C. Và chúng ta sẽ đi theo quốc lộ 51 để đến Vũng Tàu. Nhìn về bên trái của quốc lộ là khu công nghiệp Long Bình. Tiếp tục đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ đến với địa phận huyện Long Thành
Huyện Long Thành
Nằm ở phía Tây nam tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp TP. Biên Hòa và huyện Thống Nhất; Phía Nam-Đông nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Tây nam giáp huyện Nhơn Trạch; Tây giáp TP. HCM.
Tổng diện tích tự nhiên: 534,82 km2, chiếm 9,07% diện tích tự nhiên toàn Tỉnh.
Dân số năm 2006: 211.801 người, mật độ dân số 396,02 người/km2
Huyện có 19 đơn vị hành chính gồm: 1 thị trấn Long Thành và 18 xã.
Trước khi tới dốc 47, phía bên quốc lộ có tượng phật và cách đó không xa là ngã 3 Thái Lan. Từ ngã 3 này chúng ta sẽ đến với trường sĩ quan Lục Quân II
Trường sĩ quan Lục Quân II
Trường Sĩ quan Lục quân 2 là một trung tâm đào tạo sĩ quan chỉ huy lục quân cấp phân đội (trung đội, đại đội, tiểu đoàn) ở khu vực phía Nam, Việt Nam. Bắt đầu từ năm 1998, nhà trường được Chính phủ giao nhiệm vụ đào tạo bậc đại học quân sự.
Tiền thân là Trường Quân chính trung, sơ cấp Quân Giải phóng miền Nam, thành lập ngày 27 tháng 8 năm 1961 tại Hòa Hiệp, Tân Biên, Tây Ninh, , vào thời điểm khởi đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Để bảo đảm yếu tố bí mật, an toàn, từ năm 1961 đến năm 1975, nhà trường đã 5 lần thay đổi phiên hiệu, 9 lần chuyển địa điểm đóng quân.
Tiếp tục đi trên quốc lộ 1A, chúng ta sẽ nghĩ và thưởng thức sữa tươi tại Bò Sữa Long Thành. ở đây còn bán một số sản phẩm làm từ sữa bò và các sản phẩm khác như các loại cá khô, các loại bánh kẹo…
Qua khỏi sữa bò Long Thành là tới thị trấn Long Thành
Long Thành là một thị trấn của huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Long Thành có vị trí địa lý chiến lược và thuận lợi phát triển kinh tế; giáp Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Long Thành đang được đầu tư với qui mô lớn: sân bay quốc tế Long Thành dự kiến lớn nhất Việt Nam.
Cách thị trấn Long Thành không xa , phía bên tay phải là con đường dẫn vào đô thị, khu công nghiệp Nhon Trạch.
Khu công nghiệp Nhơn Trạch
Khu công nghiệp có diện tích là 430 ha.
Khu công nghiệp cách trung tâm TP.HCM 50 Km (đường dự kiến đường xây mới là 20Km), cách ga Biên Hòa 20 Km, Tp. Bà Rịa – Vũng Tàu 70 Km, cách cảng Gò Dầu 20 Km, Cảng Vũng Tàu 60 Km, cảng Phú Mỹ 27 Km, cách Sân bay Quốc tế Long Thành 7 Km (năm 2008 xây dựng).
Qua hết huyện Long Thành là chúng ta tới địa phận của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng Nai ở phía bắc, Thành phố Hồ Chí Minh ở phía tây, tỉnh Bình Thuận ở phía đông, còn phía nam giáp Biển Đông.
Năm 2005 dân số của tỉnh là 913.100 người, với diện tích là 1.982,2 Km².
Tỉnh Bà Rịa được thành lập tháng 12 năm 1899 trên địa bàn phủ Phước Tuy của tỉnh Biên Hòa.
Từ tháng 8 năm 1991 lập tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu gồm Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo và một số huyện thuộc tỉnh Đồng Nai vốn thuộc tỉnh Bà Rịa trước kia.
Bà Rịa Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Hoạt động kinh tế của Tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí. Trên thềm lục địa Đông Nam Bộ tỉ lệ các mũi khoan thăm dò, tìm kiếm gặp dầu khí khá cao, tại đây đã phát hiện các mỏ dầu có giá trị thương mại lớn như: Bạch Hổ (lớn nhất Việt Nam), Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông. Đương nhiên xuất khẩu dầu đóng góp một phần quan trọng trong GDP của Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tỉnh hiện có 7 khu công nghiệp: Đông Xuyên, Phú Mỹ I, Mỹ Xuân A, Mỹ Xuân A mở rộng, Mỹ Xuân A 2, Mỹ Xuân B1, Cái Mép.
Chúng ta sẽ đi qua huyện Tân Thành
Huyện Tân Thành
Tân Thành là một huyện tại tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Huyện Tân Thành nằm dọc theo quốc lộ 51 và sông Thị Vải, giáp thị xã Bà Rịa và huyện Nhơn Trạch tỉnh Đồng Nai. Tại huyện này tập trung các khu công nghiệp nặng và năng lượng lớn, đặc biệt là tại thị trấn Phú Mỹ (huyện lỵ).
Ngay đầu huyện, về phía bên tay phải là nhà máy Vedan và đi thêm một đoạn nữa các bạn nhìn về bên tay trái là núi Thị Vãi
Núi Thị Vãi
Núi Thị Vãi là một địa danh ở huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, ngọn núi cao 470 m, con sông sâu 20 m, cảng lớn (tương lai 20 triệu tấn/năm), cây cầu ngay cửa ngõ vào tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu trên Quốc lộ 51.
Trong nhiều văn bản hành chính, trên báo, đài địa phương… từ trước đến nay địa danh này được viết là Thị Vải (dấu hỏi). Nếu suy nghĩa của từ thì có thể hiểu “Thị Vải” là “chợ vải”, dù rằng từ trước đến nay vùng này không có chợ vải nào nổi tiếng đến mức trở thành tên đất như thế.
Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, viết đầu thế kỷ 19, cho biết: “Núi Nữ Tăng (tức núi Thị Vãi) tục gọi núi Bà Vãi, trước có người con gái họ Lê, gia tư giàu có, kén chọn lỡ thời. Sau khi cha mẹ chết mới lấy chồng, không bao lâu người chồng chết, thề quyết không đi bước nữa, khổ vì bọn thế hào cứ sai người mối lái đến quấy nhiễu, bèn trốn đời, cắt tóc đi tu, dựng am ở đỉnh núi, tự làm sư thầy tụng niệm tu trì, bèn nên chánh quả. Người ta nhân đó mà gọi tên núi”. Sách Đại Nam nhất thống chí, viết nửa sau thế kỷ 19, cũng có những lời tương tự và ca tụng bậc chân tu Lê Thị. Như vậy, tên gọi Thị Vãi đã có 200 năm nay. Từ tên núi, Thị Vãi được dùng để gọi tên sông, tên cầu… và gần đây là cảng nước sâu trên vùng đất này. Theo các sách trên, chữ “vãi” nguyên gốc ban đầu của địa danh có nghĩa là “người đàn bà đi tu theo Phật giáo” (chứ không phải “vải”, là đồ dệt bằng sợi bông).
Nằm kề quốc lộ 51 thuộc địa phận thị xã Bà Rịa và huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rại – Vũng Tàu, kề bên núi Thị Vãi là Núi Dinh
Núi Dinh
Đỉnh cao nhất là núi ông Trịnh 504m, phần còn lại thoải dần về hai phía.
Đầu thế kỷ XX ở đây là rừng nguyên sinh, với thảm thực vật nhiệt đới đa dạng, gồm nhiều loại gỗ hiếm: dâu, sao, bằng lăng, cẩm lai, sơn trà, chiêu liên, châm sừng, săng trắng, sến, gõ đỏ… Dưới tán rừng giá là nơi cư trú của các loài động vật : hổ, khỉ, nai, dọc, gấu, heo, hoẵng, sóc, chồn, cây hương, kỳ đà. Lợi dụng địa hình hiểm trở ở đây, cuối năm 1952 Thị uỷ Bà Rịa đã bí mật chuyển căn cứ hoạt động từ rừng Sác, xã Long Sơn vê Núi Dinh. Trong hai cuộc kháng chiến, Núi Dinh là cơ sở an toàn che chở cho các đơn vị thuộc chiến trường Đông Nam bộ.
Căn cứ núi Dinh trải dài trên một diện tích rộng có địa hình phức tạp, địch biết nhưng chúng không thể nào tìm được nơi hoạt động cụ thể của lực lượng cách mạng. Có thể nói mỗi hốc đá, mỗi lùm cây, một bờ suối đều tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ chiến sĩ lập nên những kỳ tích anh hùng. Năm tháng qua đi, những địa danh Hang Dây Bí, Hang Tổ, Hang Mai, Chùa Diệu Linh, Bưng Lùng, Hang Dơi… mỗi lần nhắc đến đều làm nhiều thế hệ bồi hồi xúc động.
Khu công nghiệp Mỹ Xuân
Quy mô : 301 ha
Khu công nghiệp thuộc vùng trọng điểm kinh tế trọng điểm phía Nam thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu – Bình Dương. Thuận lợi về giao thông đường bộ, đường thuỷ, đường hàng không.
Khu công nghiệp nằm cạnh Quốc lộ 51, cách thành phố Hồ Chí Minh 55km, Vũng Tàu 45km, cảng Gò Dầu 2 km, cảng Phú Mỹ 6km.
Hiện nay, đã có nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc, Đài Loan, Thuỵ Sĩ, Malaysia, Nhật, Mỹ… đầu tư phát triển các nhà máy tại khu công nghiệp, điển hình là các Công ty: Công ty TNHH thép không rỉ QianDing, Công ty TNHH Công nghiệp gốm sứ Bạch Mã, Công ty Gạch men Hoàng Gia, Công ty TNHH Công nghiệp kính Việt Nam, Công ty Xay lúa mì Việt Nam, Công ty Park Austraylia…
Gần đó là Nhà máy Nhiệt điện phú mỹ. Ngành nghề – sản phẩm: Cung cấp điện năng cho hệ thống điện quốc gia; bảo trì, sửa chữa, cung cấp dịch vụ kỹ thuật cho các nhà máy điện tua bin khí chu trình hỗn hợp và tương tự.
Nhà máy điện Phú Mỹ
Nhà Máy Điện Phú Mỹ là thành viên trực thuộc Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (EVN), được chính thức thành lập ngày 15/02/1997.
Nhà máy hiện đang quản lý vận hành sửa chữa các tổ máy phát điện tua bin khí thuộc dự án Phú Mỹ 2.1, 2.1 mở rộng và Phú Mỹ 1 chu trình hỗn hợp với tổng công suất hiện nay là 1.655 MW, và đang tiếp tục xây dựng, phát triển các dự án mới để nâng tổng công suất Nhà máy lên tới 2.420 MW vào năm 2004-2005, và thực hiện chức năng bảo trì sửa chữa các tổ máy tua bin khí chu trình hỗn hợp trong tương lai gần.
Tiếp tục đi thẳng chúng ta sẽ tới thị xã Bà Rịa
Thị xã Bà Rịa
Bà Rịa là trung tâm hành chính của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. (Trước kia Bà Rịa thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Nai.) Thị xã được thành lập từ ngày 2 tháng 6 năm 1994, do chia huyện Châu Thành thành huyện Châu Đức, Tân Thành, thị xã Bà Rịa. Nhiều cơ quan quan trọng của tỉnh đã chuyển từ Vũng Tàu đến đây, từ sau khi thị xã được nâng lên làm tỉnh lỵ. Nó được tách ra từ huyện Châu Thành, thị xã Bà Rịa cách Thành phố Hồ Chí Minh 90 km về phía Đông Bắc, cách Vũng Tàu 20 km về hướng Tây Bắc. Phía bắc thị xã giáp huyện Châu Đức và một phần huyện Tân Thành; phía nam giáp thành phố Vũng Tàu; phía đông giáp huyện Long Đất; phía tây giáp huyện Tân Thành. Diện tích tự nhiên là 1975 km²; gồm 7 phường (Long Toàn, Phước Hiệp, Phước Hưng, Phước Nguyên, Phước Trung, Long Hương, Kim Dinh), 3 xã (Hòa Long, Long Hương, Long Phước).
Ngay đầu của thị xã là con đường dẫn vào nhà máy turbin khí Bà Rịa
Núi Nứa, Đảo Long Sơn, Đạo Ông Trần
Xuôi quốc lộ 51, ngay địa phận Phước Hoà nhìn về tay phải ta sẽ thấy một dãy núi thấp nằm xoải dài trên sông nước, cỏ cây xanh rờn… Đó là Núi Nứa hay còn gọi là đảo Long Sơn. Long Sơn ngày nay là một xã (xã đảo) thuộc TP vũng tàu. Đây là vùng đất đã có lịch sử lâu đời với những di tích, thắng cảnh, truyền thuyết tôn giáo rất lạ. Tên gọi là Núi Nứa do trước kia (hiện nay vẫn còn số ít) trên khắp đảo có nhiều cây nứa (một họ với tre) mọc thành rừng. Hòn đảo lại không lớn lắm (dài 6km, ngay chỗ rộng nhất không lớn hơn 2km) nên các rừng nứa nói trên đã phủ đầy mặt đảo, trở thành cây đặc trưng của đảo. Còn tại sao gọi là núi Long Sơn? chính do hình dáng của đảo, mới thoạt trông từ xa giống như một con rồng xanh khổng lồ đang giỡn mình trên sóng biến. Núi rồng (Long Sơn) là thế… Nhưng núi Nứa hay Long Sơn sẽ không được nhiều người nhắc tới nếu nó không gắn liền với những truyền thuyết về Đạo ông Trần. ông Trần là tên dân gian để gọi một người tên là Lê Văn Hưu gốc Hà Tiên (Kiên Giang), từng tu hành theo phái Tứ ân Hiếu Nghĩa ở Núi Thất Sơn (An Giang). Năm 1900, ông dẫn 20 đệ tử tìm đến đảo Long Sơn và định cư hẳn ở đây khai hoang và truyền đạo.
Tóm lại, những gì còn lưu dấu lại ở đảo Long Sơn, cho thấy một khía cạnh trong bức tranh đa dạng về tín ngưỡng tôn giáo, về nghệ thuật dân gian rất phong phú của dân tộc ta. Đảo Long Sơn càng ngày thu hút cao du khách thập phương…
Sau khi vào thị xã Bà Rịa, qua khỏi chợ Bà Rịa không xa, nhìn bên tay phải là đường đi Bình Châu còn tiếp tục chạy thẳng thì sẽ tới Vũng Tàu.
Chạy dọc theo quốc lộ 53 chúng ta sẽ đến với huyện Long Điền tại thị trấn Long Điền có 1 con đường dẫn các bạn tới Dinh Cô và biển Long Hải. Chạy doc theo bờ biển Long Hải các bạn sẽ tới núi Minh Đạm.
Dinh Cô
Dinh Cô thuộc thị trấn Long hải (huyện Long Điền) nằm bên sườn ngọn đồi nhỏ, trước mặt là bãi cát dài và biển khơi mênh mang sóng nước với diện tích 1000m².
Lúc đầu Dinh Cô chỉ là ngôi miếu nhỏ được làm đơn sơ, nhưng theo thời gian, cùng với sự “linh thiêng” của Cô được chứng nghiệm. Năm 1930, Dinh Cô được xây dựng khá khang trang. Năm 1987, Dinh Cô bị hoả hoạn, sau đó được xây dựng lại như hiện nay.
Cổng Tam quan vào Dinh Cô nằm dưới chân mũi Thuỳ Vân, đắp nổi “Long hổ hội”, phía trên có “Lưỡng long chầu nguyệt” và song phụng chầu, lối lên điện Cô là 37 bậc tam cấp. Chính điện Dinh Cô bài trí 7 bàn thờ. Ngay trung tâm chánh điện là bàn thờ nổi bật với bức tượng Bà Cô cao hơn 0,5 mét, mặc áo choàng đỏ, viền kim tuyến lấp lánh đội mũ gắn ngọc. Phía sau cạnh bàn thờ Bà Cô là bàn thờ Diêu Trì Phật Mẫu, Chúa Cậu (Nhị vị Công tử, tức là Cậu Tài, Cậu Quý), Ngũ Hành Nương Nương, Tứ Pháp Nương Nương (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), ông Địa, Thần Tài. Ngoài chính điện, ngư dân còn lập bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ, Chúa Ngọc Nương Nương, chúa Tiên Nương Nương, Chư vị, Bà Mẹ Sanh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và miếu thờ Hoả Tinh Thánh Mẫu, Quan Thánh Đế Quân, Quan Thế âm Bồ Tát.
Liên quan đến Dinh Cô và là một bộ phận quan trọng của di tích là Mộ Cô, nằm trên đồi “Cô Sơn”, cách Dinh Cô chừng l km. Mộ Cô là một nơi khang trang đẹp đẽ, thu hút nhiều người đến thăm viếng, chiêm bái, đặc biệt là trong dịp lễ hội Nghinh Cô. Hàng năm, vào các ngày 10, 11, 12 tháng 2 âm lịch ngư dân Long Hải mở lễ hội Dinh Cô (còn gọi là vía Cô). Lễ hội Nghinh Cô là một trong những lễ hội quốc gia lớn nhất ở Nam Bộ.
Nằm cách TP.HCM chỉ khoảng 120km về hướng Đông Nam (gần Vũng Tàu), biển Long Hải đang là điểm du lịch thu hút đông đảo du khách đến nghỉ mát vào những ngày chủ nhật hay ngày nghỉ lễ…
Long Hải
Khu du lịch Long Hải thuộc huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, đã được nhiều khách tham quan ưa chuộng và tìm đến, bởi Long Hải khá gần Sài Gòn, đường sá rộng rãi và bãi biển Long Hải có nhiều vẻ đẹp hoang sơ, tự nhiên, chưa bị bàn tay con người can thiệp nhiều.
Du khách đến Long Hải nếu muốn còn có dịp thăm khu ruộng muối, tìm hiểu kỹ thuật làm muối của người dân vùng này
Về phía bên phải Dinh Cô đó là núi Minh Đạm – điểm sinh thái về nguồn.
Núi Minh Đạm
Núi Minh Đạm thuộc địa phận huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, cách Tp. Hồ Chí Minh khoảng 150km, cách thị xã Bà Rịa khoảng 30km. Núi Minh Đạm – nơi có rừng cây um tùm, nhiều hang đá và là căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa – Vũng Tàu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ.
Năm 1948, để nhớ ơn hai vị Bí thư và Phó bí thư huyện Long Điền là Bùi Công Minh và Mạc Thanh Ðạm đã anh dũng hy sinh dưới chân núi, nên người dân đã đặt tên núi là Minh Ðạm. Minh Đạm còn là tên gọi căn cứ kháng chiến của quân và dân Bà Rịa – Vũng Tàu trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Núi Minh Ðạm có rừng cây um tùm xanh tươi. Trên núi có nhiều hang đá là nơi ăn ở, sinh hoạt, làm việc an toàn cho cán bộ, bộ đội. Mỗi hang đá mang tên của đơn vị đóng quân như: hang Huyện uỷ, hang Quân y, hang Quân giới…
Năm 1993, Khu căn cứ Minh Ðạm được Bộ Văn hoá Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử cách mạng.
Sau khi đi qua huyện Long Điền thì sẽ tới huyện Đất Đỏ có thị trấn Đất Đỏ. Tại đây có nhà lưu niệm Võ Thị Sáu.
Đất Đỏ
Đất Đỏ là một huyện của tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu, có trung tâm hành chính đặt tại xã Phước Long Thọ. Nó được thành lập khi Chính phủ chia huyện Long Đất cũ thành hai huyện Đất Đỏ và Long Điền . Dân số là 62.830 người.
Đông giáp huyện Xuyên Mộc và biển Đông, tây giáp huyện Long Điền và thị xã Bà Rịa, nam giáp biển Đông, và bắc giáp huyện Châu Đức.
Nhà lưu niệm anh hùng Võ Thị Sáu
Nhà lưu niệm nữ anh hùng Võ Thị Sáu. Nằm ở ngã tư Đất Đỏ, thuộc xã Phước Long Thọ – Huyện Long Đất. Đây vốn là dãy nhà 8 gian do dân làng xây cất từ dầu thế kỷ XX tại trung tâm Đất Dỏ để các gia đình thuê ở. Ngôi nhà là nơi ghi dấu nhiều kỷ niệm tuổi thơ (từ lúc lên 4 tuổi) cho đến khi chị bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng. Ngôi nhà có lối kiến trúc dân dã đặc trưng của làng quê Việt Nam. Xung quanh được che bằng các tấm ván gỗ, mái nhà lợp ngói âm dương, nền đất. Căn nhà dài 10m, rộng 3m gồm 2 phòng nhỏ. Phòng ngoài dài 5m, ở giữa bài trí tủ thờ gia tiên, kê sát bên vách phía phải là bộ đồ ván gỗ nơi chị em Sáu thường nằm ngủ. Từ năm 1980, Uỷ ban nhân dân huyện Long Đất đã tu bổ lại căn nhà lưu niệm nữ liệt sĩ anh hùng lực lượng vũ tranh nhân dân Võ Thị sáu.
Cách nhà lưu niệm chừng 100m là công viên tượng đài và nhà trưng bày Võ Thị Sáu. Tượng đài nằm trong công viên bốn mùa ngát hương hoa sứ, ngọc lan, lêkima. Tượng được đúc bằng đồng, cao 7m, do nghệ sĩ Thanh Thanh. Võ Thị Sáu làm liên lạc viên cho đội Công an xung phong Đất Đỏ. Năm 1950, Võ Thị Sáu dùng lựu đạn tiêu diệt tên Cai tổng Tòng, tay sai của Pháp, nhưng lựu đạn không nổ. Chị bị bắt giam tại nhà lao Bà Rịa, sau đó chuyển lên khám Chí Hòa (Sài Gòn), rồi đày ra Côn Đảo. Chị bị kết án tử hình khi chưa đến tuổi thành niên. Ngày 23-1-1952, thực dân Pháp đã xử bắn chị. Võ Thị Sáu được xếp vào danh sách một trong 1.000 phụ nữ nổi tiếng…
Đi hết huyện Đất Đỏ thì sẽ đến huyện Xuyên Mộc có tị trấn Phước Bửu. Đến với huyện này, Đầu tiên chúng ta se đi qua một con đường dẫn vào khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu và biển hồ Cốc. và tiếp theo là con đường dẫn vào suối nước nóng Bình Châu.
Hết huyện Đất Đỏ, chúng ta sẽ đi qua huyện Xuyên Mộc.
Huyện Xuyên Mộc
Huyện Xuyên Mộc là một huyện có diện tích lớn nhất tỉnh, khoảng 642,18km2, phía Đông giáp huyện Hàm Tân (tỉnh Bình Thuận), phía Tây giáp huyện Châu Đức và Long Đất, phía Nam giáp biển Đông, phía Bắc giáp huyện Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai). Dân số năm 2000 khoảng 122.500 người, có 13 đơn vị hành chính gồm 12 xã và 1 thị trấn.
Gần ngay đầu huyện là thị trấn Phước Bửu
Thị trấn Phước Bửu
Có tổng diện tích đất tự nhiên 920,16ha với dân số khoảng 13.938 người. Phía Đông tiếp giáp Xã Xuyên Mộc; phía Tây tiếp giáp Xã Phước Thuận; phía Nam giáp rừng nguyên sinh Phước Bửu Bình Châu; phía Bắc giáp Xã Phước Tân
Đi tới khoảng giữa của huyện Xuyên Mộc,, bên tay phải có con đường đi vào khu bảo tồn Bình Châu Phước Bửu.
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu được thành lập vào năm 1984, thuộc địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đây là một khu rừng tự nhiên ven biển duy nhất còn lạI ở Miền Đông Nam Bộ có giá trị về nhiều mặt. Trong khu bảo tồn có nhiều loài động vật hoang dã, quý hiếm đã được liệt kê vào Sách Đỏ của thế giới.
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu có diện tích 11.392 héc ta (không kể diện tích vùng đệm), trong đó có 7.224 héc ta đất có rừng, còn lạI là đất trồng cây công nghiệp và đất trống. Trong khu bảo tồn thiên nhiên này còn có mặt 661 loài thực vật thuộc 408 chi, 113 họ vớI các loài thực vật khác nhau, và 178 loài động vật có xương sống, gồm các lớp lưỡng thê, bò sát, chim và thú. Đây là một trong rất ít các khu bảo tồn trên Thế giớI còn tồn tại nhiều loài động vật quý hiếm được ghi vào Sách Đỏ như Báo Hoa Mai, Gấu Chó, Khỉ đuôi lợn, Voọc xám, Hoẵng, Trút, Trăn Gấm và Rùa vàng… Đặt biệt ở đây còn có loài Gà Lôi hông tía.
Từ khu bảo tồn Bình Châu – Phước Bửu đi thêm một đoạn đường nữa là tới bãi biển Hồ Cốc.
Bãi biển Hồ Cốc
Bãi biển Hồ Cốc khá đẹp, nó như một vùng hoang sơ mới được khai thác. Nước biển trong xanh, khu bãi tắm rộng, độ dốc thoai thoải và đặc biệt đẹp lên nhờ các tảng đá nằm ngay trong bãi tắm, tạo nên những đợt sống biển tung bọt trắng xóa. Dọc bãi tắm là các nhà lều che bằng cót trông rất vui mắt lại không bị nắng nóng của vải bạt của dù che.
Tiếp tục đi trên quốc lộ 53, bên tay trái là đường đi vào suối nước nóng Bình Châu
Suối nước nóng Bình Châu
Suối nước nóng Bình Châu. Từ huyện Xuyên Mộc, theo lộ 23 đi tiếp khoảng 30 km sẽ tới khu Suối Khoáng nóng Bình Châu. Giữa ngút ngàn hơn 7.000 ha rừng nguyên sinh, rừng cấm quốc gia thì ở đây nổi lên một Bàu nước sôi với hơn 70 điểm phun nước lộ thiên. Vùng có nước nóng hoạt động rộng khoảng hơn 1 km2, gồm có nhiều hồ lớn nhỏ tạo thành các dòng chảy với lưu lượng nhỏ. Vùng hồ rộng nhất là một ao nước rộng khoảng 100 m2 với độ sâu hơn một mét, đây là điểm nóng nhất, nước lúc nào cũng sủi tăm, bốc hơi, tạo thành một nồi hơi thiên nhiên khổng lồ. Nhiệt độ tầng mặt nước khoảng 640C , đáy nước là 840C, có thể luộc chín trứng gà theo kiểu hồng đào. Những chỗ nông, nước chỉ nóng khoảng 400C – 420C, có thể ngâm chân, tay để chữa bệnh. Điều hấp dẫn, thú vị là ngay tại khu vực nước sôi này thì rừng Tràm lại vẫn xanh tươi.Thành phần hóa học của nước nóng Bình Châu được các nhà khoa học đánh giá là tốt, rất có lợi cho việc phát triển khu du lịch sinh thái kết hợp với nghỉ ngơi, chữa bệnh.
Nếu tiếp tục đi theo quốc lộ 53 chúng ta sẽ tới huyện Hàm Tân của tỉnh Binh Thuận. Đoạn đường tại thị xã Bà Rịa, chúng ta không rẽ đi Bình Châu mà đi thẳng theo quốc lộ 51 thì chúng ta sẽ đến với thành phố biển Vũng Tàu. Đoạn cuối của thị xã Bà Rịa, phía bên phải của quốc lộ là nhà máy nước Bà Nà và tiếp tục chúng ta sẽ đến thành phố Vũng Tàu
Vũng Tàu
Vũng Tàu là một thành phố ven biển trực thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Vũng Tàu cách Thành phố Hồ Chí Minh 125 km về phía Đông Nam. Vũng Tàu nằm trên bán đảo cùng tên và có cả đảo Long Sơn.
Diện tích Vũng Tàu: 140,1 km², gồm 13 phường và 1 xã (Long Sơn). Dân số Vũng Tàu: 241.500 người (năm 2003).
Tiếp tuc đi theo quốc lộ 51 chúng ta se tới khu du lịch Paradai , sau đó tới bãi biển Bãi Sau.
Bãi Sau
Bãi Sau nằm ở phía đông nam và còn có tên gọi “Bãi Thùy Vân”. Bãi Sau dài 8 km, là bãi biển dài và thơ mộng nhất của Vũng Tàu. Nếu như biển ở Bãi Trước có nét đẹp lộng lẫy và rực rỡ thì Bãi Sau có nét đẹp dịu dàng của một vùng biển quanh năm đầy nắng ấm. Đại lộ Thùy Vân con đường đầy hoa chạy dọc theo Bãi Sau, một bên là những dãy phố sầm uất, nhà cao tầng, khách sạn dáng vóc hiện đại, đầy đủ tiện nghi, một bên là bãi cát vàng và nhiều khu du lịch đủ các loại hình dịch vụ giải trí vui chơi trên biển… dành cho mọi lứa tuổi. Đặc biệt có một sân golf rộng hơn 100ha đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ tới khu du lịch Biển Đông.
Khu du lịch Biển Đông
Khu du lịch Biển Đông nằm trên đường Thùy Vân, đây là diểm du lịch khá đẹp với có nhiều các dịch vụ và tiện nghi như: canô kéo dù, canô kéo phao, jetki, thuyền buồm, câu cá…
Quốc lộ 51 đoạn đi qua thành phố Vũng Tàu có tên là đường Hạ Long. Dọc theo con đường Hạ Long này, lần lượt chúng ta sẽ qua các điểm: mũi Nghinh Phong, Tượng Chúa, núi Nhỏ, bãi Dứa, Niết Bàn Tịnh Xá, Hải Đăng, bãi Trước, Bạch Dinh, núi Lớn và Thích Ca Phật Đài.
Mũi Nghinh Phong
Nghinh Phong có nghĩa là “đón gió” thổi suốt bốn mùa. Như một cánh tay vươn dài ra biển, Nghinh Phong tạo thành hai bãi biển ở hướng tây và hướng đông. Đó là bãi Vọng Nguyệt (hay Ô Quắn) và bãi Hương Phong, xa xa là Hòn Bà – Bồng đảo nơi du khách có thể ghé đến vào những khi thuỷ triều hạ thấp.
Ba mặt tiếp giáp với biển của Nghinh Phong là vách núi dựng đứng khá cao, đứng trên đường nhìn xuống ta cảm thấy biển ở đây như xanh hơn nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường. Bãi tắm ở đây trong và sâu là nơi dành cho người hiếu động, thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng dập dồn và rất thích hợp cho những người ưa thích bộ môn câu cá.
Núi Nhỏ
úi Nhỏ, còn gọi là Tao Phùng, diện tích khoảng 120ha, cao 170m. Có hai đường lên một đường ở phía Bắc, nối với đường Hạ Long, gần cầu Đá; một đường ở phía Nam, theo 793 bậc tam cấp dẫn lên Tượng Chúa Kitô và trận địa pháo cổ cuối thế kỷ 19.
Năm 1862, tức 3 năm sau khi đánh chiếm Nam Bộ, thực dân Pháp đã cho xây dựng ngọn hải đăng đầu tiên ở Việt Nam trên núi Nhỏ (tại độ cao 149m). Cuối Núi Nhỏ về phía Nam là mũi Nghinh Phong. Trước đây, dân Vũng Tàu gọi mũi Nghinh Phong là Ô Quắn. Như cánh tay dài vươn ra biển, ôm bãi Vọng Nguyệt phía Đông và Hương Phong (bãi Dứa) phía Tây, quanh năm Nghinh Phong đón gió. Cách mũi Nghinh Phong không xa về phía Đông là Hòn Bà – tên gọi gắn với điện thờ trên đảo. Cũng như nhiều địa danh khác ở Vũng Tàu dù trước đó đã có tên Việt, Hòn Bà đã từng được người Pháp đặt cho cái tên Ile d’ Archinard, vốn là tên một viên tướng trong quân đội viễn chinh. Mũi Nghinh Phong, Hòn Bà tạo cho cảnh quan núi Nhỏ thêm kỳ thú. Núi Lớn, núi Nhỏ còn bảo tồn nhiều di tích lịch sử văn hóa như phòng tuyến trận địa pháo của Pháp, Hải đăng Vũng Tàu, Hầm thủy lôi của quân đội Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2, đài ăngten parabol của quân đội Mỹ, Tượng chúa Kitô, một trong những công trình điêu khắc về Đức chúa trời cao nhất thế giới và rất nhiều đền, chùa . . .
Tượng chúa Ki – Tô
Tượng Chúa Ki-tô đứng trên Núi Nhỏ ở Vũng Tàu. Theo đường vòng núi nhỏ (đường Hạ Long) từ bãi trước qua bãi Dứa đến mũi Ninh Phong.
Tượng chúa được xây dựng từ năm 1972 những công trình bị bỏ dở, do yêu cầu cuả đồng bào giáo dân ngày 28 tháng 1 năm 1992 UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu đã quyết định xây dựng tiếp công trình tượng chúa trên Núi Nhỏ. Sau hai năm xây dựng ngày 2 tháng 2 năm 1994 công trình đã được hoàn tất. Tượng chúa được xây dựng trên núi cao 136 mét và cao so với mực nước biển 176 mét. Tượng đài cao 31 mét, hai tay dang rộng 18,4 mét được đặt trên một ngôi nhà hình vuông có trạm trổ chúa và 13 tông đồ trên mặt tượng.
Phía trong bụng tượng có thể chứa được hàng trăm người đi trên 133 bậc thang được làm bằng đá mài. Từ hai tay của tượng ta có thể nhìn bao quát được toàn bộ thành phố Vũng Tàu.
Từ Bãi Trước, dọc theo đường Hạ Long là một trong những con đường đẹp nhất Việt Nam uốn lượn trên một đoạn triền núi lấn ra bờ biển sẽ đưa ta tới Bãi Dứa.
Bãi Dứa
Người xưa kể lại rằng sở dĩ có tên bãi Dứa, vì trước đây triền núi nhô ra biển rất nhiều những cây dứa dại (một loại cây có hương thơm như gạo nếp hoặc nàng hương) tỏa thơm ngát một vùng nên bãi này còn có tên gọi là Bãi Lãng Du là một bãi biển đẹp của Vũng Tàu.
Phía trên triền núi dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ, khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi. Xen kẽ những ngôi chùa miếu khá nổi tiếng ở Vũng Tàu như Niết Bàn Tịnh Xá, miếu Ông Nam Hải… là những nơi dành cho khách mộ điệu hành hương về dâng hoa cầu phước, cầu lộc…
Niết Bàn Tịnh Xá
Niết Bàn Tịnh Xá tọa lạc bên triền núi Nhỏ, trung điểm bãi Dứa, khởi công xây dựng từ 1969, năm 1974 hoàn thành, với diện tích trên 10.000m2.
Nằm bên bờ biển, Niết Bàn Tịnh Xá nổi bật với những đường nét kiến trúc Đông Tây kết hợp. Lối lên Niết Bàn Tịnh Xá men theo triền dốc. Hai bên cổng là tượng ông Thiện, ông Ác; bên phải có bức phù điêu long mã; bên trái có lầu chuông với hình long ly quy phụng chạm trổ tinh vi. Chánh điện nổi bật với bức tượng Phật nhập Niết Bàn nằm nghiêng, nhìn về hướng Tây, gối đầu lên tay phải, dài 12m. Gan bàn chân Phật khắc 52 điểm ấn. Bức tượng càng được nổi bật hơn trên nền phong cảnh núi rừng, cây cối với những vị tiên và muông thú được tạo dựng rất tinh vi ở phía sau.
Lối dẫn lên sân thuyền Bát Nhã ở phía bên phải, nơi trang trí nhiều hoa cảnh, rừng Thổ Đà (Vruvola) tái hiện tích Thái tử Grotama hành pháp khổ hạnh cứu đời. Sân thuyền Bát Nhã có tháp chuông bốn mái uốn cong, đầu đao đắp nổi tượng đồng, trong đặt Đại hồng chung bằng đồng, cao 2,8m, chu vi 3,8m, nặng 3,5 tấn. Đại hồng chung Niết Bàn Tịnh Xá nổi tiếng với thanh âm ngân vang nao lòng du khách…
Hải Đăng
Hải đăng Vũng Tàu lần đầu tiên được xây dựng vào năm 1862, tức sau khi Pháp chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đây là ngọn hải đăng được xây dựng sớm nhất ở nước ta. Ban đầu hải đăng được xây dựng ở mõm cực Nam của núi Nhỏ, ở độ cao khoảng 149m. Năm 1913, hải đăng Vũng Tàu được chuyển lên vị trí hiện tại, cao chừng 170 so với mực nước biển. Đường ô tô dẫn lên hải đăng ngoạn mục uốn quanh triền núi.
Tháp hải đăng hình trụ, cao 18m, đường kính 3m, bên trong có cầu thang xoắn ốc lên gần tới đỉnh và có lối dẫn ra ban công bên ngoài để quan sát toàn cảnh non nước Vũng Tàu. Suốt một thời gian dài hải đăng Vũng Tàu hoạt động nhờ hệ thống dây thiều, các máy móc thiết bị được sản xuất tại Pháp. Hiện nay, hải đăng còn lưu giữ gần như nguyên vẹn hệ thống máy móc này.
Hải đăng Vũng Tàu ngày nay được thắp sáng nhờ bóng đèn có công suất 1.500w, chiếu xa 35 hải lý (gần 65km) nhờ hệ thống lăng kính đồ sộ, gồm những tấm kính ba cạnh hình tam giác bao quanh. Đèn chuyển động bằng môtơ điện. Hải đăng Vũng Tàu có hai tia, mỗi phút quay 2,4 vòng.
Bãi Trước
Bãi Trước, một bãi tắm nổi tiếng của Vũng Tàu. Bãi Trước là một trong những bãi biển đẹp của thành phố Vũng Tàu. Bãi biển này nằm giữa Núi Lớn và Núi Nhỏ, là một vịnh nhỏ lặng sóng. Bãi Trước nằm ở phía tây nam của thành phố nên buổi chiều có thể ngắm hoàng hôn trên biển ở đây. Bãi biển này ít được mọi người tắm do đây cũng là nơi neo đậu tàu đánh cá nên khá ô nhiễm. Tuy nhiên về đêm, đây là nơi tập trung các hoạt động vui chơi giải trí của du khách. Hầu như các con đường chính của Vũng Tàu đều đổ ra đây.
Núi Lớn
Núi Lớn: Có diện tích khoảng 400ha; có 3 đỉnh lớn đó là Vũng Mây cao 220m, Núi Lớn cao 170m, Hòn Sụp cao 215m.
Sách Gia Định thành thông chí (viết đầu thế kỷ 19) gọi núi Lớn là Thác Cơ Sơn, dáng như rồng xanh tắm biển, đứng nghiễm nhiên dựng làm ngọn nêu để chỉ rõ bờ bến cho tàu thuyền Nam Bắc qua lại, chặn đè sóng gió. Đầu ghềnh Thác Cơ Sơn thường có những con rái cá nên dân gian thường gọi là núi Ghềnh Rái. Sách Đại Nam nhất thống chí (viết giữa thế kỷ 19) nhấn mạnh sự quan yếu của núi làm bình phong ngoài cửa Cần Giờ”.
Dọc theo bãi trước về phía núi lớn, chúng ta luôn trông thấy hình ảnh một dinh thự màu trắng, mái ngói đỏ sừng sững trên sườn núi nổi bật trên nền xanh tươi của cây cỏ. Đấy chính là Bạch Dinh.
Bạch Dinh
Bạch Dinh được người Pháp xây dựng từ năm 1898 đến năm 1916 dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn Quyền Pháp Paul Doumer và được gọi là Villa Blanche theo tên cô con gái yêu của ông ta. Nghĩa tiếng việt của từ “Villa Blanche” lại trùng với dáng sắc bên ngoài của nó nên dân địa phương quen gọi là “Bạch Dinh” tức là biệt thự trắng.
Bạch Dinh nằm ở độ cao 27,7m mặt hướng ra biển, lưng tựa vào núi, dưới chân là biển. Khách du lịch có thể tắm ở Bãi Trước, Bãi Dâu, thả bộ trên đường Trần Phú vừa ngắm Bạch Dinh. Sau lưng là Núi Lớn, bao quanh một màu xanh của rừng Sứ và rừng Gia Tỵ giữa thiên nhiên tươi đẹp.
Bạch Dinh mang phong cách kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ 19. Mặt ngoài được trang trí những đường hoa văn cổ xưa vùng với những hình vẽ và những bức tượng thể hiện chân dung của các thánh thời Cổ Hi LạpTrước khi có Bạch Dinh, nơi đây làm pháo đài thành Phước Thắng (năm Minh Mạng thứ 20 nhà Nguyễn). Pháo đài này là nơi đã nổ phát súng đầu tiên (10.2.1859) vào hạm đội Pháp khi chúng tấn công Sài Gòn – Gia Định (bằng đường biển) và đã cản trở được bước tiến của quân Pháp trong 1 ngày đêm. Để xây dựng Bạch Dinh, 800/người tù lao động khổ sai trong suốt gần 10 năm trời. Sau này Bạch Dinh thuộc sự cai quản của Công sứ Nam Kỳ người Pháp. Đặc biệt từ ngày 12.9.1907 tới năm 1916, Bạch Dinh là nơi người Pháp dùng để giam lỏng vua Thành Thái, một vị vua yêu nước có tư tưởng chống Pháp. Từ năm 1926 Bạch Dinh là nơi vua Bảo Đại thường ghé nghỉ mát cùng với gia quyến của mình. Thời trước 1975 Bạch Dinh là nơi nghỉ mát của tổng thống của chế độ củ.
Ngày nay đến tham quan Bạch Dinh bạn còn có cơ hội ngắm nhìn bộ sưu tập gốm sứ thời nhà Thanh được vớt lên từ Hòn Cau rất có giá trị và nổi tiếng đang được bảo tàng tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trưng bày và giới thiệu tại đây.
Nằm phía Bắc dưới chân núi Lớn, Thích Ca Phật Đài là một di tích lịch sử văn hóa và là một thắng cảnh rất nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu. Du khách đến Thích Ca Phật Đài theo đường Lê Lợi, rẽ về đường Trần Phú hoặc từ đường Trần Phú bãi Trước theo đường ven biển đi qua bãi Dâu, tới địa phận Bến Đá là gặp Thích Ca Phật Đài.
Thích Ca Phật Đài
Thích Ca Phật Đài tọa lạc trên diện tích rộng chừng 5ha, phía dưới là Thiền Lâm tự phía trên là Thích Ca Phật Đài.
Vào khoảng năm 1957, nơi đây còn hoang sơ với ngôi chùa Thiền Lâm khiêm tốn. Năm 1962, Giáo hội Phật giáo lập đồ án xây dựng Thiền Lâm tự thành Thích Ca Phật Đài. Sau hơn một năm xây dựng, tháng 3-1963, Thích Ca Phật Đài được khánh thành. Không giống với những ngôi chùa Phật giáo khác, điểm đặc biệt trong kiến trúc của Thích Ca Phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca gắn liền hài hòa với cảnh quan núi Lớn. Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài như một vầng trăng khuyết chia thành ba cấp theo hình tháp, cao dần từ 3m đến 29m so với mực nước biển. Cấp 1 là Tam quan và khu vườn hoa. Cấp 2 là khu nhà mát và nhà trưng bày truyền thống. Cấp 3 là Thiền Lâm tự và khu Phật tích, bao gồm các công trình kiến trúc-điêu khắc.
Tượng hài nhi đứng trên bông sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất thể hiện Đức Phật đản sinh.
Thể hiện cảnh Thái tử từ giả cuộc sống vương giả xuất gia gồm các tượng Thái tử cắt tóc, người hầu Chana, Bạch Mã. Tiếp theo là các tượng Thái tử tu luyện và đắc đạo-Kim Thân Phật Tổ cao 11,6 mét, bên trong có 3 viên ngọc xá lợi của Đức Phật. Nhà Bát giác có các tượng tượng trưng Đức Phật truyền đạo: Phật Thích Ca ngồi trên toà sen, các đạo sĩ ngồi nghe thuyết pháp. Tiếp theo là quần thể tượng voi, khỉ dâng hoa quả cho Đức Phật. Bảo Tháp Thích Ca Mâu Ni cao 17m, trên có búp sen, bên trong đặt 13 viên xá lợi Đức Phật. Tượng Phật nhập Niết bàn quay về hướng Tây, cao 2,4m, dài 12,2m, bên dưới 9 tỳ khưu đứng chắp tay.

I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN TÂY NAM BỘ
1) ĐỊA LÝ
Diện tích: 40.604,7 km².
Dân số: 17.415.500 người.
Vùng Tây Nam Bộ bao gồm các tỉnh, thành phố: Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau.
Phía đông của vùng giáp biển Đông; phía tây giáp Cambodia (Việt Nam có 4 tỉnh giáp Cambodia ở miền Tây Nam Bộ: An Giang, Kiên Giang, Long An, Đồng Tháp); phía nam giáp vịnh Thái Lan; phía bắc giáp Đông Nam Bộ.
Địa hình có 2 dạng chính: Đất giồng (gò) được bồi lắng bởi các dòng sông cổ, bị sóng biển đánh hình thành hàng triệu năm về trước. Đa số là đất cát tập trung ở vùng duyên hải: Ở Cần Đuốc, Cần Giuộc (Long An), Gò Công (Tiền Giang), Ba Chi (Bến Tre),… phù hợp trồng hoa màu, củ lang,… Và đã hình thành văn minh miệt vườn (phương thức tối ưu để có cơ sở tốt hơn như: dưới ao thả cá, trong nhà nuôi lợn, trên đất gò trồng hoa màu,…). Đất trũng thường gặp nước vào mùa mưa tập trung ở lưu vực sông Mêkông được phù sa bồi lắng hằng năm phù hợp trồng lúa, các loại thủy sản, cá, sen, súng,… Hình thành văn minh sông nước như Gò Nổi.
Thổ nhưỡng: Đa số là đất phù sa mới được bồi lắng bởi sông Mêkông qua hàng triệu năm; và hiện nay vẫn tiếp tục được bồi lắng. Mỗi năm bồi dài ra cho mũi Cà Mau, trung bình 100m. Riêng ở vùng đất giồng gần biển, trên mặt là đất cát, dưới chân là đất phù sa cổ, đất sét. Có một vùng trũng là Đồng Tháp Mười, là túi chứa, điều hòa nước lũ thứ hai sau biển Hồ Tônlesáp (lũ ở đồng bằng sông Cửu Long là lũ hiền nên người dân đã quen “ sống chung với lũ”).
Khí hậu: giống vùng Đông Nam Bộ, đặc biệt mùa lũ từ tháng 9, 10.
Sông ngòi khá chằng chịt. Sông Mêkông dài 4.220m, bắt nguồn từ cao nguyên Tây Tạng (Vân Nam – Trung Quốc), chảy qua 6 nước: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campodia, Indonexia, và Việt Nam. Là con sông dài thứ 13 trên thế giới. Khi vào lãnh thổ Việt Nam chia thành hai nhánh: sông Tiền (chảy ra 6 cửa), sông Hậu (chảy ra 3 cửa) tạo thành sông Cửu Long. Đây là vựa lúa lớn nhất Đông Nam Á. Giúp Việt Nam xuất khẩu gạo hàng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Thái Lan.
Giao thông vận tải: do sông rạch chằng chịt nên ghe thuyền (vận tải thủy) là chủ yếu. Hệ thống quốc lộ nối liền các tỉnh, huyện nhìn chung chưa tốt và còn bất cập. Đường hàng không có sân bay Trà Rốc (Cần Thơ), Rạch Sỏi – Rạch Giá, sân bay Phú Quốc, sân bay Cà May. Có cảng sông Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Gía, cảng sông Mỹ Tho.
Tài nguyên du lịch: nổi tiếng là các khu chợ nổi trên sông còn khá đơn sơ: Cái Bè, Cái Răng, Phụng Hiệp. Mô hình nhà vườn tiêu biểu cho phong cách sống của người dân Nam Bộ. Đồng bằng sông Cửu Long quanh năm chan hoà ánh nắng, có những tràm chim, vườn cò, những vườn cây ăn trái bạt ngàn, đặc biệt là không khí trong lành trên các cù lao giữa sông Mê Kông.
2) LỊCH SỬ
Thời cổ đại nơi đây bị chìm trong lòng biển, bằng chứng là tại khu vực Hòn Chồng – Kiên Giang, người ta phát hiện “dấu xâm thực” cách đây khoảng 2 triệu năm, nước biển đã ăn mòn chân núi đá vôi cao 2- 4m so với mặt đất ngày nay.
Cách đây khoảng 10.000 năm, nước biển rút khỏi đây để lại đồng bằng Mêkông.
Cách nay khoảng 2.000 năm (đầu Công nguyên) có người Phù Nam từ vùng Cambodia ngày nay tràn xuống định cư lập nên vương quốc Phù Nam nổi tiếng với cảng thị Óc Eo (huyện Thoại Sơn – An Giang) buôn bán, giao thương đến tận Địa Trung Hải. Vương quốc này tồn tại đến thế kỷ VI thì biến mất, vì tương truyền rằng cư dân vùng đảo Mã Lai ngày nay thường xuyên sang đây cướp bóc,…
Từ thế kỷ XVI người Chân Lạp (Chen-la) đến định cư. Thế kỷ XVII, bắt đầu có ngư dân Việt đến lập nghiệp (1698). Từ đây đồng bằng miền tây được khai thác triệt để: nhiều kênh đào được thiết lập như: kênh Thoại Hà (từ Châu Đốc đến Thoại Sơn), kênh Vĩnh Tế (từ Châu Đốc đến Hà Tiên)-1824. Chính thức biên giới Đại Việt đã đến đây kéo dài từ Lạng Sơn (nhà Nguyễn quản lý hành chính miền Tây Nam Bộ).
Năm 1867, Pháp hạ đồn Vĩnh Long, Phan Thanh Giản “tuẫn tiết”, Pháp chính thức chiếm được 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ (Nam Kỳ lục tỉnh: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên).
Người Pháp đã đô hộ vùng gần 100 năm. Quy hoạch, xây dựng hệ thống kênh, rạch khoa học giúp tăng sản lượng gấp 100 lần, giao thông thuận tiện, các đô thị mới nằm trên trục đường huyết mạch góp phần đưa miền Tây lên văn minh.
Chính giai đoạn này, văn hóa Pháp ảnh hưởng sâu rộng đến cuộc sống người miền Tây. Nhiều từ ngữ được mượn từ tiếng Pháp như: ghi đông, lơ xe, cu li, bến phà,… và nhiều văn hóa khác cũng bị ảnh hưởng.
Từ 1954 – 1975, miền tây dưới thời Mỹ nhiều ấp chiến lược ra đời, dân cư chia làm hai nhóm rõ rệt: thoát ly theo cách mạng và ở trong các đô thị chính quyền Sài Gòn.
Có trận Ấp Bắc nổi tiếng (1963) vì là lần đầu tiên quân và dân Nam Bộ chiến đấu lại được vũ khí hiện đại của Mỹ. Riêng trên sông Tiền đoạn qua Mỹ Tho có trận đánh lịch sử chống quân Xiêm do Nguyễn Huệ chỉ huy: Rạch Gầm – Xoài Mút.
3) NHÂN VĂN
Do đây là vùng đất mới, nhiên nhiên ưu đãi, trù phú, cách xa trung tâm phong kiến nên người Nam Bộ chất phác, mộc mạc, phóng khoáng, “trọng nghĩa khinh tài”. Người miền Tây rất yêu thích cải lương vì nó giải bày được nỗi niềm. Cải lương là loại hình sân khấu đặc trưng của sông nước Cửu Long. Nhiều làn điệu dân ca cũng được sinh ra ở đây như các điệu lý, các bản nhạc, các điệu múa của người Khmer cũng sinh ra tại đây. Người miền Tây thích ăn ngọt, mặc áo bà ba, đội khăn rằng, thông thạo về sông nước, thích uống rượu. Văn chương không cầu kỳ. Văn hóa ứng xử ảnh hưởng các cộng đồng anh em: Hoa, Khơme. Nhiều nhân vật nổi tiếng: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Lưu Hữu Phước, Phan Văn Trị, Trần Đại Nghĩa, Tôn Đức Thắng, Nam Phương hoàng hậu, bà Từ Dũ, bác Ba Phi,…
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Các chuyên đề về ẩm thực miền Tây: Lẩu mắm, thịt đồng: rùa, rắn, dơi,…, bánh Pía, nam Lai Vung, bánh phồng tôm Châu Giang (Sa Đéc),… Các loại trái cây: Xoài cát Hòa Lộc, sầu riêng cái mơn, bưởi 5 roi, nhãn xuồng, nhãn da bò, vú sữa Vĩnh Kim. Lễ hội Bà Chúa Xứ, Óc-om-bók – cúng trăng rằm tháng 8 (Trà Vinh – Sóc Trăng), Chol-thnăm-thmây, Dolta (cúng tổ tiên vào tháng 10), ghe Ngo, lễ hội Nguyễn Trung Trực (Rạch Gía), lễ hội Rạch Gầm – Xoài Mút (Mỹ Tho), lễ hội đua bò ở Tri Tôn – An Giang. Các làng nghề nổi tiếng: Làng chiếu Định Yên – Lấp Vò – Đồng Tháp. Nghề đóng xuồng ở Phụng Hiệp, mắm Thái, mắm cá linh, mắm ba khía, nghề làm rượu Gò Đen – Phú Lễ. phong tục uống rượu, lễ giỗ, cưới, ma chay. Chuyên đề về người Hoa, người Khơ me, Phật giáo Tiểu Thừa (cộng đồng Khơ me ở miền Tây khoảng 1 triệu người, chủ yếu là làm nông, người Hoa sống ở các thành thị và buôn bán. Chuyên đề về lũ lụt miền Tây trồng lúa, xuất khẩu gạo, thủy hải sản.

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ
1. TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
SƠ ĐỒ TUYẾN DU LỊCH ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Đầu tiên từ trung tâm thành phố chúng ta đến con đường Hùng Vương nối dài thuộc địa phận của quận 6, tới vòng xoay Phú Lâm, sau đó đi qua công viên Phú Lâm- trung tâm văn hóa của Quận 6; và bến xe miền Tây để đến với ngã 3 An Lạc rồi đi theo quốc lộ 1A để bắt đầu chuyến đi.
Quận 6
Quận 6 là Quận ven ngoại thành, nằm về phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh, gồm 14 phường (74 Khu phố, 1293 tổ dân phố) với tổng diện tích tự nhiên là 7,14 km2, chiếm 0,34% tổng diện tích tự nhiên của toàn Thành phố. Dân số hiện nay của Quận là 247.000. Với vị trí địa lý là cửa ngõ phía Tây của Thành phố Hồ Chí Minh, có chợ đầu mối Bình Tây là trung tâm bán buôn lớn của cả nước, do đó thế mạnh của Quận là thương mại dịch vụ, trong đó chủ yếu là buôn bán thực hiện trao đổi sản phẩm với các tỉnh miền Tây Nam bộ
Đi hết quận 6 chúng ta sẽ tới huyện Bình Chanh
Huyện Bình Chánh
Huyện Bình Chánh là một huyện ngoại thành của Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2003, Thị trấn An Lạc, các xã Bình Hưng Hòa, Bình Trị Đông, Tân Tạo được phân chia và lập thành 10 phường của Quận Bình Tân. Hiện Bình Chánh có 16 xã, thị trấn.
Tại ngã 3 An Lạc nếu chạy theo xa lộ Đại Hàn thì chúng ta sẽ đến An sương, còn đi theo quốc lộ 1A chúng ta sẽ tới một só tỉnh thuộc miền tây Nam Bộ.
Quốc lộ 1A
Quốc lộ 1A hay Đường 1 là đường giao thông xuyên suốt Việt Nam. Quốc Quốc lộ 1A bắt đầu (km 0) tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan trên biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nó kết thúc tại điểm cuối km 2301 + 340m tại thị trấn Năm Căn huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau.
Quốc lộ có tên này để phân biệt với Quốc lộ 1B là đường rẽ từ Quốc tại thị trấn Đồng Đăng đi về thành phố Thái Nguyên, để phân biệt với D mới được xây dựng năm 2001 là tuyến đường tránh đèo Cù Mông giáp ranh giữa 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên và đi vào nội thành thành phố Qui Nhơn. Chiều dài toàn tuyến D là 35 km
Chiếc cầu đầu tiên chúng ta sẽ đi qua đó là cầu Bình Điền bắc qua con rạch chợ đêm. Tiếp tục đi thẳng các bạn nhìn về bên trái là đại lộ Nguyễn Văn Linh hay còn gọi là đại lộ Nam Sài Gòn.
Đại Lộ Nam Sài Gòn
Ngày 30/12/2007, Công ty Liên doanh Phú Mỹ Hưng đã khánh thành toàn bộ công trình đại lộ Nguyễn Văn Linh còn được gọi là đại lộ Nam Sài Gòn, một tuyến đường huyết mạch chia sẻ lưu lượng lưu thông từ các tỉnh Miền Tây vào TP.HCM với tuyến quốc lộ 1A. Tổng vốn đầu tư của toàn dự án khoảng 100 triệu USD.
Từ tháng 12.1996, đại lộ Nguyễn Văn Linh đã được xây dựng như là một đường giao thông đô thị lớn nhất TP.HCM với chiều dài 17,8km (nối từ đường Huỳnh Tấn Phát – Q.7 đến giao với QL 1A – Bình Chánh), được quy hoạch lộ giới 120 m, gồm 10 làn xe, 10 cây cầu. Trong số các cây cầu trên đại lộ Nguyễn Văn Linh có 3 cây cầu Cần Giuộc, Ông Lớn và cầu Xóm Củi lần đầu tiên tại Việt Nam áp dụng công nghệ thiết kế dạng vòm của Thuỵ Sĩ với nhịp giữa của cầu dài đến 99m mà không có trụ cầu dưới sông, phát huy tối đa điều kiện đảm bảo an toàn giao thông thuỷ.
Sau 11 năm xây dựng, đại lộ Nguyễn Văn Linh hoàn thành đưa vào sử dụng góp phần phát triển kinh tế xã hội khu Nam thành phố, kết nối với những công trình trọng điểm như: KCX Tân Thuận, khu đô thị Phú Mỹ Hưng, KCN Hiệp Phước, khu đô thị cảng Hiệp Phước…
Phú Mỹ Hưng
Phú Mỹ Hưng phát triển 750 ha trong 5 cụm phát triển: Trung tâm đô thị mới Phú Mỹ Hưng (Khu A – 409ha), Làng Đại Học (Khu B – 95ha), Trung tâm Kỹ Thuật Cao (Khu C- 46ha), Trung tâm Lưu Thông Hàng Hóa I & II (Khu E & Khu D – 115ha và 85ha).Đô thị mới Phú Mỹ Hưng (PMH) được quy hoạch thành một cộng đồng dân cư quốc tế hiện đại, có thể cung cấp cho TP.HCM các cơ sở hạ tầng cần thiết, các tiện ích thương mại, dân cư, giải trí, y tế, văn hóa giáo dục … nhằm đáp ứng cho lượng dân số gia tăng đến 10 triệu người trong thập kỷ tới. Là bước đầu của chương trình mở rộng TP.HCM về hướng nam, tiến ra biển đông theo xu hướng các đô thị lớn trên thế giới, việc phát triển đô thị mới PMH sẽ là một yếu tố quan trọng trong kế hoạch phát triển toàn diện khu tam giác kinh tế trọng điểm miền nam gồm TP.HCM – Đồng Nai – Bà Rịa Vũng Tàu, để hình thành một trung tâm đô thị có đầy đủ chức năng về tài chính, thương mại, cư trú, văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật cao và du lịch quốc tế ở Việt nam.
Đô thị Phú Mỹ Hưng xây dựng theo quy hoạch tổng thể ngay từ đầu sẽ trở thành trung tâm thương mại tài chính Quốc tế hấp dẫn nhất Đông Nam Á.
Trong chuyến đi này chúng ta sẽ đi qua một số chợ và chợ đầu tiên mà chúng ta đi ngang qua đó là chợ Bình Chánh.
Hết huyện Bình Chánh, thì sẽ đến với tỉnh đầu tiên của các tỉnh miền Tây Nam Bộ đó là tỉnh Long An.
Tỉnh Long An
Có diện tích 4.338 km2, với 1.300.100 người.
Tỉnh Long An tiếp giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Tây Ninh về phía Đông, giáp với Campuchia về phía Bắc, giáp với tỉnh Đồng Tháp về phía Tây và giáp tỉnh Tiền Giang về phía Nam.
Long An hấp dẫn khách du lịch chủ yếu do giá trị nhân văn của nền văn hóa ốc Eo, một nền văn hóa đã hình thành và phát triển ở châu thổ sông Cửu Long từ thế kỷ thứ nhất đến thứ 6 sau Công nguyên do tiếp nhận tinh hoa văn hóa ấn Ðộ. Ở Long An có gần 20 di tích tiền sử và gần 100 di tích văn hóa ốc Eo được phát hiện, thu thập 12 nghìn hiện vật. Long An còn có trên 40 di tích lịch sử cách mạng, kiến trúc và danh lam thắng cảnh quan trọng như: Cụm di tích Bình Tả (Ðức Hòa), di tích lăng mộ và đền thờ Nguyễn Huỳnh Ðức (thị xã Tân An), di tích lịch sử Văn Nhựt Tảo, di tích đồn Rạch Cát, ngôi nhà trăm cột (ấp Trung, xã Long Hiệu Ðông, huyện Cần Ðước), di tích lịch sử khu vực Ngã tư Ðức Hòa.
Đời vua Minh Mạng đổi các trấn thành sáu tỉnh Định Tường, Biên Hòa, Gia Định, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Sau khi Pháp chiếm trọn miền Nam, chúng đổi sáu tỉnh thành 21 tỉnh, tỉnh Định Tường mất tên để thành lập ba tỉnh mới là Tân An, Mỹ Tho và Gò Công. Đất Long An thuộc tỉnh Tân An.
Một sản phẩm khá nổi tiếng nơi đây đó chính là rượu Gò Đen
Gò Đen (Rượu Đế)
Rượu Gò Đen là tên một loại rượu trắng, nấu từ gạo theo phương pháp cổ truyền, có nồng độ rất cao, có thể lên đến 50 độ cồn. Loại rượu dân tộc nổi tiếng Việt Nam này được nấu ở địa danh Gò Đen, Bến Lức, tỉnh Long An. Đây là một đặc sản của Long An nói riêng và các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.Được nấu bằng nếp mỡ,nếp than hoặc gạo.
Thị Trấn Bến Lức
Là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Long An, cách Sài Gòn 35 dặm về hướng nam. Bến Lức nằm trên quốc lộ 4, nửa dặm về hướng tây của cầu Bến Lức, cây cầu bắc ngang con sông Vàm Cỏ-một nhánh của sông Cửu Long. Trên quốc lộ 4 đi về các tỉnh miền tây như Long An, Mỹ Tho, Cần Thơ, Bắc Mỹ Thuận, Bạc Liêu và Cà Mau thì phải đi qua cây cầu này.Thơm Bến Lức là một đạc sản nổi tiếng, đến nơi đây các bạn dừng bỏ lở dịp thưởng thức nhé. Chắc hẳn mỗi dịp đi qua đây chắc ai cũng một lần thưởng thức Thơm Bến Lức để cảm nhận cái vị ngọt thanh thanh của nó.
Ngay thị trấn, phía bên phải các bạn sẽ thấy thánh thất Cao của đạo Cao Đài và cách đó không xa là cây cầu Bến Lức bắc ngang qua con sông Vàm Cỏ Đông
Sông Vàm Cỏ Đông
Sông Vàm Cỏ Đông là tên một con sông chảy qua tỉnh Long An và Tây Ninh. Sông Vàm Cỏ Đông chảy từ biên giới Campuchia tại xã Biên Giới, huyện Châu Thành rồi qua các huyện Bến Cầu, Hòa Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng. Chiều dài hơn 150 km.Tại Tây Ninh, Vàm Cỏ Đông chảy từ phía tây bắc hướng Bến Cầu có cảng Bến Kéo qua Gò Dầu Hạ, rồi xuôi hướng đông nam chảy qua thị trấn Bến Lức của tỉnh Long An. Sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây hợp lưu vào cửa Soài Rạp đổ ra biển. Vì có nhiều nhánh sông nhỏ của Vàm Cỏ Đông nên nó rất thuận tiện cho việc lưu thông bằng đường thủy để vận chuyển hàng hóa từ các nơi về Tây Ninh hay ngược lại từ Tây Ninh đến những nơi khác (chủ yếu là các tỉnh ở Đồng bằng sông Cửu Long), điển hình là tại cảng Bến Kéo (huyện Hòa Thành) rất tấp nập.
Tiếp theo chúng ta sẽ đi qua huyện Thủ Thừa của tỉnh Long An.
Huyện Thủ Thừa
Huyện Thủ Thừa có diện tích tự nhiên 29.901 ha, cách thị xã Tân An 10 Km và cách thành phố Hồ Chí Minh 45 km. Ranh giới hành chính huyện Thủ Thừa cụ thể như sau: Phía Bắc giáp huyện Đức Huệ, phía Đông giáp huyện Bến Lức và Tân Trụ, phía Tây giáp huyện Thạnh Hóa và tỉnh Tiền Giang, phía Nam giáp thị xã Tân An.
Qua cầu Voi và đi thêm một đoạn nửa thì các bạn sẽ tới thị xã Tân An
Thị Xã Tân An
Tân An là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Long An. Tân An chính thức nâng cấp từ thị xã lên đô thị loại III ( thành phố) vào ngày 19 tháng 4 năm 2007.
Thành phố có 9 phường với tổng diện tích tự nhiên là 81,79 km² (trong đó diện tích nội thị là 12,416 km²), dân số theo số liệu điều tra ngày 1 tháng 1 năm 2007 là 121.500 người.Nằm trên Quốc lộ 1A, cách Thành phố Hồ Chí Minh 50 km về phía Tây Nam. Thị xã này nằm bên hữu ngạn sông Vàm Cỏ Tây. Thị xã Tân An nằm về phía Tây Nam Thành phố Hồ Chí Minh, cách trung tâm thành phố 47 km và có ranh giới với các đơn vị hành chính như sau: phía Bắc giáp huyện Thủ Thừa; phía Đông giáp huyện Tân Trụ và huyện Châu Thành; phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Tiền Giang
Tiếp tục chuyến đi, chúng ta sẽ đi qua cầu Tân An(mới), chiếc cầu bắc qua sông Vàm Cỏ Tây
Sông Vàm Cỏ Tây
Sông Vàm Cỏ Tây chảy qua tỉnh Long An rồi hợp lưu với Sông Vàm Cỏ Đông và hệ thống Sông Đồng Nai tại cửa Soài Rạp. Thị xã Tân An của tỉnh Long An nằm bên hữu ngạn con sông này.
Đi thêm một đoạn nữa thì chúng ta gặp quốc lộ 62 cắt ngang quốc lộ 1A. và nếu rẽ phải thì sẽ tới Mộc Hóa. Vẫn đi trên quốc lộ 1A, ben tay phải là nhà máy nước khoáng La vie
La vie
Thành lập tháng 9/1992, La Vie là công ty liên doanh giữa Perrier Vittel – Pháp (sở hữu 65% vốn), thuộc tập đoàn Nestlé, một công ty hàng đầu thế giới trong ngành nước đóng chai và công ty thương mại tổng hợp Long An Việt Nam.
La Vie lần đầu tiên được đưa ra thị trường vào tháng 7 năm 1994 và đã nhanh chóng phát triển thành nhãn hiệu dẫn đầu trong ngành nước đóng chai tại Việt Nam. La Vie là nhãn hiệu nước đóng chai duy nhất có mặt trên toàn quốc.
La Vie là công ty nước giải khát đầu tiên tại Việt nam đạt chứng nhận tiêu chuẩn quốc tế ISO 9002 về đảm bảo chất lượng năm 1999
Nước khoáng thiên nhiên La vie được lấy từ nguồn nước khoáng sâu được bảo vệ trong lòng đất. Ở đó nó dược lọc qua nhiều tầng địa chất giàu khoáng chất, hấp thụ muối, các yếu tố vi lượng như calmium, magie, potassium, sodium, bicarbonate. La vie không những cung cấp nước cho cơ thể của bạn mà còn với hàm lượng khoáng ổn định nó còn cung cấp cho cơ thể những khoáng chất cần thiết để có sinh lực khỏe mạnh.
Chạy thêm một đoan nữa cũng về bên phải là lăng Nguyễn Huỳnh Đức
Lăng Nguyễn Huỳnh Đức
Ông có tên thật là Huỳnh Tường Đức, sinh năm 1748 tại làng Tường Khánh- huyện Kiến Hưng (nay là xã Khánh Hậu – Thị xã Tân An) trong một gia đình võ tướng đã 3 đời. Ông theo phò Nguyễn Ánh từ năm 1780 lập nhiều công trạng lớn, được ban họ vua và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Chưởng Hậu Quân, Chưởng Tiền Quân, Tổng Trấn Gia Định Thành, Tổng Trấn Bắc Thành, tước Quận Công. Tương truyền ông là người trung cang, nghĩa khí, võ nghệ cao cường, mọi người đều gọi là ”Hổ tướng”. Ông mất vào ngày 9/9/1819, được dân gian xem như một vị thần. Hằng năm vào 3 ngày 7-8-9 / 9 âm lịch, nhân dân trong vùng tề tựu cùng gia tộc làm lễ cúng ông hết sức trọng thể. Truyền thống này đã được kế tục từ năm 1819 cho đến nay.
Đến tham quan di tích lăng Nguyễn Huỳnh Đức chúng ta được chiêm ngưỡng nghệ thuật kiến trúc lăng mộ đầu đời Nguyễn và những cổ vật quý giá cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Ta còn được biết đến cuộc đời và sự nghiệp của một ”Hổ tướng” lừng danh đất Ba Giồng và cũng là người có công khai phá Giồng Cai Én (Khánh Hậu), được nhân dân tôn thờ như một vị Tiền Hiền. Với những ý nghĩa ấy, ngay từ đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa đã liệt hạng lăng Nguyễn Huỳnh Đức là 1 trong 404 cổ tích ở Đông Dương. Bộ Văn hóa Thông tin nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng đã ra quyết định công nhận lăng Nguyễn Huỳnh Đức là di tích Quốc gia ngày 11/5/1993 (số quyết định 534-QĐ/BT).
Đây là điểm tham quan cuối cùng của tỉnh Long An trước khi chúng ta đến với tỉnh Tiền Giang. Bước vào ngay đầu tỉnh Tiền Giang chúng ta sẽ đi qua chiếc cầu Tân Hương
Tỉnh Tiền Giang
Diện tích 2.366,63 km2 với dân số là 1.681.558(năm2004)
Tiền Giang là một trong các tỉnh thuộc trung tâm của vùng đồng bằng sông Cửu Long . Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Tiền Giang cũng gắn liền với sự hình thành của cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Khoảng năm 1623, vùng đất này đã có cư dân sinh sống nhưng chính thức được ghi nhận sau khi Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh được lệnh của chúa Nguyễn vào năm 1698 vào chính thức khai phá vùng đất phía Nam của tổ quốc.
Huyện Châu Thành là huyện đầu tiên của tỉnh Tiền Giang mà chúng ta sẽ đi qua.
Huyện Châu Thành
Châu Thành là một huyện thuộc tỉnh Tiền Giang. Huyện nằm ở giữa tỉnh Tiền Giang, phía nam là con sông Tiền, phía đông là thành phố Mỹ Tho, đông bắc là huyện Chợ Gạo, phía tây là huyện Cai Lậy, phía bắc là huyện Tân Phước.
Huyện có diện tích 255km2 và dân số là 243.000 người (năm 2004). Huyện ly là thị trấn Tân Hiệp nằm trên đường quốc lộ 1A cách Thành phố Mỹ Tho 10km về hướng bắc và cách Thị xã Tân An 15km về hướng tây nam. Nằm tiếp giáp tỉnh Long An và có con đường quốc lộ 1A chạy ngang, từ lâu Tân Hương (Châu Thành) được xem như cửa ngõ tỉnh Tiền Giang và cả miền Tây Nam Bộ phì nhiêu trù mật. Nơi đây từng ghi dấu những trang sử quật khởi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã qua, giờ tiếp tục đi đầu trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn tại tỉnh Tiền Giang.
Trong chuyến đi này chúng ta cũng sẽ đi qua trường đại học Tiền Giang nằm bên trái theo hướng đi của quốc lộ 1A.
Đại Học Tiền Giang
Trường Đại học Tiền Giang (ĐHTG) được thành lập ngày 6/6/ 2005, trên cơ sở sáp nhập và nâng cấp từ hai Trường Cao đẳng Sư phạm Tiền Giang và Cao đẳng Cộng đồng Tiền Giang. Trường ĐHTG là trường công lập, đào tạo đa cấp, đa lĩnh vực, hướng ứng dụng – nghề nghiệp, chủ yếu phục vụ sự phát triển các tỉnh khu vực Bắc sông Tiền thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu long. Sự ra đời của trường ĐHTG được xem là giải pháp tối ưu cho việc tạo ra nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao đồng thời góp phần nâng cao mặt bằng giáo dục cho các tỉnh thuộc vùng Bắc sông Tiền nói riêng và các tỉnh thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
Tiếp tục chuyến đi chúng ta sẽ đi qua một ngả 3 mà nếu rẽ tại ngã 3 này thì sẽ đến Gò Công.
Gò Công
Gò Công thuộc tỉnh Tiền Giang. Thời Tự Đức là một huyện của tỉnh Gia Định (huyện Tân Hòa), thời Pháp thuộc qui hoạch làm một tỉnh kèm theo cơ chế với tòa Bố, tòa Án. Dầu phân bố về mặt hành chánh như thế nào, du khách đến Gò Công cũng nhận là một khu vực độc đáo, với dòng họ xưa, nếp sống thuần VN, nhiều nhân vật nổi tiếng về khoa bảng.ngư dân, không phải vì bãi biển trơn láng, kiểu giải thích gượng ép.
“Gò” là vùng đất cao ráo. “Công” là con công đến đậu, loài chim đẹp, thích múa, xòe lông đuôi. Ở Thủ Đức (thành phố Hồ Chí Minh) có một nơi cũng gọi Gò Công, nhưng Gò Công của Thủ Đức là Gò Công Trao Trảo, tên một loài chim rừng.
Gò Công khá thuận lợi để giao lưu với Sài Gòn, chỉ cần qua chiếc phà là đến Cầu Nổi. Thời Pháp mới đến, đồng bào ta ngạc nhiên vì kỹ thuật của Tây Phương, bến phà có thể dâng lên hay hạ xuống theo nước lớn ròng chớ không ở mức cố định.
Gò Công được nổi danh là “địa linh nhân kiệt” từ xưa, với Võ Tánh. Viên tướng gan lì, lúc Nguyễn Ánh và Tây Sơn tranh chấp thì án binh bất động, không theo bên nào, lợi dụng địa thế hiểm trở của những giồng đất (đặc biệt là Giồng Tre) để lập khu vực riêng.
Di tích lịch sử mà mọi giới, luôn cả người Tây Phương thích tham quan là lăng miếu của anh hùng miền Nam là Trương Định. Trương Định gốc Quảng Ngãi, là con quan lãnh binh, vào Gò Công lập đồn điền để khẩn hoang vùng đất thấp ven biển. Ông có tài tổ chức, đồn điền của ông là khuôn mẫu hoàn chỉnh thi hành chính sách “tay giáo, tay cày”, “động vi dân, tịnh vi binh”. Người khẩn hoang lúc rảnh rang lo luyện tập quân sự, kiểu dân quân, nhằm canh giữ trộm cướp và chống ngoại xâm. Hằng năm, khi thao dượt, dân đồn điền từ các tỉnh qui tụ về Sài Gòn, dân đồn điền Gia Thuận của Trương Định luôn luôn được khen ngợi.
Thắng cảnh Gò Công rất ít, nhưng du khách không thể bỏ qua bãi biển Tân Thành, khá tốt, dành làm nơi nghỉ mát cho học sinh nhưng đồng bào mọi giới đến đây vẫn thấy thoải mái với biển rộng trời xanh, ít tốn kém mà được thưởng thức nhiều hải sản còn tươi. Từ đây, nhìn thấy núi ở Vũng Tàu.
Nghề truyền thống của Gò Công nay hãy còn nổi danh khắp Nam Bộ, được nhiều địa phương khác mô phỏng vẫn là đóng tủ thờ.
Trên đường đi tới Gò Công, nhìn về bên phải là mộ Thủ Khoa Huân
Mộ Thủ Khoa Huân
Ngày 15 tháng 4 (âm lịch) năm Ất Hợi, tức ngày 19 tháng 5 năm 1875, tại Ngã tư Giáp Nước (xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo ngày nay), giặc Pháp đã xử trảm một con người ưu tú của làng Tịnh Hà, của huyện Kiến Hưng và của cả tỉnh Ðịnh Tường – đó là Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân, một lãnh tụ xuất sắc của phong trào nghĩa quân kháng Pháp ở nước ta, hồi nửa sau thế kỷ XIX.
Nguyễn Hữu Huân sinh năm 1830 tại làng Tịnh Hà, tổng Thanh Quơn, huyện Kiến Hưng, tỉnh Ðịnh Tường cũ, nay là xã Mỹ Tịnh An, huyện Chợ Gạo, tỉnhTiền Giang. Con của ông Nguyễn Hữu Cầm, tục gọi là ông Cả Cầm, một nông dân khá giả của làng Tịnh Hà. Từ khi còn bé, ông nổi tiếng là thông minh và khảng khái. Năm Nhâm Tý (1852) dưới triều vua Tự Ðức, ông dự thi Hương tại Gia Ðịnh và đậu Thủ khoa (đứng đầu cử nhân) nên được gọi là Thủ Khoa Huân. Trong các hàng khoa mục ở Nam kỳ lúc bấy giờ, ông là người đỗ sớm hơn hết. Sau khi đỗ, được triều đình bổ chức Giáo thọ (như chức Ðốc học) huyện Kiến Hưng, tỉnh Ðịnh Tường.
Năm 1995, nhân kỷ niệm 120 năm ngày Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân hy sinh, tỉnh Tiền Giang cho khánh thành đền thờ Nguyễn Hữu Huân tại khu vực mộ của ông. Ðền thờ chỉ cách mộ khoảng 10 mét, trên khu đất được đắp lên cao. Mộ được nâng cấp, đền thờ pha nét hiện đại. Cổng tam quan có mái ngói, được đắp những câu trong bài thơ “Mang gông”. Hàng rào có trụ bê-tông song sắt kiên cố.
Ðường đến mộ và đền thờ Thũ Khoa Huân khá thuận tiện. Từ quốc lộ Một, tới địa phận xã Tân Lý Tây của huyện Châu Thành, hỏi Ngã ba Hòa Tịnh, theo đường vào ủy ban xã Hòa Tịnh, đi tiếp chừng 400 mét, có đường đến mộ cụ Thủ Khoa, du khách hỏi người dân địa phương, ai cũng biết
Mộ Thủ Khoa Huân được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích Quốc gia, ngày 15 tháng 6 năm 1987.
Quay lại với quốc lộ 1A chúng ta sẽ đi qua ngã 3 trung Lương. Ngay góc ngã 3 là nhà hàng Trung Lương. Ngã 3 này là điểm giao cắt giữa quốc lộ 1A với quốc lộ 50. đi theo quốc lộ 50 chung ta sẽ tới thành phố Mỹ Tho và thị xã Gò Công.
Thành Phố Mỹ Tho
Thành phố Mỹ Tho hiện là đô thị loại II, trực thuộc tỉnh Tiền Giang (được Thủ tướng Chính phủ công nhận vào ngày 07 tháng 10 năm 2005), nằm ở bờ bắc hạ lưu sông Tiền. Phía đông và bắc giáp huyện Chợ Gạo, phía tây giáp huyện Châu Thành, phía nam giáp sông Tiền và tỉnh Bến Tre, có diện tích tự nhiên 49,98 km2, trong đó phần diện tích nội thị là 9,17 km2. Dân số thường trú và tạm trú khoảng 215.000 người, có 15 đơn vị hành chính cơ sở (gồm 11 phường và 04 xã).
Thành phố Mỹ Tho có lịch sử hình thành khá sớm. Từ năm 1623 – một bộ phận người Việt từ Miền Bắc và Miền Trung vào lập nghiệp ở vùng tả ngạn sông Bảo Định (Phường 2, 3, 8 và xã Mỹ Phong, Đạo Thạnh, Tân Mỹ Chánh, hiện nay còn di tích lưu lại), chủ yếu sống bằng nghề nông và buôn bán. Vào cuối thế kỷ 17, Nam Bộ có hai trung tâm mua bán lớn là Mỹ Tho và Biên Hòa. Thế mạnh của phố chợ Mỹ Tho là mua bán, đặc biệt là hàng nông thủy sản rất dồi dào, chiếm ưu thế cả vùng. Từ đó đến nay, Mỹ Tho đã không ngừng phát triển, mặc dù đã trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, nhất là đối với ngành thương mại, đã hơn 300 năm giữ vai trò chợ đầu mối điều phối hàng hóa cho các nơi trong tỉnh cũng như khu vực đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố có thế mạnh về thương mại – dịch vụ và tiềm năng du lịch, đặc biệt là du lịch xanh miệt vườn, sông nước
Thành phố Mỹ Tho là đầu mối giao thông thủy – bộ rất thuận lợi đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long và thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể, có sông Tiền là một trong hai nhánh của sông Cửu Long. Đây là tuyến giao thông quan trọng mang tính đối ngoại của thành phố Mỹ Tho, rất tiện lợi vận chuyển, lưu thông hàng thủy sản, nối liền Mỹ Tho với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long ra biển Đông về thành phố Hồ Chí Minh. Về đường bộ có Quốc lộ 1A, Quốc lộ 50, Quốc lộ 60 là những tuyến giao thông đối ngoại quan trọng của thành phố.
Thành phố Mỹ Tho có bề dày truyền thống văn hóa và lịch sử đấu tranh cách mạng hết sức vẻ vang, là đơn vị được Nhà nước tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thành phố có trường Trung học Nguyễn Đình Chiểu là một trong những trường trung học lớn nhất và sớm nhất Nam bộ, là cái nôi đào tạo nhân tài cho đất nước suốt hơn 120 năm qua.
Tiếp tục đi theo quốc lộ 1A, cách ngã 3 Trung Lương không xa có một đường rẽ, con đường này sẽ đưa các bạn đến với trại rắn Đồng Tâm.
Trại Rắn Đồng Tâm
Cách thành phố Mỹ Tho khoảng 9km, Trung tâm Nuôi trồng Nghiên cứu Chế biến Dược liệu Quân khu 9, hay gọi là Trại rắn Đồng Tâm (Châu Thành – Tiền Giang) từ lâu đã hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế. Đặc biệt, đây còn là nơi chữa trị rắn cắn cho bà con khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Tiền thân là Xí nghiệp 408 (trại rắn Đồng Tâm), đến năm 1988 được nâng cấp lên thành Trung tâm nuôi trồng, nghiên cứu, chế biến dược liệu Quân khu 9, có nhiệm vụ bảo tồn các nguồn dược liệu quý; sản xuất thuốc y học dân tộc; cấp cứu và điều trị rắn độc cắn cho quân và dân các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long.
Không những là nơi điều trị bệnh nhân bị rắn độc cắn mà trại rắn Đồng Tâm còn là điểm tham quan độc đáo, nằm trong tour du lịch Mỹ Tho – cù lao Thới Sơn – trại rắn Đồng Tâm. Tại đây, du khách tận mắt chiêm ngưỡng hàng trăm loại rắn khác nhau, từ những loài rắn hiền lành (rắn nước, rắn gáo,…), đến các loài rắn độc (hổ ngựa, rắn hổ cạp nong, hổ mai gầm,…), những loài động vật quí hiếm như trăn, cá sấu, ba ba, cáo, gấu…
Rời trại rắn Đồng Tâm trở lại tuyến đường chính chúng ta sẽ tới huyện Cai Lậy.
Huyện Cai Lậy
Huyện Cai Lậy nằm ở phía tây tỉnh Tiền Giang, phía bắc là huyện Tân Thạnh (Long An), và huyện Tân Phước, phía đông là huyện Châu Thành, phía tây là huyện Cái Bè và phía nam là huyện Chợ Lách – tỉnh Bến Tre được phân ranh bằng con sông Tiền
Huyện có diện tích 411km2 và dân số 309,000 người (năm 2004), là huyện đông dân nhất Tiền Giang và là một trong những huyện đông dân nhất nhấthuyện Việt Nam. Huyện lỵ là thị trấn Cai Lậy nằm trên đường quốc lộ 1 cách thành phố Mỹ Tho khoảng 20km về hướng tây. tỉnh lộ 829 theo hướng bắc đi Mộc Hóa (Long An).
Ngay đầu huyện, nhìn bên phải là con đường đi Ấp Bắc.
Ấp Bắc
Ấp Bắc là một ấp nhỏ thuộc xã Tân Phú, huyện Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho (nay là Tiền Giang), cách Tp.Mỹ Tho 20km về phía Tây. Nơi đây vào ngày 2/1/1963 đã diễn ra một trận đánh lớn của quân giải phóng miền Nam (hai tiểu đoàn 261 và 514 của bộ đội địa phương) cùng quân dân – du kích xã Tân Phú và các xã thuộc huyện Châu Thành.
Trong trận đánh này, bộ đội và dân quân du kích đã bẻ gãy các chiến thuật ” Trực thăng vận”, ” Thiết xa vận”, “Bủa lưới phóng lao” của hơn bốn ngàn quân Mỹ-Nguỵ với nhiều chiếc máy bay, xe tăng và tàu chiến. Chiến thắng Ấp Bắc báo hiệu sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm cùng chiến lược ” Chiến thắng đặc biệt ” của Mỹ áp dụng ở Miền Nam Việt Nam thời kỳ 1961-1965.
Qua khỏi huyện cai Lậy, cúng ta sẽ tới huyện Cái Bè
Huyện Cái Bè
Cái Bè là một huyện nằm phía tây tỉnh Tiền Giang, huyện lị là thị trấn Cái Bè. Huyện Cái Bè có diện tích 41.000 ha, dân số 280.000 người, bao gồm 23 xã và một thị trấn. Kinh tế chủ đạo là kinh tế vườn với nhiều vườn trái cây lớn đa dạng về các loại trái cây trong đó nổi bật là Bưởi Long Cổ Cò, xoài cát Hoà Lộc…Huyện có trung tâm trái cây quốc gia đặt tại xà Hoà Khánh của Tổng công ty Thương mại Sài Gòn đầu tư xây dựng, bên cạnh một số chợ trái cây lớn như An Hữu, Cái Bè, Mỹ Đức Tây…Huyện Cái Bè được biết đến với chợ nổi Cái Bè đặc trưng cho văn hoá sông nước Miền Tây. Cái Bè là bờ phía Bắc của cây cầu Mỹ Thuận, là cửa ngõ đi thị xã Vĩnh Long và toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long
Ngay đầu huyện có một con đường dẫn tới trung tâm thị trấn và đi thêm một đoạn nữa là tới chợ nổi Cái Bè
Chợ nổi Cái Bè
Chợ nổi là hình thức trao đổi, buôn bán trên sông nước giữa thuyền này với thuyền kia. Hình thức họp chợ như thế đã được định hình và phát triển cùng với những thăng trầm của lịch sử hàng trăm năm trước của vùng miền Tây – Nam bộ.
Trước và trong thời Pháp thuộc, điều kiện sinh sống của con người ở ÐBSCL rất khó khăn và phức tạp, vì đây là vùng đất thấp, thường xuyên bị lũ lụt, nhiều người phải sinh sống trên các bè gỗ, bè tre. Vào thời điểm đó giao thông đường bộ rất thô sơ, có nơi hầu như không có… Chính vì thế, người xưa đã tận dụng chủ yếu là xuồng ghe để phục vụ cho việc đi lại và vận chuyển hàng hóa. Trong bối cảnh đó: nhiều người sinh sống trên sông nước, người đi bán bằng xuồng ghe, người đi mua cũng bằng xuồng ghe, thì việc mua bán diễn ra trên sông nước là phù hợp và hữu hiệu nhất. Và như thế việc mua bán trên sông nước đã trở thành một nghề, và được lưu truyền cho tới ngày nay. Những người chuyên sống bằng nghề này, từ ngày xưa được mệnh danh là “Dân thương hồ”, họ sinh sống trên ghe xuồng và không ở cố định một nơi nào.
Ngày nay, chợ nổi đã trở thành một nét Văn hoá đặc trưng của người dân vùng sông nước ÐBSCL. Nhằm tạo điều kiện cho việc buôn bán dễ dàng, thuận lợi.
Quay lại quốc lộ 1A, đi thẳng tới ngã 3 An Hữu, tại đây chúng ta sẽ thấy quốc lộ 30 đi Cao Lãnh
Cao Lãnh
Huyện Cao Lãnh nằm ở phía Bắc sông Tiền, cách trung tâm hành chính tỉnh Đồng Tháp 8 km theo hướng Đông-Nam, phía Đông giáp huyện Cái Bè (tỉnh Tiền Giang) và huyện Tháp Mười, phía Tây giáp thành phố Cao Lãnh, huyện Thanh Bình và Tam Nông, phía Bắc giáp huyện Tháp Mười, phía Nam giáp sông Tiền (thị xã Sa Đéc và huyện Lấp Vò).
Cao Lãnh có diện tích là 491 km2; dân số khoảng 206.200 người (năm 2006).
Nằm trong vùng kinh tế phía Bắc của tỉnh, huyện Cao Lãnh có hệ thống đường thuỷ
dài 170 km gồm sông Tiền, sông Cần Lố, các kênh đào Nguyễn Văn Tiếp, An
Phong-Mỹ Hoà, An Long và nhiều sông rạch nhỏ; đường bộ dài 464 km, trong đó có 70 km tuyến đường chính, gồm 3 tuyến Tỉnh lộ ĐT 844, ĐT 846, ĐT 847, đặc biệt có
36 km đường Quốc lộ 30-là cửa ngõ quan trọng của tỉnh đi Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh trong khu vực.
Trên địa bàn huyện có di tích lịch sử cấp quốc gia là Khu di tích Xẻo Quít và 3 di tích lịch sử-văn hoá cấp tỉnh.
Từ ngã 3 An Hữu đi tới một đoạn nữa chúng ta sẽ tới cầu Mỹ Thuận, cây cầu nổi tiếng của Việt Nam, một cây cầu sử dụng công nghệ dây văng tiên tiến trên thế giới.
Cầu Mỹ Thuận
Là một cây cầu bắc qua Tiền Giang ở đồng bằng sông Cửu Long, được chính thức khởi công ngày 6/7/1997 và hoàn thành vào 21/5/2000. Cầu do các công ty Baulderstone Hornibrook của Úc và Cienco 6 của Bộ Giao thông Vận tải thiết kế và thi công, với chi phí 90,86 triệu đôla Úc, trong đó chương trình AusAid của chính phủ Úc góp 66% và chính phủ Việt Nam là 34%.
Cầu giúp người dân trong vùng đi lại thuận tiện hơn thay vì dùng bắc Mỹ Thuận, đồng thời thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội về lâu dài cho khu vực 16 triệu dân. Cầu là một kết nối quan trọng của quốc lộ 1A, nối đồng bằng sông Cửu Long với thành phố Hồ Chí Minh.
Cầu dài 1.535m, phần cầu chính là cầu treo dây văng dài 350m, nhịp giữa thông thuyền 350m, Chiều cao thông thuyền 37,5m, Phần cầu phụ mỗi bên gồm 11 nhịp, dài 437,6m, Chiều rộng mặt cầu 23,6m, gồm 4 làn xe cơ giới và 2 lề cho người đi bộ.
Cách cầu Mỹ Thuận không xa chúng ta sẽ gặp quốc lộ 80. Tại đây đi theo quốc lộ 1A chúng ta phải rẽ trái. Rẽ theo quốc lộ 1A chúng ta sẽ tới thị xã Vĩnh Long.
Vĩnh Long
Vĩnh Long có diện tích là 1.479,1 km², Dân số: 1,036,8 nghìn người (năm 2006). Có thị xã Vĩnh Long.
Thị xã Vĩnh Long cách thành phố Hồ Chí Minh 136km về phía tây nam. Tỉnh Vĩnh Long là trung tâm và là hình ảnh thu nhỏ của đồng bằng sông Cửu Long bởi sự đa dạng và trù phú của vùng đất giữa hai dòng sông lớn Tiền Giang và Hậu Giang. Phía bắc tỉnh Vĩnh Long giáp Tiền Giang, tây bắc giáp Đồng Tháp, đông giáp Bến Tre, đông Nam giáp Trà Vinh, phía nam giáp Hậu Giang, Sóc Trăng, tây nam giáp Cần Thơ.
Địa hình Vĩnh Long tương đối bằng phẳng, sông rạch chằng chịt, giao thông thuận tiện. Trên địa bàn tỉnh có quốc lộ 1A và quốc lộ 53 đi ngang qua, đây là cầu nối giao thông quan trọng giữa Tp. Hồ Chí Minh và Tp. Cần Thơ.
Vĩnh Long có nhiều đình, chùa như đình Long Thanh, tịnh xá Ngọc Viên, chùa Phước Hậu, chùa Tiên Châu, chùa Saghamangala…
Bến xe khách liên tỉnh cách trung tâm thành phố khoảng 5km. Có các tuyến đi bến xe miền Tây Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Cần Thơ, Mỹ Tho, Long Xuyên, Sa Đéc, Rạch Giá và các nơi khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Với thế mạnh là một là trung tâm của tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long nổi tiếng với các vườn trái cây, được quy hoạch rất bài bản để cho ra các loại trái cây nổi tiếng khắp cả nước và cũng là nơi cung cấp các loại cây giống cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như bưởi, chôm chôm, nhãn, măng cụt, xoài, cam, quýt…
Tại ngã 3 giữa quốc lộ 1A và quốc lộ chúng ta sẽ đi thẳng theo quốc lộ 80 để đến với tỉnh Đồng Tháp.
Đồng Tháp
Diện tích: 3.376,4 km²
Dân số: 1.667,8 nghìn người (năm 2006)
Đồng Tháp nằm trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là một trong ba tỉnh của vùng Đồng Tháp Mười, phía bắc giáp Cam-pu-chia, phía nam giáp Vĩnh Long và Cần Thơ, phía tây giáp An Giang, phía đông giáp Long An và Tiền Giang.
Tỉnh có hệ thống sông, ngòi, kênh, rạch chằng chịt; nhiều ao, hồ lớn. Sông chính là sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) chảy qua tỉnh với chiều dài 132km. Dọc theo hai bên bờ sông Tiền là hệ thống kênh rạch dọc ngang. Đường liên tỉnh giao lưu thuận tiện với trên 300km đường bộ và một mạng lưới sông rạch thông thương.
Là một tỉnh nông nghiệp, Đồng Tháp sản xuất nhiều lương thực và các loại nông, thủy sản có giá trị xuất khẩu. Đất đai Đồng Tháp màu mỡ bởi phù sa do hai con sông Tiền và sông Hậu cung cấp hàng năm, xóm làng trù phú giữa bốn bề cây cối xanh tươi. Vì thế Đồng Tháp được biết đến như một vựa lúa của cả nước. Đồng Tháp cũng là vùng đầy triển vọng về các loại cây công nghiệp ngắn ngày như mía, bông, thuốc lá, đậu tương và cây ăn trái như xoài Cao Lãnh, nhãn Châu Thành, quít Lai Vung, bưởi Phong Hòa, chôm chôm, vú sữa, mãng cầu có quanh năm.
Các diểm tham quan: khu di tích cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc, đài liệt sĩ, khu di tích Gò Tháp, di tích kiến trúc cổ Kiến An Cung, vườn chim thiên nhiên lạ mắt ở Tháp Mười, vườn sếu quý hiếm ở Tam Nông, khu căn cứ Xẻo Quít, làng hoa kiểng Tân Qui Đông, các vườn cây ăn trái Cao Lãnh, Châu Thành, Lai Vung, Thạnh Hưng…
Có tuyến xe khách trực tiếp từ Tp. Hồ Chí Minh, Mỹ Tho, Cần Thơ, Vĩnh Long và Long Xuyên tới Cao Lãnh. Thị xã Sa Đéc cách Tp. Hồ Chí Minh 143km, nằm ở nút giao giữa Vĩnh Long và Long Xuyên.
Chúng ta sẽ đi qua huyện Châu Thành của tỉnh Đồng Tháp và sau đó chúng ta sẽ tới thị xã Sa Đéc
Sa Đéc
Sa Đéc cách Thành phố Hồ Chí Minh 140 km về phía tây nam. Phía bắc giáp sông Tiền, phía tây bắc giáp huyện Lấp Vò, tây nam giáp huyện Lai Vung, phía đông giáp huyện Cao Lãnh, phía nam giáp huyện Châu Thành.Diện tích là 5.785,89 ha, với dân số khoảng 103000 người. Thị xã có quốc lộ 80 chạy qua ở giữa và sông Sa Đéc ở phía đông, ngoài ra còn có tỉnh lộ 848 chạy qua rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, đây còn là nơi khởi nguồn của rạch Cần Thơ, nên cũng khá dễ dàng giao thông buôn bán với khu vực phía nam sông Hậu.
Trước khi chúa Nguyễn khai phá miền đất phía Nam, Sa Đéc thuộc đất Tầm Phong Long của Thủy Chân Lạp.
Khoảng thập niên 1750, Chúa Nguyễn thành lập ba đạo ở miền Tây Nam Bộ trong đó có Đông Khẩu Đạo là thị xã Sa Đéc và một số huyện lân cận.
Năm 1899 tỉnh Sa Đéc được thành lập. Trước đó từng là phủ lị phủ Kiến Đăng, tỉnh Định Tường. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, Sa Đéc được nhập vào tỉnh Vĩnh Long, sau đó lại tái lập tỉnh.
Từ tháng 2 năm 1976, tỉnh Sa Đéc được sáp nhập với tỉnh Kiến Phong thành tỉnh Đồng Tháp. Sa Đéc vẫn là là tỉnh lị tỉnh Đồng Tháp cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1994.
Như vậy Sa Đéc là một trong những đô thị lâu đời nhất ở Tây Nam Bộ với khoảng hơn 250 năm thành lập
Sa Đéc theo tiếng Khmer nghĩa là “chợ sắt”.
Sa Đéc nổi tiếng với nghề trồng hoa mà tiêu biểu nhất là làng hoa Tân Quy Đông. Mỗi độ Tết về, nơi đây lại ngập tràn hương sắc, với đủ mọi loại hoa đa dạng. Ngoài ra, còn có các làng nghề nổi tiếng như Làng bột và bánh phồng tôm Sa Giang . Đặc biệt, hủ tíu Sa Đéc là một trong những loại hủ tíu ngon nhất đồng bằng và đựoc hầu hết các tỉnh biết đến.
Sa Đéc là nơi sinh ra nhiều nhân tài và những người có truyền thống cách mạng, tiêu biểu là Lưu Văn Lang – kĩ sư đầu tiên của Đông Dương và châu Á, cô giáo Ngài( tức cô Trần Thị Nhượng) hoặc như anh hùng Phan Văn Út đã dùng mìn tự sát để giết chết sĩ quan Pháp.
Tại thị xã có 1 tuyến đường đi Cao Lãnh
Cao Lãnh
Thành phố Cao Lãnh là một đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Đồng Tháp, đồng thời là tỉnh lị tỉnh này. Cao Lãnh được nâng cấp lên thành phố vào ngày 16 tháng 1 năm 2007. Trước đó, thị xã Cao Lãnh là tỉnh lị tỉnh Đồng Tháp từ ngày 29 tháng 4 năm 1994, thay thế thị xã Sa Đéc. Không nên nhầm lẫn thành phố Cao Lãnh với huyện Cao Lãnh cùng tỉnh.
Đến với tuor du lịch các tỉnh miền Tây các bạn sẽ có dịp thưởng thức các đặc sản của vùng như cháo cá miền Tây,bánh phồng tôm Châu Giang, các loại trái cây…nhưng có một đặc sản không chỉ nổi tiếng trong vùng mà còn nổi tiếng khắp cả nước đó là Nem Lai Vung thuộc huyện Lai Vung.
Lai Vung
Huyện nằm ở phía nam tỉnh Đồng Tháp, phía bắc giáp huyện Lấp Vò, phía tây là con sông Hậu làm ranh giới với thành phố Cần Thơ, phía đông giáp huyện Châu Thành và thị xã Sa Đéc, phía đông nam giáp huyện Bình Minh (Vĩnh Long)
Huyện có diện tích 219km2 và dân số là 154.000 người (năm 2004). Huyện ly là thị trấn Lai Vung nằm trên quốc lộ 80, cách thị xã Sa Đéc khoảng 10km về hướng tây và phà Vàm Cống khoảng 25km về hướng đông.
Đây là một huyện nông nghiệp, chủ yếu là trồng lúa và hoa quả. Huyện có đặc sản là trái cây quýt hồng, bưởi Phong Hòa, nem Lai Vung, nấm rơm.
Từ năm 2006, Lai Vung xây dựng huyện công nông nghiệp. Khu công nghiệp Lai Vung đang được quy hoạch và kêu gọi đầu tư.
Lai Vung còn rất nổi tiếng với nem Lai Vung.
Nem Lai Vung
Đa số người dân từ TPHCM hoặc các tỉnh miền Tây muốn đi về Núi Sam đều qua Làng nem Lai Vung, nằm cạnh quốc lộ 80, thuộc thị trấn Lai Vung. Điều thuận lợi là nguyên liệu làm nem có sẵn ở địa phương, giá thành sản phẩm ít biến động, phù hợp với người tiêu dùng. Về thiết bị, công nghệ được cải tiến nhưng chủ chủ yếu làm bằng thủ công và gần đây có một số cơ sở đóng gói bằng hộp nhựa và đầu tư trang thiết bị làm nem rất đơn giản, vốn ít.
Rời huyện Lai Vung chúng ta sẽ tới một huyện co cái tên kha độc đáo đó chính là huyện Lấp Vò.
Huyện Lấp Vò
Lấp Vò là một huyện phía Nam thuộc tỉnh Đồng Tháp, nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, diện tích tự nhiên là 244 km², phía Đông giáp thị xã Sa Đéc, Tây giáp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, Nam giáp huyện Lai Vung, Bắc giáp thành phố Cao Lãnh. Lấp Vò là huyện có điều kiện thuận lợi để nuôi trồng thủy sản, huyện còn có vị trí thuận lợi về giao thông đường thủy cũng như đường bộ, ngoài tuyến sông Tiền và sông Hậu nằm liền kề hai bên, chính giữa huyện có kênh Xáng Lấp Vò là tuyến thủy quan trọng, chạy dọc suốt chiều dài của huyện. Trên địa bàn huyện có quốc lộ 80 và quốc lộ 54 chạy qua, có 4 tỉnh lộ xuyên qua địa bàn, nối liền các tỉnh, huyện bạn; Phía Tây có bến phà Vàm Cống, phía Bắc có bến phà Cao Lãnh.
Huyện Lấp Vò cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 180 km đường bộ, khoảng 200 km đường thủy; cơ sở hạ tầng điện nước, thông tin liên lạc khá hoàn chỉnh phục vụ tốt cho việc đầu tư phát triển.
Mỗi vùng có một đặc trưng riêng, và đến với Huyện Lấp Vò các bạn sẽ được tận mắt xem người dân nơi đây làm chiếu. Đó chính là làng chiếu Định Yên.
Chiếu Định Yên
Chợ chiếu đêm Định Yên là một chợ khá độc đáo: Giờ nhóm chợ không cố định, đêm sau thường sớm hơn đêm trước một giờ, cứ thế xoay vòng. Đến thăm chợ khách được chứng kiến một khung cảnh chợ búa nhộn nhịp nhưng khá thi vị: Các cô gái trẻ ngược xuôi đon đả mời chào sản phẩm chiếu đủ loại, đa dạng về màu sắc, hoa văn; từ chiếu trắng thường, chiếu bông (vảy ốc, trà niên, con cờ…) với giá bán cao thấp khác nhau tùy theo độ mỏng-dày, thưa-khít và mẫu mã. Bình quân mỗi đêm chợ chiếu Định Yên có vài trăm người đem bán sản phẩm do chính mình làm ra.
Trong khi chợ chiếu Cà Mau lẫy lừng một thời-đi vào âm nhạc qua bài vọng cổ Tình anh bán chiếu-phải trải qua không ít thăng trầm, chợ chiếu đêm Định Yên vẫn duy trì được suốt 50-60 năm nay. Sở dĩ chợ chiếu Định Yên họp về ban đêm là vì ban ngày những người bán chiếu còn bận đi làm.
Từ thị xã Sa Đéc theo QL 80 đi xe đò chừng 30km đến thị trấn Lấp Vò. Sau đó đi chừng 3km bằng “xe ôm” tới chợ chiếu Định Yên. Du khách cũng có thể đi bằng ôtô riêng từ Sa Đéc đến thẳng Định Yên. Có nhà nghỉ và đủ các dịch vụ kèm theo.
Từ huyện Lấp Vò muốn đi qua tỉnh An Giang thì chúng ta phải đi qua phà Vàm Cống. Qua phà Vàm Cống, chúng ta sẽ tới tỉnh An Giang. Tại đây chúng ta sẽ đi theo quốc lộ 91.
An Giang
Diện tích: 3.536,8 km²
Dân số: 2.210,4 nghìn người (năm 2006)
An Giang là một tỉnh miền Tây Nam Bộ, bắt đầu từ chỗ sông Mê Kông chảy vào nước ta được chia làm đôi. Phía đông An Giang giáp Đồng Tháp, phía đông nam giáp Tp. Cần Thơ, phía tây nam giáp Kiên Giang, phía tây và tây bắc giáp nước Cam-pu-chia.
Khác với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, bên cạnh vùng đồng bằng phù sa, An Giang còn có một miền núi nhỏ, dài 30km, rộng 13km. Đó là dãy Bảy Núi (Thất Sơn) ở các huyện Tịnh Biên, Tri Tôn. Phía tây tỉnh, chạy song song với biên giới là kênh Vĩnh Tế, được đào năm 1823 nối từ Châu Đốc đến Hà Tiên.
An Giang là tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng lúa (trên 2 triệu tấn), ngoài cây lúa còn trồng bắp, đậu nành và nuôi (trồng) thuỷ sản nước ngọt như cá, tôm… An Giang còn nổi tiếng với các nghề thủ công truyền thống như lụa Tân Châu, mắm Châu Đốc, mộc Chợ Thủ, bánh phồng (Phú Tân), khô bò và các mặt hàng tiêu dùng. Đặc biệt là nghề dệt vải thủ công lâu đời của đồng bào Chăm và nghề nuôi cá bè đặc trưng của vùng sông nước.
An Giang được nhiều du khách biết đến với các lễ hội độc đáo như lễ hội miếu Bà Chúa Xứ, Chôl Chnam Thmây, Dolta và hội đua bò…, các danh lam thắng cảnh: núi Sam, miếu Bà Chúa Xứ, Núi Cấm và hệ thống hang động Thủy Đài Sơn, Anh Vũ Sơn, Sơn viên Cô Tô, đồi Tức Dụp anh hùng trong chống Mỹ và nhiều di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật khác.
An Giang có các mối giao thông thường xuyên với Cà Mau, Tp. Cần Thơ, Tp. Hồ Chí Minh, Rạch Giá và những địa danh khác trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.
Thành phố Long Xuyên cách Cần Thơ 62km, Mỹ Tho 125km và Tp. Hồ Chí Minh 190km. Thị xã Châu Đốc cách Hà Tiên 96km, Cần Thơ 117km, Mỹ Tho 179km và Tp. Hồ Chí Minh 245km.
“Năm Minh Mạng thứ 13 (1832) lấy đất nầy cùng với huyện Vĩnh An tỉnh Vĩnh Long đặt làm phủ Tuy Biên và Tân Thành ; đặt bốn huyện là : Tây Xuyên, Phong Phú, Đông Xuyên và Vĩnh An lập tỉnh An Giang và Hà Tiên, lại đặt hai ty Bố chánh, Án sát” (Đại Nam nhất thống chí).
Đến thời Tự Đức, sau nhiều lần tách nhập, thêm phủ, huyện, An Giang có 3 phủ, 10 huyện .
Ngày 01/3/1999, Chính phủ ra Nghị định 09/NĐCP thành lập thành phố Long Xuyên.
Thành Phố Long Xuyên
Thành phố Long Xuyên có diện tích khoảng 130 km², dân số 350000 người (số liệu năm 2007), là đô thị cấp 3 trực thuộc tỉnh, nằm bên hữu ngạn sông Hậu. Long Xuyên cách thủ đô Hà Nội 1950 km về phía Nam, cách Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn cũ) 189 km về phía Tây Nam, cách biên giới Campuchia 45 km đường chim bay.
Long Xuyên là đô thị sầm uất thứ hai tại miền Tây Nam Bộ chỉ sau thành phố Cần Thơ.
Long Xuyên được nhiều khách du lịch biết đến với biểu tượng Đèn bông lúa hay Hồ Nguyễn Du. Hồ Nguyễn Du là một khuôn viên rộng khoảng 700 m², nằm trung tâm là một bể hồ nhân tạo, xung quanh hồ được bố trí như một công viên và ở đây được xem là đoạn đường dài nhất Long Xuyên, nên các dịp Lễ hoặc Tết Nguyên Đán thì nơi đây được chọn là nơi bắn pháo bông, nơi đây được nhiều bạn trẻ rất thích vì phong cảnh đẹp.
Chạy trên quốc lộ 91 chúng ta sẽ tiếp tục dến với các tỉnh thuộc miền Tây Nam Bộ. Chúng ta sẽ đi qua nhà thờ Long Xuyên và chợ Long Xuyên, hai điểm này nằm bên phải quốc lộ
Chợ Long Xuyên
Chợ có diện tích 18.100m2, qui mô 1.033 lô sạp với tổng mức đầu tư 38,18 tỉ đồng.
Công trình gồm các hạng mục cơ bản như khu bách hóa công nghệ, nông sản thực phẩm tươi sống, khu tự sản tự tiêu và các hạng mục hạ tầng kỹ thuật gồm: bãi xe tải, bãi xe dành cho người đi bộ cùng các tuyến giao thông nội, ngoại vi.
Và chúng ta cũng sẽ đi qua nhà hàng Hòa Bình, nhà hàng này nằm bên trái quốc lộ. Trước khi rời thành phố Long Xuyên chúng ta sẽ đi qua di tích nhà Bác Tôn và cù lao Ông Hổ
Bác Tôn Đức Thắng
(20/8/1888 – 30/3/1980), là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, nhà hoạt động nổi tiếng của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam. Tuy không có nền tảng giáo dục hoàn hảo nhưng ông được coi là một trong những hình tượng của Cách mạng và Nhà nước Việt Nam. Tuy là Ủy viên Trung ương từ năm 1951 cho tới khi mất nhưng ông chưa bao giờ được bầu vào Bộ Chính trị.
Quê ông ở làng Mỹ Hòa Hưng, tỉnh Long Xuyên, nay thuộc tỉnh An Giang. Ông học Trường Kĩ nghệ Viễn Đông (1906-1909), làm công nhân Nhà máy Ba Son của Hải quân Pháp ở Sài Gòn; tổ chức công nhân bãi công (1912). Năm 1914, ông bị bắt lính sang Pháp, làm thợ máy cho một đơn vị Hải quân Pháp, tham gia phản chiến chống lại cuộc can thiệp của Đế quốc Pháp vào Xô Viết tại Hắc Hải năm (1919). Năm 1920, ông về nước, xây dựng cơ sở công hội; vận động công nhân đấu tranh, tiêu biểu là cuộc bãi công của công nhân Ba Son (tháng 8 năm 1925). Năm 1927, ông tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Ủy viên Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ; bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn (1928), kết án 20 năm tù khổ sai, đày ra Côn Đảo (1930-1945). Năm 1930, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Côn Đảo. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông trở về Nam Bộ tham gia kháng chiến, giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Bộ (1945). Ông là Phó ban Thường trực Quốc hội (1946-1955) rồi Trưởng ban Thường trực Quốc hội (1955-1960), tương đương Chủ tịch Quốc hội sau này. Ông là Đại biểu Quốc hội liên tục các khóa I-VI.
Về mặt chính quyền, ông là Bộ trưởng Bộ Nội vụ (tháng 5 năm 1947-tháng 11 năm 1947); Thanh tra đặc biệt toàn quốc (tháng 8 năm 1947), Phó Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1960-1969), Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1969-1980).
Về mặt Đảng, ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1947, và khóa II đến khóa IV.
Về mặt đoàn thể, ông là Phó hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (1946-1951), Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Mặt trận Liên Việt (1951-1955), Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955-1977), Chủ tịch danh dự Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1977-1981). (Kế nhiệm ông tại Mặt trận là ông Hoàng Quốc Việt).
Ông được tặng thưởng Huân chương Sao Vàng năm 1958, nhâp dịp ông 70 tuổi và là người đầu tiên được tặng Huân chương này.
Tên ông được đặt cho một đường phố ở thành phố Odessa, Ukraina vì liên quan đến sự kiện phản chiến ở Hắc Hải.
Cù Lao Ông Hổ
Cù lao Ông Hổ do phù sa sông Hậu bồi đắp. Trên cù lao có ngôi nhà gỗ, nơi gìn giữ những kỷ niệm về Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong khuôn viên hoa trái xum xuê.Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hoà Hưng cách Trung tâm Thành phố Long Xuyên bởi một nhánh sông Hậu chảy qua. Bằng nhiều phương tiện và con đường thuỳ, bộ khác nhau, chúng ta có thể đến với Cù lao Ông Hổ, nơi đây chúng ta sẽ có dịp thăm lại ngôi nhà lưu niệm thời niên thiếu của Bác Tôn Đức Thắng và các di vật ngày xưa của Bác.
Ngôi nhà được xây dựng vào năm 1887, do thân sinh của Bác là cụ Tôn Văn Đề xây dựng với lối kiến trúc hình chữ Quốc, nên sàn lót ván, mái lợp ngói ống, ngang 12 mét, dài 13 mét, rộng hơn 150m2
Vào năm 1984, Bộ Văn Hoá đã ra quyết định công nhận đây là một di tích lịch sử mang tầm cỡ Quốc gia.
Không chỉ có thể, đến với cù lao khách còn được nghĩ tại nhà dân (Homestay) để thưởng thức các loại trái cây, món ăn đặc sản và nghe đàn ca tài tử, làm quen với cuộc sống của người dân Nam Bộ, thăm các bè cá ven bờ cù lao và hiện đang xúc tiến chương trình “Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng”… Nơi đây, quý khách có thể tận hưởng được hương vị cuộc sống của vùng sông nước Nam Bộ.
Qua khỏi thành phố Long Xuyên, chúng ta sẽ đến với huyện Châu Thành
Châu Thành
Châu Thành là một huyện đồng bằng ở tây nam bờ sông Hậu của tỉnh An Giang, Việt Nam, được thành lập khi huyện Châu Thành X được tách ra thành 2 huyện Châu Thành và Thoại Sơn. Trước 1975, nó thuộc tỉnh Long Xuyên.
Huyện Châu Thành nằm tiếp giáp thành phố Long Xuyên, với tổng diện tích tự nhiên 34.720 ha (347,2 km²). Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 29.252 ha. Huyện này gồm một thị trấn An Châu (huyện lỵ) và 12 xã với 63 ấp. Nó tiếp giáp với 4 huyện và thành phố, đó là huyện Tịnh Biên, Châu Phú, Chợ Mới, Thoại Sơn và thành phố Long Xuyên.
Phía bắc giáp huyện Châu Phú; phía đông–đông bắc giáp huyện Chợ Mới; phía đông–đông nam giáp thành phố Long Xuyên; phía nam giáp huyện Thoại Sơn; phía tây giáp huyện Tri Tôn; và phía tây bắc giáp huyện Tịnh Biên. Địa hình ở đây bằng phẳng, thoải từ bắc xuống nam. Sông Hậu chảy dọc phía đông bắc huyện.
Dân số là 171.480 người với 34.018 họ, gồm các dân tộc Kinh, Khơme, Chăm, và Hoa. Châu Thành là nơi có đạo Hòa Hảo phát triển.
Ở huyện Châu Thành vẫn còn di tích của đạo Hòa Hảo, di tích này nằm bên trái của quốc lộ 91
Đạo Hòa Hảo
Đạo Hòa Hảo, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Số tín đồ Đạo Hòa Hảo ước tính khoảng 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở miền Tây Nam Bộ. Hiện nay, trong thư viện của hơn 30 quốc gia trên thế giới vẫn còn giữ những tài liệu sách báo về đạo Hòa Hảo.
Đạo Hòa Hảo ra đời tại làng Hòa Hảo, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 1939 do Huỳnh Phú Sổ sáng lập.
Đến nay, Hòa Hảo vẫn phát triển chú yếu trong vùng tứ giác Long Xuyên. Số lượng tín đồ khoảng 2 triệu người.
Hết huyện Châu Thành thì chúng ta sẽ đến với huyện Châu Phú
Huyện Châu Phú
Huyện Châu Phú cách thành phố Long Xuyên 20 km về phía Nam và cách thị xã Châu Đốc 20 km về phía Bắc.
Huyện gồm 12 xã và 1 thị trấn. Huyện giáp với con sông Hậu (sông Bacsac) hai mùa mưa nắng, trong xanh khi mùa nắng, đục ngầu khi mùa mưa. Dọc theo sông Hậu có những kênh rạch dẫn nước vào đồng như Kênh Thầy Phó, Kênh Bình Mỹ, kênh xáng Cây Dương, Phù Dật, Chữ S, kênh xáng Vịnh Tre, Cần Thảo, kênh Đào…
Huyện Châu Phú có nhiều di tích lịch sử. Tại đây có vị anh hùng dân tộc Trần Văn Thành đã có công trong trận chiến Vàm Láng – Bảy Thưa.
Dân chúng đa số theo đạo Hòa Hảo
Sau khi đi qua thị trấn Cái Dầu của huyện Châu Phú, đi thêm một đoạn nữa, nhìn bên phải là nhà thờ Chắc – Cà – Đao. Và tiếp theo chúng ta sẽ tới thị xã Châu Đốc

Châu Đốc
Châu Đốc là một thị xã trực thuộc tỉnh An Giang. Thị xã biên giới Châu Đốc nằm trên bờ sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 254 km về phía tây.Thị xã Châu Đốc có chiều dài lịch sử gắn liền với những câu chuyện ly kỳ về Bà Chúa Xứ Núi Sam (có Lễ hội Bà Chúa Xứ vào khoảng tháng tư âm lịch hằng năm), cũng như những sự kiện trong công cuộc gìn giữ đất nước như huy động sức dân đào kênh thủy lợi, quân sự Vĩnh Tế; chiến đấu trong các thời kỳ Pháp, Mỹ, chiến tranh biên giới Tây Nam.
Châu Đốc là nơi có thể tìm hiểu về văn hóa, dân tộc Chăm và Khmer.
Cũng có thể thấy ở Châu Đốc các thánh đường Hồi giáo phục vụ cộng đồng dân cư người Chăm.
Đặc sản địa phương gồm các loại mắm lóc, trê, thái…; khô cá lóc, cá tra phồng, sặc bổi…; đường thốt nốt.
Châu Đốc được coi như một địa điểm mua sắm phong phú tại Việt Nam, nơi có những sản phẩm với xuất xứ từ Thái Lan, Malaysia… Giá cả cạnh tranh một phần vì là hàng trốn hoặc miễn thuế.
Cách Thành Phố Long Xuyên khoảng 60km đi về hướng tây theo Quốc lộ 91.
Từ Châu Đốc vượt khoảng 30km qua xã Khánh Bình, bên kia biên giới chưa đầy 1km, khách có thể đến các sòng bạc (casino).
Khoảng cách từ thành phố Hồ Chí Minh đi thị xã Châu Đốc là 254km, nếu chạy xe buýt mất khoảng 6 tiếng.
Các di tích danh thắng của thị xã Châu Đốc gồm:
• Chùa Tây An (Tây An cổ tự), nằm tại ngã ba núi Sam (chân núi) thuộc xã Vĩnh Tế thị xã Châu Đốc, do tổng đốc An Giang-Hà Tiên, Doãn Uẩn đôn đốc xây dựng năm 1847. Chùa có phong cách kiến trúc hồi giáo Ấn Độ.
• Lăng mộ Thoại Ngọc Hầu và phu nhân, nằm cạnh chùa Tây An (chân núi Sam), đối diện miếu bà chúa Xứ.
• Núi Sam
• Kênh Vĩnh Tế
• Miếu Bà chúa Xứ
• Chùa Phước Điền (chùa hang)
Du khách ở xã có thể ghé chợ biên giới Tịnh Biên sát Campuchia cách Thị xã khoảng 20km, hàng hóa ở chợ này chủ yếu là những hàng bên kia biên giới.
Chạy tới gần bến xe Châu Đốc có 1 con đường nằm bên trái quốc lộ 91, con đường này sẽ dẫn tới một số điểm tham quan đó là núi Sam, miếu bà chúa Sứ, lăng Thoại Ngọc Hầu và chùa Tân An.
Núi Sam
Núi Sam (tên khác Núi Vĩnh Tế) cao 284 m diện tích khoảng 280ha, đây là loại núi trẻ. Nằm trong phường Núi Sam, thị xã Châu Đốc, . Trên núi có gần 300 chùa, lăng, am, miếu trong đó nổi tiếng nhất là Miếu Bà chúa Xứ, Chùa Tây An, lăng Thoại Ngọc Hầu, Chùa Phước Điền (còn gọi Chùa hang) là những hạng mục trong Khu di tích lịch sử – Văn hoá núi Sam dã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam công nhận là di tích cấp Quốc gia.
Núi nằm trong vùng Bảy Núi vốn là căn cứ địa Kháng chiến chống Pháp, chống Mĩ.
Miếu Bà Chúa Xứ
Miếu Bà Chúa Xứ thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Ðốc là một trọng điểm “hành hương và du lịch” của tỉnh An Giang.
Theo truyền tụng trong dân gian thì tượng “Bà” đã có lâu đời. Cách đây khoảng 200 năm, “Bà” được dân địa phương phát hiện và được khiêng từ trên đỉnh núi Sam bằng 12 cô gái đồng trinh, theo như lời dạy của “bà” qua miệng “cô đồng”, nên người dân lập miếu để tôn thờ.
Ban đầu miếu được cất đơn sơ bằng tre lá. Năm 1962, miếu lợp ngói âm dương. Ðến năm 1972, ngôi miếu được xây lại, năm 1976 công trình rất khang trang và đẹp đẽ này mới hoàn thành. Miếu Bà Chúa Xứ kiến trúc theo kiểu chữ “quốc”, có 4 mái hình vuông, nóc lợp bằng ngói ống màu xanh. Nhà để tượng cũng có 4 mái hình vuông.
Tượng Bà Chúa được tạo vào khoảng cuối thế kỷ 6 đầu thế kỷ thứ 7, bằng đá, có giá trị nghệ thuật cao. Khi xưa, tượng Bà ngự trên đỉnh núi Sam, gần Pháo Đài. Chứng minh cho điều này là bệ đá Bà ngồi vẫn còn tồn tại. Bệ đá có chiều ngang 1,60m; dài 0,3m, chính giữa có lỗ vuông cạnh 0,34m, loại trầm tích thạch màu xanh đen, hạt nhuyễn.
Tượng thờ này thuộc nền văn hóa Óc Eo, mang mô típ mỹ thuật Bà-la-môn giáo có nguồn gốc từ Ấn Độ, tương tự tượng Phật Bốn Tay ở chùa Linh Sơn ( thị trấn Óc Eo, huyện Thoại Sơn, An Giang). Và thực ra đây không phải là tượng người phụ nữ mà là tượng nam thần đang ngồi trầm tư, nghĩ ngợi, thường gặp trong các tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Bà-la-môn giáo.
Hội Bà Chúa Xứ được tổ chức hằng năm rất trọng thể vào các ngày cuối tháng 4 âm lịch.
Thoại Ngọc Hầu
Thoại Ngọc Hầu, tên thật là Nguyễn Văn Thoại, (1761 – 1829) là một danh tướng của triều Nguyễn. Ông sinh ngày 25 tháng 11 năm 1761 niên hiệu Cảnh Hưng thứ 22, tại làng An Hải, Quảng Nam, nay thuộc địa phận thành phố Đà Nẵng, được phong tước Ngọc hầu và mất ngày 6 tháng 6 năm 1829. Ông là người đã chỉ huy đào kênh Vĩnh Tế, kênh Thoại Hà… để phát triển nông nghiệp và mở đường từ Châu Đốc đi núi Sam, Châu Đốc đi Lò Gò và Sóc Trăng. Ông có công lớn trong việc mở mang khai phá nhiều vùng đất phía Tây Nam Việt Nam.
Từ nguyên quán ở Quảng Nam, do loạn lạc nên gia đình ông di trú vào Nam tại cù lao Dài trên sông Cổ Chiên (nay thuộc tỉnh Vĩnh Long). Do công phò tá Gia Long, ông dần được thăng chức đến Trấn thủ Vĩnh Thanh (nay là địa bàn thuộc các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Kiên Giang). Ở chức vụ này, ông đã có công lớn trong việc khẩn hoang lập ấp, đào kinh đắp đường, phát triển và bảo vệ vùng đất Tây Nam.
Chùa Tây An
Chùa Tây An còn gọi là Tây An cổ tự, là một ngôi chùa phật giáo tọa lạc tại ngã ba, cận kề chân núi núi Sam (cao 248m), thuộc xã Vĩnh Tế, thị xã Châu Đốc tỉnh An Giang, cách thị xã Châu Đốc 5 km.
Chùa Tây An không chỉ là một danh lam để mọi người tin tưởng đến lễ bái, mà còn là một thắng cảnh du lịch nổi tiếng.
Chùa được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1820 triều Minh Mạng, do quan tổng đốc Nguyễn Nhật An cho xây dựng, nhưng khi đó chùa mới chỉ là một am nhỏ kiến trúc còn đơn sơ chủ yếu là lợp tranh tre vách lá…
Đến năm 1847 tổng đốc An-Hà (An Giang và Hà Tiên) kiêm Thượng thư bộ Binh-An tây mưu lược tướng Tuy Tĩnh Tử Doãn Uẩn (1795-1850),vui mừng vì lập được đại công đánh đuổi được quân Xiêm, bình định được Chân Lạp, nên đã cho xây dựng lại với kiến trúc gần như ngày nay.
Và vị sư trụ trì đầu tiên là hòa thượng Nguyễn Văn Giác, pháp hiệu Hải Tịnh, tu theo phái Lâm Tế, nên có người còn gọi chùa Tây An là chùa Lâm Tế[1]
Cũng trong thời gian này ông Đoàn Minh Huyên (1807-1856), người sáng lập ra giáo phái Bửu Sơn kỳ hương đến tu, nên chùa càng nổi tiếng.
Chùa mang phong cách nghệ thuật Ấn Độ và nghệ thuật Hồi giáo, kết hợp với kiến trúc chùa cổ của dân tộc Việt.
Cổng dẫn vào mộ Đoàn Minh Huyên, phía sau chùa Tây An
Trong chính điện có khoảng 150 pho tượng lớn nhỏ: tượng Phật, Bồ tát, La hán, Bát bộ kim cang, Ngọc hoàng, Huỳnh đế, Thần nông v.v. Đa số tượng đều làm bằng danh mộc, chạm trổ công phu và mỹ thuật, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc Việt Nam vào thế kỷ 19. Ngoài ra chùa còn có nhiều hoành phi và câu đối. Chùa Tây An đã được Bộ Văn Hóa xếp hạng.
Quay trở lại quốc lộ 91 chúng ta sẽ đi qua chợ Châu Đốc, chợ này về bên tay trái của quốc lộ và đồng thời chúng ta cũng đi ngang qua bến tàu du lịch của thị xã Châu Đốc. Ở Châu Đốc có một nơi nuôi cá bè rất nổi tiếng và người ta gọi vùng này là làng nuôi cá bè
Làng Cá Bè
Khách du lịch rất thích thú được hòa mình vào cuộc sống của cư dân làng nổi. Làng cá bè, ngoài giá trị kinh tế, còn là nét văn hoá đặc sắc của vùng sông nước An Giang
Dưới những căn nhà là bè nuôi cá. Làng có rất nhiều bè cá. Khung bè làm bằng gỗ, mỗi bè sâu khoảng từ 6 đến 8 mét, dưới được bọc bằng lưới inox. Đóng một bè cá tốn khoảng 100 – 300 triệu đồng (tùy diện tích – loại bè lớn nhỏ).
Bên trên bè là căn nhà nổi nơi sinh sống của chủ bè, với đầy đủ tiện nghi. Nhà cũng bằng vật liệu nhẹ, lợp mái tôn. Phía sau nhà thường có những bè làm ruộng nổi để trồng rau, trồng lúa.
Chia tay với làng cá bè chúng ta sẽ đến với làng của người Chăm.
Người Chăm
Hay còn gọi là người Chàm, người Chiêm Thành, người Chiêm, người Hời…, hiện cư ngụ chủ yếu tại Việt Nam, Campuchia và Lào.
Tiếng Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Mã Lai-Đa đảo (Malayo-Polynesian) của hệ ngôn ngữ Nam Đảo (Autronesian).
Cộng đồng Chăm lớn nhất thế giới là vào khoảng nửa triệu người tại Campuchia, được gọi là Khmer Islam.
Trên lãnh thổ Việt Nam có trên 120.000 người Chăm sinh sống, một nửa là người Đông Chăm sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và một số tỉnh khác như Khánh Hòa, Phú Yên và Bình Định theo đạo Bà La Môn. Một nửa là người Tây Chăm sinh sống tại An Giang, Đồng Tháp và Tây Ninh theo đạo Hồi. Một số nơi khác như Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm. Tây nam Bình Thuận và tây bắc Phú Yên có người Chăm thuộc nhóm H’roi.
Người Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chính. Kỹ thuật thâm canh lúa nước bằng các biện pháp giống, phân bón, thủy lợi khá thành thạo. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông. Trước kia, người Chăm không trồng cây trong làng vì cho rằng cây sẽ là nơi cư trú của ma quỉ.
Người Chăm có tập quán bố trí cư trú dân cư theo bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong làng các khoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Phần lớn làng Chăm có dân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người.
Chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại ở người Chăm miền Trung. Đàn ông lo việc ngoài nhà, đàn bà lo việc trong gia đình và gia phả; trưởng họ là người đàn bà cao tuổi nhất trong họ. Phong tục Chăm qui định con theo họ mẹ, họ bên mẹ được xem là gần (họ nội). Nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ, đến khi chết đi nhà vợ có trách nhiệm thờ cúng đến hết tang, sau đó mang hài cốt về trả lại cho dòng họ nhà trai tiếp tục thờ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, người con gái út được thừa kế nhà tự để thờ cúng ông bà và phải nuôi dưỡng cha mẹ già.
Nhà ở của người Chăm là một quần thể nhà trong một khuôn viên (bây giờ do việc quy họach phân lô đất theo kiểu nhà liên kế hẹp nên việc phát triển nhà theo quần thể trong một khuôn viên dần không còn nữa). Mối quan hệ của các nhà trong quần thể này đã thể hiện quá trình tan vỡ của hình thái gia đình lớn mẫu hệ để trở thành các gia đình nhỏ.
Nhà ở là nhà sàn, chân rất cao để phòng ngập lụt. Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt hoàn toàn khác với nhà ở Bình Thuận cũng như ở An Giang.
Có những nhóm địa phương khác nhau với lối tạo dáng và trang trí riêng khó lẫn lộn với các tộc người trong nhóm ngôn ngữ hoặc khu vực.
Đàn ông lớn tuổi thường để tóc dài, quấn khăn. Về cơ bản, phụ nữ các nhóm Chăm thường đội khăn.
Nhóm Khánh Hòa và một số nơi, phụ nữ mặc quần bên trong áo dài. Nhóm Chăm Hroi mặc váy quấn (hở) có miếng đáp sau váy.
Nhóm Quảng Ngãi mặc áo cánh xẻ ngực, cổ đeo vòng và các chuỗi hạt cườm.
Trang phục Chăm, vì có nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng. Có thể thấy đặc điểm trang phục là lối tạo hình áo (khá điển hình) là lối khoét cổ và can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp (hoặc can với áo dài) thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài. Mặt khác có thể thấy ở đây duy nhất là tộc còn thấy nam giới mặc váy ở nước ta với lối mang trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng.
Nếu chạy thẳng chúng ta sẽ tới biên giới Campuchia. Chúng ta sẽ vẫn đi theo quốc lộ 91 để đến với huyện Tịnh Biên.
Huyện Tịnh Biên
Tịnh Biên là một huyện của tỉnh An Giang.
Tịnh Biên nằm ở phía tây của Núi Cấm. Từ Tịnh Biên đi Phnôm Pênh khoảng 125 km. Đây là điểm đến thông dụng của khách du lịch nước ngoài du lịch tuyến Campuchia – Việt Nam hay ngược lại. Tại đây có đặc sản là món bò cạp núi nướng giòn.
Tịnh Biên só dân số người Khmer tương đối lớn. Tịnh Biên có quốc lộ 91 nối dài từ của khẩu quốc tế đến thành phố Cần Thơ để giao tiếp với quốc lộ 1.
Thị Trấn Tịnh Biên
Huyện lỵ của huyện Tịnh Biên, là thị trấn biên giới. Gần đấy là cửa khẩu Xuân Tô, là một trong những cửa khẩu chính giữa Campuchia và Việt Nam. Tên Khmer còn gọi là Ca bao. Tịnh Biên cũng được biên phòng coi là điểm nóng của việc buôn lậu thuốc lá, hàng điện tử…
Chợ biên giới Tịnh Biên chủ yếu bán các hàng hóa từ Campuchia và Thái lan, các loại cây trái như: Thốt nốt; trái cây nam bộ; bò cạp núi; rượu rết, vv..
Chạy tới ngã 3 Nhà Bàn, tại đây quốc lộ 91 sẽ chạy tới biên giới campuchia, còn chúng ta sẽ đi theo tỉnh lộ 984. Trước khi qua khỏi huyện Tịnh Biên chúng ta sẽ ghé thăm Núi Cấm
Núi Cấm
Núi Cấm hay Thiên Cấm sơn (tên Khmer: Pnom ta piel hay Pnom po piêl) là một ngọn núi tại địa phận xã An Hảo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang. Núi Cấm nằm cách tỉnh lỵ Long Xuyên 90 km, gần thị xã Châu Đốc. Đây là ngọn núi cao nhất tỉnh An Giang, với độ cao 705 m. Đây là một trong 7 ngọn núi của dãy núi Thất Sơn, Dưới chân núi Cấm về phía Đông là khu du lịch Lâm Viên có cảnh quan đẹp và diện tích khoảng 100 ha phục vụ cho du lịch.
Chạy theo tỉnh lộ 984 chúng ta sẽ tới huyện Tri Tôn
Tri Tôn
Là một huyện miền núi có diện tích lớn nhất và dân cư thưa thớt nhất tỉnh An Giang, cách tỉnh lỵ (Long Xuyên) 52 km về phía Tây.
Phía Đông giáp các huyện Châu Thành, Thoại Sơn, phía bắc giáp huyện Tịnh Biên, phía tây bắc giáp Campuchia, phía nam giáp tỉnh Kiên Giang.
Huyện Tri Tôn có thị trấn Tri Tôn (huyện lị), thị trấn Ba Chúc và các xã Châu Lăng, Lương Phi, Vĩnh Phước, Lương An Trà, Lạc Quới, Vĩnh Gia, Núi Tô, An Tức, Ô Lâm, Cô Tô, Tà Đảnh. Huyện có các di tích lịch sử như Đồi Tức Dụp, nhà mồ Ba Chúc…Thành phần dân tộc bao gồm Kinh, Khmer. Huyện Tri Tôn có các núi Cô Tô, núi Dài, núi Nước thuộc hệ thống Bảy Núi (Thất Sơn).
Ngay đường rẽ đi Long xuyên chúng ta sẽ thấy khu di tích lịch sử Tức Dụp
Tức Dụp
Tức Dụp – người Việt gọi là Tức Dụp – theo tiếng Khmer có nghĩa là nước đêm. Tức Dụp nằm trong dãy núi Cô Tô có độ cao 216m và chu vi khoảng 2.200m. Nhìn từ xa, núi Cô Tô và đồi Tức Dụp trông giống chim phượng hoàng nên còn gọi là Phụng Hoàng Sơn.
Chuyện kể rằng, ngày xưa thuở ban sơ của trời đất, các tiên nữ thường dừng chân trên đỉnh Cô Tô, dạo chơi, tắm giặt hay đùa nghịch. Một hôm các nàng bày trò ném đá xuống chân núi. Ðá rơi chồng chất lên nhau thành ngọn đồi con. Dòng suối tắm đổ xuống chảy qua lòng đụn đá rơi. Từ đó suối và đồi có mặt trong trời đất, bên chân núi Cô Tô của vùng Thất Sơn hùng vĩ.
Một ngày nọ, những người mở đất đến đây. Gặp mùa nắng hạn, khát cháy ruột gan, đêm nằm không ngủ được, bỗng nghe tiếng nước róc rách phát hiện ra giữa quả đồi khô hạn có dòng suối mát chảy qua. Tên gọi Tức Dụp (nước đêm) có từ đó và ngọn đồi trở thành chốn linh thiêng. Vào các ngày lễ, sư sãi và già làng mang lễ vật đến cúng thánh thần, trời đất rồi rước nước suối về phum sóc.
Hiện thực về sơn đạo thép Tây Nam Bộ là vùng đất mầu mỡ phù sa, lắm tôm nhiều cá.mọi thứ ở đây đều được thiên nhiên ưu đãi. Ðồi Tức Dụp được trời đất ban tặng cho một hệ thống hang động chi chít như tổ ong vĩ đại, thông nhau bởi muôn vàn ngõ ngách và kẹt đá. Từ những năm 1940, Tức Dụp đã là nơi ẩn náu của các chiến sỹ cộng sản. Khi bị ruồng bố nhân dân đem bánh trái đến trước cửa hang cúng Trời Phật, nhưng thực ra là tiếp tế cho cách mạng. Từ năm 1960, Tức Dụp là căn cứ của huyện uỷ Tri Tôn và tỉnh uỷ Hà Giang, là chiếc cầu quan trọng đưa các binh đoàn miền Bắc vượt Trường Sơn qua Campuchia toả xuống khắp chiến trường Tây Nam Bộ. Nhiều đám cưới của bộ đội và du kích đã được tổ chức tại đây.
Ðồi Tức Dụp thuộc xã An Ninh huyện Tri Tôn, cách biên giới Campuchia 10 km, ngày nay là điểm du lịch kỳ thú. Các hang động và hàng trăm ngõ ngách vẫn nguyên vẹn như xưa.
Tại thị trấn Tri Tôn có một đường để tới Long Xuyên. Cũng tại đây chúng ta sẽ gặp một con kênh mang tên kênh 8000. Sau đó chúng ta sẽ tới quốc lộ 80 để đến với tỉnh Kiên Giang
Kiên Giang
Diện tích: 6.348,3 km²
Dân số: 1.684,6 nghìn người (năm 2006)
Kiên Giang là một dải đất nằm ở phía tây nam của Tổ quốc. Phía đông và đông nam của tỉnh Kiên Giang giáp với các tỉnh An Giang, Cần Thơ và Hậu Giang, phía nam giáp Cà Mau, phía bắc giáp Cam-pu-chia với đường biên giới dài 54km, ngoài ra còn có hơn 100 hòn đảo lớn nhỏ ngoài vịnh.
Là một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Kiên Giang có những cánh đồng lúa phì nhiêu, có rừng vàng, biển bạc, có hải đảo và đồi núi với nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng về nông sản, hải sản, khoáng sản và du lịch. Nằm ven vịnh Thái Lan, Kiên Giang lưu thông với quốc tế bằng đường biển rất thuận lợi. Nghề chính của tỉnh là nghề nông, nhưng nghề cá cũng rất phát triển. Biển Kiên Giang có những bãi tôm và luồng cá rất lớn với nhiều loại cá ngon: thu, chim, nhám, bạc má, chép, he, cá thiều.
Kiên Giang còn nổi tiếng về nghề làm nước mắm. Kiên Giang có nhiều địa danh nổi tiếng đi vào lịch sử là rừng U Minh, Hòn Đất, Hà Tiên, Phú Quốc… Thiên nhiên đã ưu đãi cho Kiên Giang nhiều danh lam thắng cảnh như “Non nước Hà Tiên”, “Biển trời Phú Quốc”. Địa danh Hà Tiên (cách Rạch Giá 90km về hướng tây bắc) được đánh giá là nơi có nhiều cảnh đẹp (chỉ sau Hạ Long) với nhiều núi non hang động, chùa chiền, lăng mộ và nhiều hòn đảo gần xa.
Tỉnh hiện có ba sân bay Rạch Giá, Phú Quốc và Hà Tiên. Có 9 chuyến bay một tuần từ Tp. Hồ Chí Minh tới sân bay Rạch Giá, 34 chuyến bay một tuần tới sân bay Phú Quốc.
Huyện Kiên Lương
Huyện Kiên Lương nằm phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, có bờ biển và biên giới với Campuchia. Huyện có 1 thị trấn: thị trấn Kiên Lương, 10 xã: Bình An, Bình Trị, Dương Hoà, Hoà Điền, Kiên Bình, Phú Lợi, Phú Mỹ, Tân Khánh Hoà, Vĩnh Điều, Vĩnh Phú và 2 xã đảo: Hòn Nghệ và Sơn Hải.
Diện tích tự nhiên của Huyện là 90.632,25 ha, trong đó diện tích các đảo là 1.012 ha. Địa hình huyện Kiên Lương rất đa dạng, bao gồm đồng bằng, núi và núi đá, hang động, biển, đầm, quần đảo…
Dân số năm 2002 là 93.905 người; mật độ trung bình là 104 người/km². Dân cư ở tập trung nhiều trong thị trấn Kiên Lương.
Kiên Lương nổi tiếng với trữ lượng đá vôi lớn nhất Miền Nam và trữ lượng đất sét lớn, là vùng nguyên liệu khoảng sản lớn cho ngành sản suất vật liệu xây dựng gồm xi măng, vôi, gạch, đá xây dựng. Tại đây có 6 nhà máy nhà máy xi măng đang hoạt động với tổng công suất hiện tại khoảng 5 triệu tấn/năm. Hai Công ty xi măng lớn là Công ty xi măng Hà Tiên 2 và Công ty xi măng Holcim (liên doanh Việt Nam với Thuỵ Sỹ).
Kiên Lương, Hà Tiên và Phú Quốc là tam giác du lịch của Kiên Giang với thế mạnh là du lịch biển. Kiên Lương có Hòn Phụ Tử (đang có kế hoạch phục hồi sau khi đã gẫy hòn Phụ), Bãi Dương, Hòn Trẹm, chùa Hang, và các hang động, đảo ngoài biển.
Quốc lộ 80 đi qua huyện Kiên Lương là huyết mạch giao thông của khu vực này nối thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên và các tỉnh miền Tây khác. Lưu lượng giao thông trên khu vực này khá cao, chủ yếu là do hoạt động du lịch, công nghiệp và giao thương với Campuchia. Ngoài ra còn có tỉnh lộ 11 nối thị trấn Kiên Lương với xã Bình An.
Kiên Lương có cảng nước sâu Hòn Chông có thể tiếp nhận tàu 5000 tấn. tại đây còn có tuyến tàu cao tốc ra Phú Quốc. Nhà máy xi măng Holcim có cảng nước sâu tiếp nhận tầu 8000 tấn.
Tại thị trấn Kiên Lương có nhà máy xi mang HÀ Tiên, nằm ben6phai3 tỉnh lộ
Công Ty Xi Măng Hà Tiên
Là đơn vị chủ lực của Tổng Công Ty Xi Măng Việt Nam tại Miền Nam. Công ty Xi Măng Hà Tiên 2 là một doanh nghiệp nhà nước (trực thuộc Tổng Công ty xi măng Việt nam ) có trụ sở chính đặt tại Thị trấn Kiên Lương, Huyện Kiên Lương, Tỉnh Kiên Giang. Trước nhu cầu phát triển xây dựng, từ những năm 60 – thế kỷ 20, chính quyền Sài Gòn đã chọn vùng Hà Tiên để xây dựng nhà máy xi măng vì nơi đây có vùng nguyên liệu khá lý tưởng cho việc sản xuất. Xi Măng Hà Tiên đã chính thức ra đời từ đó. Nhà máy xi măng Kiên Lương đã được khánh thành vào năm 1964. Lúc này nhà máy chỉ sản xuất Clinker và chuyển về nhà máy Thủ Đức nghiền thành xi măng và đóng bao mang thương hiệu Xi Măng Hà Tiên – nhãn hiệu kỳ lân.
Sau khi thống nhất đất nước (năm 1975 ), Xi Măng Hà Tiên 2 vẫn tiếp tục được sản xuất dưới sự điều hành trực tiếp của các cơ quan quản lý nhà nước. Năm 1983, nhà máy xi măng Kiên Lương và nhà máy xi măng Thủ Đức được hợp nhất thành nhà máy liên hợp Xi Măng Hà Tiên. Từ năm 1985 nhà máy được tiếp tục mở rộng theo công nghệ hiện đại của Pháp. Đến năm 1991, dây chuyền sản xuất Clinker phương pháp khô được hình thành và từ tháng 8/1992, hệ thống nghiền và đóng bao xi măng tại Kiên Lương đã chính thức đi vào hoạt động .
Tiếp tục đi đến ngã 3 Hòn, rẽ trai chúng ta sẽ tới một số điểm tham quan;
Giếng Tiên
Nằm trong khu du lịch An Bình, Giếng Tiên nằm khuất bên kia núi, sát một bên là vách đá dựng đứng, một bên là biển nên không có đường bộ. Tại chùa Hang có một đội tàu đưa khách đi tham quan Giếng Tiên, giá vé 7.000 đồng/ người, đi về khoảng một tiếng đồng hồ. Con tàu chạy chầm chậm qua hòn Phụ Tử cho du khách ngắm cảnh. Hòn Phụ Tử là hai hòn đá, một lớn, một nhỏ, đứng cạnh nhau, giống như hình cha dắt con, đứng sừng sững, chơ vơ, nhìn ra biển cả mênh mông như ngóng trông ai… Chiếc tàu men theo bờ biển với vách đá dựng đứng, lưa thưa những chòm cây, chen lấn giữa những khém, kẹt núi.
Chùa Hang
Trên đường về Hà Tiên (KiênGiang), đến Ba Hòn, rẽ trái khoảng 18km, bạn đã đến khu du lịch Hòn Phụ Tử. Nhưng trước khi đến với hòn Phụ Tử, bạn phải ghé qua chùa Hang, một trong những danh lam cổ tự nổi tiếng của Kiên Giang và cả nước.
Chùa Hang được khám phá vào đầu thế kỷ 18 do các nhà sư Thái Lan và các ngư dân đến đây hoang lập nghiệp. Ngày nay chùa Hang nằm trong hệ thống các chùa do Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam quản lý, Đại đức Thích Minh Nhẫn là sư trụ trì tại đây.
Bước qua cổng tam quan là khoảng sân trống chạy dài tới chân núi An Hải, trước mặt là hang núi khá rộng, dài khoảng 40m, chỗ hẹp nhất cũng vừa khoảng 3 – 4 người đi lọt. Đây là hang động thiên nhiên trong ngọn núi đá vôi bị xâm thực cách đây trên ngàn năm. Trong hang có nhiều thạch nhũ với nhiều hình tượng lạ mắt, kỳ vĩ. Chùa Hang nằm trong đó. Chùa có nhiều pho tượng Phật, đặc biệt có 2 pho tượng Phật Thích Ca đã an vị hơn 300 năm. Hàng năm, chùa Hang tổ chức lễ hội long trọng từ ngày mồng 8 tháng 4 âm lịch kéo dài đến ngày 15 tháng 4 âm lịch.
Hòn Phụ Tử
Từ lâu, hòn Phụ Tử được xem là một danh thắng tiêu biểu của Hà Tiên. Theo truyền thuyết, xưa kia, ở vùng biển này có con thuồng luồng rất hung dữ, hay đánh đắm thuyền bè để ăn thịt ngư dân. Bên chân An Hải Sơn, cạnh chùa Hang, có hai cha con người chài lưới sống. Quá trắc ẩn trước thực trạng này, người cha quyết lòng tiêu diệt con ác thú trừ hại cho bà con. Sau khi tính hết kế, cuối cùng ông thấy chỉ còn cách hy sinh thân mình mới mong giết được con thuồng luồng ác nghiệt này. Thế là ông liền tẩm thuốc độc vào mình, nằm sát mé biển để dụ con ác thú. Thấy mồi ngon, con thuồng luồng đến ăn đứt đầu ông, trúng độc rồi chết. Người con đi tìm cha, bắt gặp xác cha cụt đầu, ôm lấy, khóc thương thảm thiết. Không ngờ chất độc từ người cha thấm qua khiến người con trúng độc rồi chết. Trời nổi giông bão, mưa suốt mấy ngày liền. Và nơi hai cha con nằm mọc lên hai hòn đá lớn và nhỏ. Hòn to là cha và hòn nhỏ là con, người ta gọi là hòn Phụ Tử.
Xi măng Holcim
Công ty Holcim Việt Nam, trước đây là Xi Măng Sao Mai, liên doanh giữa tập đoàn Holcim của Thụy Sĩ – một trong những tập đoàn hàng đầu thế giới về sản xuất và cung cấp xi măng, cốt liệu bê tông, bê tông và các dịch vụ liên quan đến xây dựng – và công ty Xi Măng Hà Tiên 1 thuộc Tổng công ty xi măng Việt Nam, được cấp giấy phép vào tháng 2 năm 1994. Vốn đầu tư của công ty lên đến 440 triệu USD vớI thời gian hoạt động là 50 năm
Tiếp tuc hành trình chúng ta sẽ tới thị xã Hà Tiên
Hà Tiên
Hà Tiên là một thị xã biên giới, tỉnh Kiên Giang, cách thành phố Rạch Giá 90km đường bộ. Hà Tiên là nơi hội tụ của nhiều danh lam thắng cảnh, thiên nhiên hoang sơ đầy quyến rũ: có hang sâu, động hiểm, nhiều đảo đá trên biển; có sông, hồ, chùa, lăng tẩm và nhiều bãi tắm đẹp.
Thị xã Hà Tiên nằm phía Tây Bắc tỉnh Kiên Giang, phía Đông và phía Nam giáp huyện Kiên Lương, phía tây giáp biển Tây, phía bắc giáp Campuchia
Diện tích tự nhiên của thị xã là 8.851,5 ha, trong đó đầm ngập mặn Đông Hồ chiếm 1.047 ha. Địa hình thị xã đa dạng, bao gồm đồng bằng, núi và núi đá, hang động, biển, đầm, quần đảo…
Ngay đầu thị xã là núi Tô Châu, đi thêm một đoạn nửa chúng ta tới cầu phao Đông Hồ và chợ Hà Tiên. Qua khỏi chợ không xa, phía bên phải là Lăng Mạc Cửu
Lăng Mạc Cửu.
Ngày xưa, gần núi Tô Châu có một đảo nhỏ gọi là Tiểu Kim Dữ, nay đã dính vào địa đầu núi này. Đối diện với Tiểu Kim Dữ là Đại Kim Dữ ở bên mé chợ Hà Tiên, họ Mạc đặt tên là “Kim Dữ lan đào” (hòn đảo vàng chắn sóng gió).
Mạc Cửu (hay Mạc Kính Cửu: 1655 – 1735), là một thương gia người Hoa có công khai phá, hình thành đất Hà Tiên và Kiên Giang vào khoảng đầu thế kỷ 18. Ông quê ở Lôi Châu tỉnh Quảng Đông, vì không phục nhà Thanh nên đem gia quyến sang Việt Nam vào thời chúa Nguyễn Phúc Chu
Từ mé Kim Dữ đi về hướng tây vài km là đến núi Lăng tức Bình San. Họ Mạc đặt tên là “Bình san điệp thuý”. Trên núi Lăng có lăng mộ họ Mạc, hiện nay còn khoảng hơn 40 ngôi, có bia đá. Ngôi mộ Mạc Cửu quy mô hơn cả, chiếm địa thế cao nhất. Trước lăng có tượng Mạc Cửu mặc nhung phục, tay cầm kiếm đứng trên một bệ cao oai phong lẫm liệt. Dưới chân núi Lăng có đền thờ họ Mạc, lúc nào cũng mở cửa để khách thập phương đến chiêm bái.
Cách đó không xa là chùa Tam Bảo
Chùa Tam Bảo
Đi trên Quốc lộ 80 hướng từ thành phố Hồ Chí Minh về tỉnh Đồng Tháp, qua khỏi ngã ba Trung Lương, đến địa danh ấp Tân Thuận, xã Tân Nhuận Đông là chùa Tam Bảo khiêm nhường ẩn mình trong xóm làng.
Không giống như một số ngôi chùa hay thiền viện khác thường ẩn mình trong rừng sâu hay nằm trên núi cao tách biệt với thế giới ồn ào náo nhiệt bên ngoài, chùa Tam Bảo nằm ngay trong thôn làng, được bao bọc bởi nhà dân chúng, bởi luống cải, vườn rau. Tuy kiến trúc có vẻ như hiện đại, nhưng với mái chùa cong lợp lá tranh nên vẫn ấp ủ hình dáng của một ngôi chùa miền quê yên bình. Khách phương xa cảm thấy cảnh quan thanh tịnh xa hẳn chốn thị thành với bao nỗi muộn phiền.
Sự ra đời của ngôi chùa này bắt nguồn từ Chùa Tam Bảo, còn được gọi là Thiền đường Tam Bảo, có lẽ là ngôi chùa Thiền tông chuyên tham thiền Thoại Đầu duy nhứt ở vùng đồng bằng sông nước Cửu Long, nơi quy tụ khoảng 200 tăng ni miền Tây về đây kết hạ mỗi năm từ ngày rằm tháng tư đến ngày rằm tháng bảy âm lịch. Ngoài các khoá kết hạ dành cho chư tăng ni, chùa thường xuyên tổ chức định kỳ các khoá thiền thất vào trung tuần mỗi tháng, bắt đầu vào ngày 14 âm lịch, dành cho tăng ni và cư sĩ Phật tử bốn phương. Mỗi khoá qui tụ khoảng 100 hành gỉa tham thiền. Có lẽ nơi đây là một trong hai trung tâm tu học Phật giáo trên toàn nước mở rộng cho số đông cư sĩ Phật tử tại gia đến tu hành tại chùa nhiều ngày đêm dưới mô hình Thiền thất hay Phật thất.
Phù Dung Cổ Tự
Chùa Phù Dung do Mạc Thiên Tích cho xây tặng người thứ thiếp Phù Cừ. Hãy đi lên núi đến mộ của bà Phù Cừ thắp một nén hương tưởng niệm người xưa. Tháp đá 7 tầng núi Đề Liên bên cạnh gắn liền với cây đa cổ thụ bao đời cổ kính.
Chạy thẳng quốc lộ 80, khi gần tới con đường dẫn ào cửa khẩu Xà Xía, nhìn bên phải là Thạch Động
Thạch Động Hà Tiên
Từ Trung tâm thị xã Hà Tiên theo quốc lộ 80 đi về hướng biên giới Việt Nam – Cam-pu-chia độ 3km, du khách đã trông thấy một khối đá vôi khổng lồ cao chừng 50m, đứng sừng sững trên một vùng đất trống.
Khi leo lên một đoạn dốc là đến trước cửa động, phía trên có đề ba chữ “Tiên Sơn Tự”, hai bên là hai câu đối “Thạch thượng linh lung lưu ngọc dịch; Đặng trung tĩnh địa ẩn Kim tiên”. Bước vào bên trong động, một bầu không khí mát lạnh lan tỏa khắp nơi. Cũng giống như các hang động đá vôi khác, ánh sáng bên trong Thạch Động mờ ảo lung linh. Hang khá rộng và sâu, những khối thạch nhũ mang đủ hình thù kỳ dị, có người tưởng tượng là con trăn tinh trong chuyện cổ tích thần thoại, có hình thù giống các muông thú, có hình lại giống một người đàn bà mà theo dân gian truyền tụng, thì đó là Phật bà Quan Âm, có tượng thì cho đó là Thạch Sanh…
Và, cũng theo truyền thuyết dân gian, câu chuyện Thạch Sanh chém trăn tinh ở hang sâu lại gắn liền với Thạch Động này. Có lẽ vì thế mà phần lớn người Khơ-me sống quanh vùng đều mang tên họ Thạch chăng? Ở đây, trước kia có một cái hang sâu thăm thẳm và khá nguy hiểm cho những khách tham quan có óc tò mò, khám phá khi vào hang động nên người địa phương đã lấp miệng hang từ lâu. Tương truyền, hang động này ăn thông ra vịnh Thái Lan nên một khi thả những trái dừa xuống hang sẽ có thể tìm thấy nó ở bãi biển Mũi Nai sau đó.
Chạy thẳng quốc lộ 80 chúng ta sẽ đến với biển Mũi nai
Quyến Rũ Mũi Nai – Hà Tiên
Hà Tiên (Kiên Giang) là một thị xã biên giới tiếp giáp với Campuchia. Nơi đây được thiên nhiên ưu đãi với nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng. Nếu có dịp ghé thăm Hà Tiên, không đến Mũi Nai là có phần thiếu sót. Cát biển Mũi Nai nâu sậm, khi những làn sóng chồm lên, quyện vào, một màu đen nhánh hiện ra, thật lạ lùng. Theo người dân địa phương, màu đen này là do cát biển nơi đây chứa rất nhiều bùn. Mà bùn lại là một chất dưỡng da tuyệt hảo. Một ngày nằm đắp cát bùn trên bãi biển sẽ giúp bạn có một làn da rám nắng rất rắn rỏi.
Biển Mũi Nai thoai thoải, khá nông nên rất an toàn khi tắm. Khu du lịch Mũi Nai đã xây dựng một công viên nước mini ngay sát biển dành cho trẻ em, các bé có thể tha hồ nghịch sóng, chơi cát, trượt nước mà phụ huynh chẳng phải lo ngại gì cả. Cạnh bãi tắm là một cái “chợ” nhỏ, bán đủ sản vật biển tươi sống.
Hòn Đất
Hòn Đất là huyện có diên tích tự nhiên lớn nhất của tỉnh Kiên Giang, huyện lỵ là thị trấn Hòn Đất. Hòn Đất là huyện thị thứ ba của tỉnh Kiên Giang kể từ Biên giới Việt Nam – Campuchia (thứ tự lần lượt là thị xã Hà Tiên, huyện Kiên Lương, huyện Hòn Đất). Phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía tây bắc giáp huyện Kiên Lương), phía đông nam giáp thành phố Rạch Giá, phía đông giáp huyện huyện Tân Hiệp, đông bắc giáp huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang). Trên địa bàn huyện có một ngọn núi cùng tên là Hòn Đất cao 260 m.
Dân số huyện Hòn Đất năm 1999 là 137.600 người, chủ yếu gồm ba dân tộc: Kinh, Khmer, Hoa. Huyện có nhiều anh hùng liệt sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam tiêu biểu là nữ anh hùng Phan Thị Ràng, nguyên mẫu của nhân vật chị Sứ (nhân vật chính) trong tác phẩm “Hòn Đất” của nhà văn Anh Đức.
Hòn Đất là nơi có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Kiên Giang. Nơi có diện tích lúa lớn nhất tỉnh khoảng 60.000 ha. Đây là vùng có tiềm năng phát triển mạnh về du lịch lẫn nông nghiệp. Thủy hải sản là tiềm năng mạnh của vùng, kinh tế vùng này nổi tiếng hơn các huyện khác với sự giàu có và là khu vực phát triển mạnh. Hiện tại lúa vẫn là chủ chốt đem lại hiệu quả cao.
Qua khỏi cầu Vàm Rầy,quốc lộ 80 chia làm hai hướng, một hướng đi Rạch giá và một hướng đi huyện Kiên Lương.
Rạch Giá
Rạch Giá là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Kiên Giang. Phía Đông thành phố giáp các huyện Tân Hiệp và Châu Thành; phía Tây giáp vịnh Thái Lan; phía Nam giáp các huyện Châu Thành và An Biên; phía Bắc giáp các huyện Hòn Đất và Tân Hiệp.
Thành phố Rạch Giá là nơi đầu tiên Việt Nam tiến hành việc lấn biển để xây dựng đô thị mới. Khu lấn biển mở rộng thành phố thành một trong những khu đô thị mới lớn nhất vùng Tây Nam Bộ
Hàng năm vào tháng 8 âm lịch tổ chức lễ tế anh hùng Nguyễn Trung Trực.
Ở đây có các di tích lịch sử như: Đình thần Nguyễn Trung Trực, Chùa Tam Bảo, Đình thần Vĩnh Hòa, Mộ Huỳnh Mẫn Đạt, Chùa Phật Lớn, Chùa Láng Cát, Bảo tàng Kiên Giang,Chùa Quan Đế…
Hiện tại tại Rạch Giá có 2 bến xe lớn: bến xe Rạch Sỏi (chủ yếu đi về các huyện và tỉnh lân cận theo quốc lộ 61 và 63) và bến xe Rạch Giá (chủ yếu đi TP Hồ Chí Minh và đi Hà Tiên). Mạng lưới giao thông xe buýt có khá sớm. Hiện tại, sân bay Rạch Giá (tên trước đây là sân bay Rạch Sỏi) là sân bay lớn nhất ở Rạch Giá. Sân bay Rạch Giá có các chuyến bay của Hãng Hàng không Quốc gia Việt Nam đi 2 chiều đến cả Thành phố Hồ Chí Minh và Phú Quốc.T P Rạch Giá có 2 bến tàu khách lớn: bến tàu du lịch Rạch Giá hay bến tàu Phú Quốc (đi Phú Quốc và các đảo lớn như Phú Quốc, Hòn Tre, Hòn Sơn, Thổ Chu,..) và bến tàu Rạch Mẽo (đi về các xã vùng sâu thuộc các huyện ở bán đảo Cà Mau). Tàu cao tốc là lựa chọn ít tốn kém hơn cho những ai muốn ra đảo Phú Quốc hay huyện Kiên Hải.
Tại trung tâm Rạch Giá có 1 con đường tới bến tàu đi Phú Quốc, trên con đường này chúng ta sẽ đi qua đền thờ Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực
Nguyễn Trung Trực(1839–1868) là vị thủ lĩnh phong trào khởi nghĩa chống Pháp ở Tân An (nay thuộc Long An) và Rạch Giá (nay thuộc Kiên Giang), cuối thế kỷ 19 tại Nam Kỳ.
Sinh ra dưới thời Minh Mạng, thuở nhỏ ông có tên là Chơn, từ năm Kỷ Mùi 1859 đổi là Lịch (Nguyễn Văn Lịch), và cũng từ tên Chơn ấy cộng với tính tình ngay thật, nên thầy dạy học của ông đặt tên hiệu cho ông là Trung Trực.
Nguyên quán gốc Nguyễn Trung Trực ở xã Vĩnh Hội, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Ông nội là Nguyễn Văn Đạo, cha là Nguyễn Văn Phụng tức Thăng, mẹ là bà Lê Kim Hồng.
Lúc nhỏ, ông rất hiếu động, thích học võ nên khi lớn lên ông là người có thể lực khoẻ mạnh, giỏi võ nghệ và là người có nhiều can đảm, mưu lược.
Tháng 2 năm 1859, Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Vốn xuất thân là dân chài, nằm trong hệ thống lính đồn điền của kinh lược Nguyễn Tri Phương, nên ông sốt sắng theo và còn chiêu mộ được một số nông dân vào lính để gìn giữ đại đồn Chí Hòa, dưới quyền chỉ huy của Trương Định.
Năm 1861, nhờ lập được công lao, nên ông được triều đình phong chức Quyền sung Quản đạo” nên còn được gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch.
Nghĩa quân dưới quyền lãnh đạo của ông gồm một số nhà yêu nước: Lâm Quang Ky, Hoàng Khắc Nhượng, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Học, Hồ Quang v.v…
Sau khi 3 tỉnh miền Đông Nam Bộ mất (hòa ước Nhâm Tuất 1862), Nguyễn Trung Trực rút về hoạt động ở ba tỉnh miền Tây. Đầu năm 1867, ông ra Huế nhậm chức Lãnh binh, đến giữa năm 1867, lại về Hà Tiên giữ chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất này.
Khi thành Hà Tiên thất thủ ngày 23 tháng 6 năm 1867, ông theo lệnh triều đình rút quân về Bình Thuận mà đưa quân về lập căn cứ ở Hòn Chông (nay thuộc xã Bình An, huyện Hòn Chông, tỉnh Kiên Giang)
Pháp phủ dụ Nguyễn Trung Trực qui thuận không được nên vào ngày 27 tháng 10 năm 1868, đô đốc toàn quyền Nam Kỳ G.Ohier cho đưa ông về lại Rạch Giá và đã sai một người khmer trên Tưa (người dân thường gọi ông là Bòn Tưa) đưa ông ra hành hình tại chợ Rạch Giá, hưởng dương khoảng 30 tuổi.
Và cũng chính nhà vua này đã sắc phong ông làm Thượng Ðẳng Linh Thần, thờ tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá nơi ông đã hiên ngang thà chịu chết chớ không chịu đầu hàng Pháp. Đã rất nhiều năm qua, dân làng Vĩnh Thanh Vân, nhất là những ngư dân, luôn tôn kính và tự hào về Nguyễn Trung Trực, một người xuất thân từ giới dân chài áo vải, vậy mà đã trở thành một vị anh hùng, đúng với ý nghĩa: “Sống làm Tướng và chết làm Thần!” và “anh khí như hồng”, nghĩa là khí tiết của người anh hùng rực rỡ như cầu vồng bảy sắc.
Sau khi ông bị hành hình, dân chúng cảm thương vô cùng nên đã bí mật thờ ông như một vị anh hùng trong đền thờ Nam Hải đại vương (cá Ông hay cá Voi), chính là ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực tại TP. Rạch Giá hiện nay.
Nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long…nhân dân đã lập đền thờ ông và hằng năm đều có tổ chức lễ tưởng niệm trọng thể. (Đình Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá tổ chức lễ giỗ vào các ngày từ 27 đến 29 tháng 8 âm lịch. Đình và mộ nơi này đã được công nhận là di tích Lịch–Văn hóa cấp quốc gia vào ngày 06 tháng 12 năm 1989).
Từ trung tâm rạch giá, chạy thêm một đoạn nữa là tới cổng Tam Quan.
Cổng Tam Quan
Vừa qua cống Rạch Mẻo theo con dốc đổ vào thị xã Rạch Giá, hình ảnh đầu tiên đập vào mắt tôi là cách cấu trúc sống động của cổng Tam Quan
Vào thời Đệ Nhất Cộng Hoà, một trong những vị Tỉnh Trưởng Rạch Giá muốn lưu lại một cái gì đặc biệt cho tỉnh nhà nên mới phát sinh công trình này. Cổng tam quan do nhà thầu khoán Mười Cối dựng nên qua họa đồ kiến trúc của thầy Lộc, một nhân viên công chánh địa phương.
Tới ngã 3 rạch sỏi rẽ phải là quốc lộ 61 đi Hậu Giang, đi thẳng tiếp tục quốc lộ 80 chúng ta sẽ đi qua sân bay Rạch Giá
Sân Bay Rạch Giá
Sân bay Rạch Giá nằm ở thành phố Rạch Giá, tỉnh lỵ của tỉnh Kiên Giang, cực tây nam Việt Nam.
Sân bay nhỏ này thuộc sự quản lý của Cụm cảng Hàng không miền Nam (SAA), một cơ quan của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.
Cảng hàng không Rạch Giá thuộc địa phận huyện Kiên Thành, tỉnh Kiên Giang, ở cách trung tâm thị xã Rạch Giá 7km về phía Nam, cách thị trấn Rạch Sỏi 1km về phía đông; phía đông và phía Tây nam Cảng hàng không là ruộng lúa ao hồ, phía Bắc giáp quốc lộ 80.
Trước 1975 sân bay Rạch Giá là một căn cứ không quân.
Qua khỏi sân bay Rạch Giá chúng ta sẽ tới huyện Tân Hiệp rồi qua thị trấn Tân Hiệp sẽ đến Cần Thơ.
Cần Thơ
Cần Thơ nằm trên bờ phải Sông Hậu, cách Thành phố Hồ Chí Minh 169 km về phía tây nam. Diện tích nội thị 53 km². Thành phố Cần Thơ có diện tích 1.389,59 km² và dân số 1,112 triệu.
Cần Thơ được biết đến như là “Tây Đô” (thủ đô của miền Tây) của một thời rất xa. Cần Thơ nổi danh với những địa điểm như bến Ninh Kiều, phà Cần Thơ… Hiện nay, dự án cầu Cần Thơ đang được xúc tiến triển khai, hứa hẹn một tương lai phát triển hơn cho miền đồng bằng trù phú này.
Đến Cần Thơ, du khách có thể đến thăm bến Ninh Kiều, nơi bến sông suốt ngày tàu thuyền xuôi ngược, nơi có các khu chợ nổi nổi tiếng. Chợ nổi Cái Răng thường họp khá sớm, từ lúc mờ sáng đến khoảng 8, 9 giờ thì vãn, chuyên mua bán các loại trái cây, nông sản của vùng. Chợ nổi Phong Điền: họp suốt cả ngày. Các loại dịch vụ ăn uống, hớt tóc, may vá… cũng diễn ra ngay trên ghe, xuồng, rất tiện dụng và dường như thoả mãn mọi nhu cầu mua sắm, sinh hoạt đời thường của người dân.
Ngoài sông nước, Cần Thơ còn hấp dẫn du khách bằng các vườn cây trái: vườn Mỹ Khánh, Phong Điền, Tây Đô: nơi có không khí trong lành mát mẻ và rất nhiều trái chín.
Vườn cò Bằng Lăng cũng là một điểm nhấn không thể không tới khi đã đến Cần Thơ.
Chưa hết du khách có thể đến thăm vườn lan Cần Thơ_ một trong ít chứng tích của giới địa chủ kết hợp với thực dân cai trị còn sót lại trong vùng đồng bằng sông Cửu Long còn tương đối nguyên vẹn. Du khách đến đây có thể ngắm rất nhiều lan lạ, xương rồng quý, đồ cổ…
Ngoài ra, chùa Ông, chùa Khánh Quang, khu du lịch Ba Lang, Đình Bình Thuỷ, các làng nghề như làng hoa Thới Nhựt, làng đan lưới Thơm Rơm, làng đóng ghe xuồng ngã Bảy Phụng Hiệp… cũng là những điểm du lịch thú vị.
Nếu đến thăm Cần Thơ vào đúng dịp lễ vía Quan Thánh Đế Quân vào đúng ngày 26/6 âm lịch hoặc lễ vía Thiên Hậu Thánh Mẫu 23 tháng 3 âm lịch, du khách có thể đến đền Ông, xem đấu giá đèn lồng làm từ thiện, xem múa lân, múa sư tử, văn nghệ…
Ẩm thực Cần Thơ có cá Bông Lau, ốc nướng tiêu, bánh Cống, bánh Tét…
Tới Cần Thơ chúng ta sẽ đi qua quận Thốt Nốt
Quận Thốt Nốt
Quận Thốt Nốt là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ. Năm 2003 huyện Thốt Nốt được tách thành 2 huyện: Thốt Nốt và Vĩnh Thạnh. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập huyện Vĩnh Thạnh, huyện Thốt Nốt có 21.230,04 ha diện tích tự nhiên và 213.067 nhân khẩu.
Phía đông giáp quận Ô Môn; phía tây giáp huyện Vĩnh Thạnh và tỉnh An Giang; phía nam giáp huyện Vĩnh Thạnh, huyện Cờ Đỏ; phía bắc giáp tỉnh Đồng Tháp.
Hiện nay một khu công nghiệp đang được xây dựng ở Thốt Nốt với tổng diện tích xây dựng giai đoạn I là 22,5 ha. Khu này được định hướng là khu công nghiệp năng động thứ ba của thành phố Cần Thơ, sau khu công nghiệp Trà Nóc và Hưng Phú.
Tiếp tục chạy thẳng sẽ đến 1 ngã 3, đây là quốc lộ 91 đi thành phố Long Xuyên. Đi thêm một đoạn nữa cũng sẽ gặp 1 ngã 3 nữa và đây cũng là quốc lộ 91. Rẽ phải theo quốc lộ này chúng ta sẽ đến với vườn cò Bằng Lăng.
Vườn cò Bằng Lăng
Vườn cò Bằng Lăng thuộc ấp Thới Bình, xã Thới Thuận, huyện Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ. Qua khỏi bắc Vàm Cống, từ ngã ba Lộ Tẻ xuôi theo Quốc lộ 80 khoảng 80 km, có cây cầu bắc qua con rạch nhỏ, cầu và rạch đều mang tên Bằng Lăng. Từ quốc lộ vào vườn cò chừng hơn 1 km nữa. Chủ vườn cò là ông Nguyễn Ngọc Thuyền, dân ở đây thường gọi là ông Bảy Cò. Theo lời ông Bảy Cò thì vườn cò Bằng Lăng được hình thành từ năm 1983 theo kiểu tự phát. Vùng này trước kia là ruộng lúa, quanh bờ có một số tre, trúc, tầm vông, dừa nước, trâm bầu, me nước, mù u…
Ban đầu chỉ có vài chục con đậu lại. Chẳng những không xua đuổi, ông Bảy Cò còn đào mương, thả cá để cò sinh sống và tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho cò trú ngụ. Từ đó đến nay, vườn cò của ông được mở rộng thêm, có diện tích 12.500 m2 và số lượng cò từ 100.000 con – 150.000 con, gồm hơn 20 chủng loại. Vườn cò Bằng Lăng cũng là loại vườn chim độc đáo nhất nước. Sau khi qua hai cổng cầu vồng bằng tre du khách sẽ được dịp leo lên “đài quan sát” cao 8m để ngắm nhìn thoải mái khu vườn cò. Các loại cò sống ở đây gồm cò ruồi, cò cá, cò ngà, cò ma, cò xanh, cò lép, cò đúm, cò sen, cò quắm
Cò đẻ trung bình mỗi lứa 4 trứng (mỗi ngày đẻ 1 trứng). Thời gian ấp là 17 ngày, tổng cộng cả thời gian đẻ và ấp là 21 ngày. Mỗi năm cò đẻ 4 lứa. Cò con chỉ 5 tuần lễ là biết bay, sáu tháng tuổi thì cò trưởng thành.
Qua hết quận Thốt Nốt là đến với quận Ô Môn.
Quận Ô Môn
Quận Ô Môn có 12.557,26 ha diện tích tự nhiên và 127.889 nhân khẩu, có 6 đơn vị hành chính trực thuộc gồm các phường: Châu Văn Liêm, Thới Hoà, Phước Thới, Trường Lạc, Thới An và Thới Long.
Tại quận này sẽ có con đường dẫn vào nông trường Sông Hậu. Hết quận Ô Môn là tới thành phố Cần Thơ. Ngay đầu thành phố là khu công nghiệp Trà Nóc
Khu Công Nghiệp Trà Nóc
Khu CN Trà Nóc 1 & 2 nằm liền kề nhau, tổng diện tích quy hoạch:300 ha, nằm cách trung tâm Tp Cần Thơ 10 Km về phía Bắc, cách sân bay Trà Nóc 2 km, cách Cảng Cần Thơ 3 km; nằm sát bờ sông Hậu, đường sông chính giao lưu trong nước và quốc tế; ngược dòng phía Bắc đi Campuchia, xuôi dòng qua cảng Cần Thơ, cảng Cái Cui đi ra biển Đông ( cửa Định An) ; nằm sát Quốc lộ 91A đi các tỉnh ĐBSCL.
Định hướng phát triển ngành nghề: Khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp không gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đai như: Chế biến lương thực, thực phẩm; Các ngành công nghiệp cơ khí, điện, điện tử, sản xuất phụ tùng máy móc, công nghiệp ô tô, công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, dược…
Trước khi tới bến Ninh Kiều thì sẽ đi qua Đình Bình Thủy.
Đình Bình Thủy
Đình Bình Thủy là một đình thần tại Thành phố Cần Thơ. Đình Long Tuyền, là một công trình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật của một vùng đất mới khai phá thuộc miền Tây Nam bộ. Đình được dựng vào năm Giáp Thìn (1844), do đình tọa lạc tại phường Bình Thủy (Thành phố Cần Thơ) nên người dân nơi này còn gọi là Đình Bình Thủy.
Đình Bình Thủy có sự đổi tên như vậy là do lúc khởi nguyên được dựng tại Bình Thủy. Nhưng đến đầu thế kỷ 20, Bình Thủy lại có tên khác là Long Tuyền (do rạch Bình Thủy có hình tựa con Rồng nằm) và nhân dân nơi đây còn gọi là đình thần Long Tuyền hay Long Tuyền Cổ Miếu (Long Tuyền còn là một làng cổ ở miền tây Nam bộ, nên còn được gọi là Làng cổ Long Tuyền, đây cũng là nơi sinh ra cụ Thủ khoa Nghi Chi Bùi Hữu Nghĩa).
Đến năm 1979 xã Long Tuyền được chia làm 3 đơn vị hành chính là: phường Bình Thủy, phường An Thới và xã Long Tuyền, và đình nằm trong phạm vi phường Bình Thủy. Cho nên đình thần Long Tuyền hay đình Long Tuyền lại quay trở về tên nguyên gốc là đình Bình Thủy, và tên này tồn tại cho đến ngày nay.
Đình Bình Thủy nằm sát với khu cư dân được bao quanh bởi hàng rào tứ giác: Mặt Bắc cách bờ sông Hậu khoảng 200 m, mặt Đông là bờ con rạch Bình Thủy, còn mặt Nam sát đường Lê Hồng Phong. Từ trung tâm Thành phố Cần Thơ, nếu đi theo đường Nguyễn Trãi qua đường Cách mạng tháng tám và Lê Hồng Phong 5 km là tới đình Bình Thủy.
Đình Bình Thủy thuộc loại di tích kiến trúc tôn giáo và công trình nghệ thuật độc đáo. Nay Đình nằm trên khoảnh đất rộng hơn 4000 m². Cách kiến trúc ngôi đình này khác rất nhiều so với kiến trúc ở miền Bắc. Đình được cất trên một nền cao ráo và có chiều sâu, nhà trước và nhà sau đều là hình vuông nên chiều nào cũng có 6 hàng cột, các chân cột đều choãi ra làm cho đình càng thêm vững chắc.
Tại tòa tiền đường có bàn thờ Nghi Hạ, Nghi Trung đặt ở gian giữa. Nơi nhà vuông nhỏ đặt bàn thờ Nghi Thượng dùng làm lễ chính của các ngày lễ hội.
Chính giữa nhà là bàn thờ chính, bên trái sát vách phía ngoài là bàn thờ Hương chức Tiên Giác, phía trong là bàn thờ Hậu tiền. Đối diện ở sát vách bên phải là bàn thờ chức sắc Tiên Giác và bàn thờ Tiền Hiền. Sát vách trong cùng ở gian giữa có bàn thờ Hậu thần, hai bên là hai bàn thờ Hữu Bang và Tả Bang. Bên ngoài đình có hai miếu lớn thờ thần Nông và thần Hổ, gần cổng có hai miếu thờ thần Rừng và thần Khai kênh dẫn nước.
Đình Bình thủy là một công trình có giá trị về kiến trúc nghệ thuật. Tuy được xây dựng vào đầu thế kỷ 20 nhưng kiến trúc của đình còn giữ được nhiều yếu tố kiến trúc truyền thống của dân tộc.
Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức các ngày lễ Thượng điền, Hạ điền rất đông vui. Lễ hội có không khí náo nhiệt vui tươi của hội làng, với các trò chơi dân gian như thả vịt, kéo co, hát bội, hát tiều, nữ công gia chánh v.v. được duy trì phong phú từ xưa cho đến nay. Hội đình Bình Thủy là một trong 3 hội đình lớn nhất miền Tây.
Qua hết đình Bình Thủy chúng ta sẽ thấy 1 ngã 3 nằm bên tay trái, rẽ theo con đường này sẽ tới bến Ninh Kiều
Bến Ninh Kiều.
“Cần Thơ có bến Ninh Kiều. Có dòng sông đẹp với nhiều giai nhân.”
Bến Ninh Kiều nằm bên hữu ngạn sông Hậu, ngay ngã ba sông Hậu và sông Cần Thơ, gần trung tâm thành phố Cần Thơ. Trên bến sông luôn tấp nập tàu bè, thuyền xuôi ngược chở đầy những sản vật vùng đồng bằng sông Cửu Long.
Bên Bến Ninh Kiều là cảng Cần Thơ. Cảng này được xây dựng hiện đại có khả năng tiếp nhận trọng tải 5.000 tấn, gần bến Ninh Kiều có chợ Cần Thơ, một trung tâm buôn bán lớn ở miền Tây Nam Bộ.
Bến Ninh Kiều xưa được khai sinh là một bến sông ở đầu chợ Cần Thơ. Ninh Kiều ngày ấy tấp nập thuyền bè qua lại giao thương, hàng cây dương chắn gió ven bờ đã trở thành tên gọi của bến sông. Việc giao thương mỗi ngày thêm phồn thịnh, bến Hàng Dương do đó cũng được mở rộng và sửa sang, rồi dần dần trở thành thắng cảnh du lịch của đất Tây Đô.
Đến bến Ninh Kiều, du khách còn có thể tham quan các nhà hàng thuỷ tạ, chợ nổi trên sông, vừa thưởng thức các món ăn đặc sản, vừa ngắm dòng sông Hậu hiền hòa, thơ mộng.
Trước khi vào quận Cái Răng thì chúng ta sẽ thấy trường Đại Học Cần Thơ nằm phía bên phải của quốc lộ.
Đại Học Cần Thơ
Đại học Cần Thơ (ĐHCT), cơ sở đào tạo đại học và sau đại học trọng điểm của Nhà nước ở ĐBSCL, là trung tâm văn hóa – khoa học kỹ thuật của vùng. Trường đã không ngừng hoàn thiện và phát triển, từ một số ít ngành đào tạo ban đầu, Trường đã củng cố, phát triển thành một trường đa ngành đa lĩnh vực. Hiện nay Trường đào tạo 47 chuyên ngành đại học, 15 chuyên ngành cao học và 05 chuyên ngành nghiên cứu sinh.
Nhiệm vụ chính của Trường là đào tạo, nghiên cứu khoa học (NCKH), chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển kinh tế – xã hội trong vùng. Song song với công tác đào tạo, ĐHCT đã tham gia tích cực các chương trình NCKH, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm giải quyết các vấn đề về khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá và xã hội của vùng. Từ những kết quả của các công trình NCKH và hợp tác quốc tế, Trường đã tạo ra nhiều sản phẩm, qui trình công nghệ phục vụ sản xuất, đời sống và xuất khẩu, tạo được uy tín trên thị trường trong nước và quốc tế.
Và bây giờ chúng ta đã tới quận Cái Răng
Quận Cái Răng
Quận Cái Răng là một đơn vị hành chính trực thuộc thành phố Cần Thơ, được thành lập 02 Tháng 01 năm 2004 của Chính phủ.
Quận Cái Răng được thành lập trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của phường Hưng Phú, xã Hưng Thạnh (thuộc thành phố Cần Thơ cũ); Quận Cái Răng có 6.253,43 ha diện tích tự nhiên và 74.942 nhân khẩu.
Đông giáp tỉnh Vĩnh Long; Tây giáp huyện Phong Điền; Nam giáp tỉnh Hậu Giang; Bắc giáp quận Ninh Kiều.
Đến đây các bạn sẽ được đi chợ nổi, một nét văn hóa độc đáo của miền sông nước.
Chợ Nổi Cái Răng
Chợ nổi Cái Răng là chợ chuyên mua bán nông sản, các loại trái cây nằm ỏ quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Cái Răng là một trong những chợ trên sông nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ. Chợ chuyên mua bán các loại trái cây, nông sản của vùng. Sáng sáng, hàng trăm chếc thuyền lớn bé đậu san sát. Bán sản vật gì người ta treo sản vật đó (treo bẹo) lên cây sào (cây bẹo) trên mũi thuyền. Do nhu cầu của người đi chợ nên không chỉ có các xuồng trái cây, nông sản phẩm mà còn có nhiều loại dịch vụ khác: phở, hủ tiếu, cà phê, quán nhậu nổi… Các xuồng dịch vụ (thường là thuyền nhỏ) len lỏi rất thiện nghệ áp mạn phục vụ khách đi chợ tận tình và chu đáo, ngay cả khi sóng rập rình.
Chợ Cái Răng thường họp khá sớm, thường từ lúc mờ sáng và đến khoảng 8, 9 giờ thì vãn. Những ghe bầu lớn thường chuyên thu mua trái cây để chở đi các nơi, kể cả sang Cam-pu-chia và Trung Quốc. Lại cũng có những ghe bầu chở các mặt hàng khác cung cấp cho bà con miệt vườn: xăng dầu, muối mắm, thuốc tây, bánh kẹo, nhu yếu phẩm…
Qua khỏi cầu Cái Răng chúng ta sẽ tới vườn Mỹ Khánh
Mỹ Khánh
Mỹ Khánh – điểm Du lịch sinh thái hấp dẫn nhất tại Đồng Bằng Sông Cửu Long. Với diện tích 50.000m2, nằm ngay trên lộ vòng cung lịch sử giữa hai Chợ nổi Cái Răng và Phong Điền, thuận lợi cho việc tham quan cả đưởng thủy lẫn đường bộ. Với hơn 20 loại trái cây, hệ thống nhà nghỉ Bungalow, nhà xưa Nam Bộ, đàn ca tài tử, karaoke, tổ chức tiệc, hội nghị, họp mặt, các trò chơi tham quan…
Rời vườn Mỹ Khánh, qua cầu Đầu Sấu ta đến tỉnh Hậu Giang.
Hậu Giang
Hậu Giang là một tỉnh ở đồng bằng sông Cửu Long, cách Thành phố Hồ Chí Minh 240 km về phía Tây Nam.
Hậu Giang là tỉnh ở trung tâm đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh lỵ là thị xã Vị Thanh. Phía bắc giáp thành phố Cần Thơ; phía nam giáp tỉnh Sóc Trăng; phía đông giáp sông Hậu và tỉnh Vĩnh Long; phía tây giáp tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu.
Thị xã Vị Thanh cách Thành phố Cần Thơ khoảng 60 km.
Địa hình khá bằng phẳng.
Khí hậu điều hoà, ít bão, quanh năm nóng ẩm, không có mùa lạnh. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau.
Thị xã Tân Hiệp
Thị xã Tân Hiệp của tỉnh Hậu Giang bây giờ đổi tên là Ngã bảy.
Ngã Bảy là một thị xã thuộc tỉnh Hậu Giang, đổi tên từ thị xã Tân Hiệp. Thị xã Ngã Bảy (Tân Hiệp) phía đông giáp tỉnh Sóc Trăng, phía tây và nam giáp huyện Phụng Hiệp, phía bắc giáp huyện Châu Thành.
Ngã Bảy cách thị xã Vị Thanh – tỉnh lỵ Hậu Giang – hơn 70 km (đường quốc lộ), nhưng lại có những đặc điểm thuận lợi về vị trí địa lí và điều kiện phát triển giao thông, giao thương: nằm trên tuyến quốc lộ 1A, giữa trung tâm thành phố Cần Thơ và tỉnh lỵ Sóc Trăng (mỗi địa điểm cách Ngã Bảy khoảng 30 km).
Thị xã Tân Hiệp có diện tích 7.894,93 ha, dân số 61.024 người (năm 2005) và gồm 3 phường (Ngã Bảy, Lái Hiếu, Hiệp Thành) và 3 xã (Hiệp Lợi, Đại Thành, Tân Thành).
Từ năm 1915, thị tứ Phụng Hiệp đã được hình thành ở nơi giao nhau của 7 ngã sông, nơi có chợ nổi Ngã Bảy huyền thoại.
Thị xã Tân Hiệp được thành lập ngày 26 tháng 7 năm 2005, theo đó, huyện Phụng Hiệp được tách thành 2 đơn vị hành chính mới: thị xã Tân Hiệp (nâng cấp từ thị trấn Phụng Hiệp) và huyện Phụng Hiệp mới. Tên gọi “Tân Hiệp” đầy xa lạ đã gặp nhiều ý kiến không đồng tình của người dân.
Vì vậy đầu năm 2007 nhân dân vùng này kiến nghị chính quyền về việc dời chợ về vị trí củ và đổi bỏ tên Thị Xã Tân Hiệp mà lấy là Ngã Bãy hoặc Phụng Hiệp.
Đặc biệt, chợ nổi Ngã Bảy được xem là lâu đời và sầm uất nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long, với lượng ghe tàu hợp thương lên đến hàng ngàn chiếc mỗi ngày. Sau khi chia tách, chợ nổi bị dời về phía rạch Ba Ngàn (cách vị trí cũ trên 3km) vì lý do an toàn giao thông thủy. Vì vậy, sự sầm uất và nét đẹp đặ trưng cũng giảm đi đáng kể. Hiện nay, Bộ Thương mại và chính quyền tỉnh Hậu Giang đang ra sức khôi phục lại chợ nổi đặc trưng này.
Hiện Ngã Bảy đang được quy hoạch, ưu đãi khuyến khích đầu tư để trở thành một đô thị vệ tinh của Cần Thơ, một trung tâm thương mại – du lịch thứ hai của tỉnh Hậu Giang.
Đến ngã ba Cái Tắc, rẽ phải là đến Chiến thắng Tầm Vu, và huyện Vị Thanh.
Vị Thanh
Vị Thanh là thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Hậu Giang. Năm 1971, dân số của Vị Thanh là 24.477 người.
Vị Thanh nguyên là tỉnh lỵ của tỉnh Chương Thiện dưới thời Việt Nam Cộng Hoà. Nhiều người còn biết đến Vị Thanh vì đây là nhiệm sở cuối cùng của đại tá tỉnh trưởng Hồ Ngọc Cẩn, một vị sĩ quan tài ba của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã bị quân cộng sản bắt vào ngày 1 tháng 5 năm 1975 và đem xử bắn tại sân vận động Cần Thơ ba tháng sau.
Lỵ sở tỉnh Hậu Giang trước năm 1991 đặt tại thị xã Cần Thơ. Khi thành phố Cần Thơ được tách ra trực thuộc trung ương thì tỉnh lỵ chuyển về thị trấn Vị Thanh. Ngày 1 tháng 7 năm 1999, nghị định 45/1999/NĐ-CP ban hành thành lập thị xã; phần còn lại của huyện Vị Thanh đổi tên thành huyện Vị Thủy.
Ngay đầu tỉnh có ngã 3 Cái Tắc nằm bên phải quốc lộ, đi theo ngã 3 này là se tới chợ nỗi Phụng Hiệp
Chợ nổi Phụng Hiệp
Chợ nổi Phụng Hiệp là một địa điểm chợ họp ở trên sông. Địa điểm du lịch sông nước nổi tiếng này nằm ở ngã bảy con sông gặp nhau tại thị xã Ngã Bảy tỉnh Hậu Giang
Ở Nam Bộ với mạng lưới kênh rạch chằng chịt, con người gắn bó với cuộc sống sông nước miệt vườn. Chợ nổi là một hình thức sinh hoạt độc đáo. Đồng bằng sông Cửu Long có 3 chợ nổi lớn: chợ nổi Cái Răng Cần Thơ, chợ nổi Phụng Hiệp Hậu Giang và chợ nổi Cái Bè Tiền Giang. Trong đó, chợ nổi Phụng Hiệp được xem là chợ nổi độc đáo nhất và lớn nhất.
Mênh mông chợ nổi ngã bảy Phụng Hiệp. Ở đây mặt sông mênh mông rẽ về 7 ngả. Từ các ngả, thuyền bè tấp nập từ Sóc Trăng, Cần Thơ, Bến Tre, Hậu Giang .v.v. kéo về.
Du khách tới đây sẽ cảm thấy bạt ngàn màu sắc của trái cây, rau, các đồ dùng sinh hoạt miền sông nước. Đặc biệt là màu đỏ tươi của chôm chôm ,màu ruốc chín của măng cụt, vị thơm của sầu riêng. Mỗi thuyền chỉ bán 1 loại trái cây, và lọai trái đó sẽ được treo lên một cây sào cao tượng trưng như là để thông báo rằng: “tôi là nhãn”, “còn tôi là xòai”.
Đặc biệt ở chợ nổi còn có chợ rắn. Chợ Phụng Hiệp quanh năm có rắn, rùa, chim, sóc, kỳ đà … phục vụ du khách. Bên cạnh đó, những xuồng ba lá, những ghe nhỏ xíu là: bánh cuốn nóng, phở, bánh xèo là những món đặc trưng ẩm thực phương Nam.
Hết huyện Kế Sách là tới Sóc Trăng
Sóc Trăng
Nằm ở cuối lưu vực sông Mê Kông, có diện tích chung 331.000 ha, Sóc Trăng là một vùng đất xanh tươi với những cánh đồng lúa mênh mông, những vuông tôm bạt ngàn và những vườn cây ăn trái xum xuê trĩu quả.
Dân số của tỉnh hiện có trên 1.302.562 người, gồm 03 dân tộc chính là Kinh, Khmer và Hoa cùng chung sống với nhau từ nhiều thế kỷ qua.
Ngoài những đặc điểm chung của Đồng bằng sông Cửu Long, Sóc Trăng còn là nơi hội tụ nền văn hoá đa dân tộc, là xứ sở của lễ hội. Về thăm Sóc Trăng, quý khách sẽ có dịp chiêm ngưỡng những công trình kiến trúc độc đáo của nhữung ngôi chùa cổ kính; cùng vui với không khí náo nhiệt, sôi nổi của các lễ hội truyền thống của 03 dân tộc. Ngoài ra, quý khách còn được hoà mình vào thiên nhiên với cảnh sông nước mênh mông, vườn cây ăn trái hay rừng chàm, rừng bần bạt ngàn của vùng hạ lưu sông Hậu hữu tình mến khách, đem lại sự thoải mái, hấp dẫn cho chuyến đi.
Sóc Trăng là tỉnh thuộc vùng châu thổ sông Cửu Long, vùng cung cấp 50% sản lượng thóc của cả nước, nơi có sản phẩm xuất khẩu dồi dào và đa dạng, đặc biệt là gạo và hàng thủy sản, nông sản thực phẩm chế biến. Đây là vùng có nhiều tiềm năng kinh tế để phát triển sản xuất, đồng thời cũng là nơi tiêu thụ hàng hóa và cung cấp dịch vụ lớn cho cả nước.
Sóc Trăng giáp tỉnh Hậu Giang ở phía Bắc và Tây Bắc, giáp Bạc Liêu ở phía Tây Nam, giáp Trà Vinh ở phía Đông Bắc và giáp biển Đông ở phía Nam. Sóc Trăng nằm trên tuyến Quốc lộ 1 nối liền các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Bạc Liêu, Cà Mau. Quốc lộ 60 nối Sóc Trăng với các tỉnh Trà Vinh, Bến Tre và Tiền Giang. Sóc Trăng cách Thành phố Hồ Chí Minh 231 km, cách Cần Thơ 62 km.
Từ Sóc Trăng có thể đi đến trung tâm các tỉnh, các đô thị khác trong vùng Đồng bằng sông Cửu Long và khắp vùng Nam bộ bằng cả đường bộ lẫn đường thủy. Cùng với hệ thống kinh rạch và 8 tuyến tỉnh lộ dài 277 km, các tuyến đường liên huyện, liên xã nối liền các huyện, thành phố, phường thành hệ thống giao thông kết hợp thủy, bộ khá thuận lợi. Trong tương lai, sân bay Sóc Trăng sẽ được nâng cấp, sửa chữa; phục vụ được được cho các loại máy bay nhỏ.
Sóc Trăng có 72 km bờ biển với 3 cửa sông lớn Định An, Trần Đề và Mỹ Thanh hình thành lưu vực rộng lớn thuận lợi cho giao thông, nuôi trồng thủy hải sản, làm muối… Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dải cù lao thuộc huyện Kế Sách và Long Phú chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, cù lao Dung… là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái.
Hệ thống kinh rạch của tỉnh chịu ảnh hường của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần, mực triều dao động trung bình từ 0,4 m đến 1 m. Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan, du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Thành phố Sóc Trăng
Thành phố có diện tích tự nhiên là 7.615,22 ha, với 173.922 nhân khẩu. Phía đông giáp huyện Long Phú; phía tây giáp huyện Mỹ Tú; phía nam giáp huyện Mỹ Xuyên, phía bắc giáp các huyện Long Phú và Mỹ Tú cùng thuộc tỉnh Sóc Trăng.
Đây là thành phố có nhiều chùa nhất Việt Nam với khoảng 50 chùa trong tổng số hơn 200 chùa của tỉnh. Nổi bật nhất là Chùa Dơi, Chùa Đất Sét, Chùa Khmer. Hằng năm, vào dịp lễ tết, khách hành hương thập phương đến với thành phố hàng ngàn người mỗi ngày
Về Sóc Trăng, không chỉ được thưởng ngoạn cảnh đẹp của những ngôi chùa cổ kính hay tham gia các lễ hội vui tươi, rực rỡ bản sắc ba dân tộc Kinh, Hoa và Khmer, du khách còn được thưởng thức những món bánh ngon lạ của nơi này. Đặc sắc nhất phải kể đến là bánh Pía.
Bánh pía
Bánh pía hình tròn, dẹt, có nhiều lớp da mỏng bao lấy phần nhân đậu xanh (hoặc khoai môn, mứt các loại) mỡ heo, lòng đỏ trứng vịt muối… Bánh pía Sóc Trăng không khô cứng như các loại bánh ở các vùng, miền khác. Mỗi một phong bánh pía gồm bốn cái, được gói theo hình trụ. Bánh pía mềm, ngọt đậm. Đặc biệt mùi sầu riêng quyện với đậu xanh, mỡ heo béo ngậy… dễ kích thích vị giác của người thưởng thức. Để có thể phục vụ cả những người ăn chay, bánh pía cũng được chia thành 2 loại chay, mặn. Để bánh pía có được mùi vị, màu sắc hấp dẫn, phải qua rất nhiều công đoạn như: trộn, cán mỏng, cuốn tròn… những khối bột dẻo dai, mịn màng để tạo ra những lớp vỏ tang ôm lấy nhân bánh thơm lựng phía trong. Đặc biệt nhất trong miếng bánh pía Sóc Trăng là phần nhân sầu riêng. Không sử dụng hương liệu, sầu riêng nguyên trái được chọn từ khắp các miệt vườn, chủ yếu ở miệt vườn Vĩnh Long, sau đó tách lấy thịt, trộn mỡ heo xắt sợi. Bánh hoàn tất được thoa thêm một lớp lòng đỏ trứng, sắp ngay ngắn lên xửng rồi đưa vào lò nướng ở nhiệt độ trung bình khoảng 270 độ C. 15 phút sau, bánh chín, màu ươm vàng, quyện mùi sầu riêng thơm ngọt rất tuyệt vời. Điều là bánh không thể một lúc ăn được nhiều nhưng nếm lai rai thì không biết chán. Vào mùa Trung thu, người Sóc Trăng, trong lễ cúng trăng, không bao giờ thiếu bánh pía, cái “hồn” của người dân vùng đất pha trộn bản sắc văn hoá Kinh, Hoa, Khmer thật thà chân chất.
Đến ngã ba Trà Men, ta đi thẳng là đến cụm tham quan chùa khleang, chùa dơi, chùa đất sét, và bảo tàng Chăm.
Chùa Kh’leang:
Là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng có kiến trúc giống như các chùa ở Cămpuchia. Chùa tọa lạc ở 71 đường mậu thân, khóm 5, phường 6, thị xã Sóc Trăng. Chùa xây dựng từ năm 1533 lúc đầu còn làm bằng gỗ, lợp lá, sau mới được xây cất lại bằng gạch ngói. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu cách đây hơn 80 năm.
Trong khuôn viên chùa tháp, công trình kiến trúc quan trọng nhất là ngôi chính điện (Vihia). Ấn tượng đặc sắc của chính điện chùa Khmer là kỹ thuật cấu trúc hệ thống cấp mái. Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc, trang trí của chùa Khmer tập trung chủ yếu ở ngôi chính điện. Khác với những ngôi chùa theo Phật giáo Đại thừa miền Bắc, chùa Khmer theo Phật giáo Tiểu thừa, chỉ thờ duy nhất Đức Phật Thích Ca, luôn được đặt ở vị trí trung tâm trên bệ thờ cao nhất của chính điện. Nóc trần và dọc 4 bức tường trong chính điện được phủ kín bằng nhiều bức tranh kể về cuộc đời Đức Phật. Bên cạnh đó nhiều môtíp của Bà La Môn giáo và tín ngưỡng dân gian vẫn hiện diện sống động, là nguồn cảm hứng bất biến trong trang trí kiến trúc của chùa qua hệ thống phong phú tượng các linh thần, linh thú như đầu vị thần 4 mặt “Mara Prưm” (tiền thân của Brama – vị thần sáng tạo ra thế giới của Bà La Môn giáo), nữ thần “Kầyno” nửa người, nửa chim, chim thần “Maha Krút”, phúc thần “Tévođa, sư tử, voi, khỉ, nữ thần đất “Him tholny”, rắn là biểu tượng của Thần nước, gắn liền với nghi lễ cầu mưa của tín ngưỡng dân gian… Cạnh ngôi chính điện, còn có nhà “Sala” được xây dựng dưới dạng nhà sàn của người Khmer là nơi dành cho sư sãi học tập, tín đồ hành lễ, đón khách thập phương đến vãn cảnh chùa. Trong khuôn viên chùa còn có tháp thiêu xác (Tì bài xá), tháp đựng tro hài cốt của các Phật tử (Pì chét đây). Nhiều chùa còn có nhà riêng để che mưa nắng cho chiếc ghe Ngo dài 20m, rộng 1m5 được coi như vật thiêng của dân gửi và mỗi năm chỉ sử dụng một lần, trong dịp lễ Ok Om Bok, vào trung tuần tháng 10 âm lịch.
Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, văn hoá Khmer cộng cảm với văn hoá của các cộng đồng người Việt, người Hoa, người Chăm đã tạo nên bức tranh văn hoá Nam Bộ đa dạng và giàu bản sắc.
Hiện nay tại chùa Kh’leng còn lưu giữ một bản sao tài liệu ghi chép từ thư tịch cổ, trong đó có nói đến nguồn gốc địa danh Sóc Trăng, lịch sử xây dựng chùa đầu tiên. Vào đầu thế kỷ 16, viên quan cai quản vùng Sóc Trăng tên là Tác đã cho xây dựng một nhà kho để tích trữ sản vật do nhân dân quyên góp. Từ đó ông đặt tên cho vùng đất mình cai quản là Srosk Khleng. Khi người Kinh đến gọi là sóc khalang, rồi sau là Sóc Trăng. Sau đó vào năm 1532, ông Tác vâng lệnh vua Ang Chan (Chân Lạp) cho xây dựng một ngôi chùa và lấy địa danh đặt tên cho chùa là chùa Kh’leng. Chùa theo đạo Phật phái Tiểu thừa, thờ Phật Thích Ca, không có nữ tu.
Hàng năm, chùa Kh’leng còn là nơi diễn ra những nghi lễ quan trọng nhất trong những ngày lễ truyền thốngcủa dân tộc Kh’leng như: lễ vào năm mới ( Chol Chnam Thmay) còn gọi là lễ chịu tuổi; lễ cúng ông bà (lễ Dôn Ta); lễ cúng trăng vào ngày 15/10 âm lịch và tổ chức đua ghe. Ngoài các lễ hội truyền thống trên, chùa còn tổ chức các lễ hội Phật giáo. Người Khmer thường lui tới chùa để cầu nguyện.
Chùa Dơi
Cách thị xã Sóc Trăng chưa đầy 2 km có một ngôi chùa được nhiều khách thập phương trong nước và nước ngoài tìm đến. Chùa Dơi còn gọi là chùa Mã Tộc hay là chùa Ma-ha-tuc. Còn với nhà sư Kim Rông, pháp hiệu Rat-ta-na xô-oa-nac trụ trì chùa đã lâu thì cho biết: khách thập phương tìm đến chùa, trước là lên điện Phật thắp hương, tham quan những bảo vật quý thờ trong chùa như: hàng ngàn tượng Phật và tượng tứ linh: long, lân, quy, phượng… đều nặn từ đất sét, sau đó khách xin ra vườn chùa để được chiêm ngưỡng đ àn dơi… Chùa Mã Tộc xây dựng cách đây gần 400 năm, nơi đây tụ tập loài dơi, quạ khoảng trên dưới 1 triệu con. Chúng treo mình trên những cành cây trong khuôn viên chùa suốt ngày, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ 30 chiều dơi bay đi kiếm ăn để 5 giờ sáng hôm sau lại quay về. Dơi không bao giờ ăn các trái cây ở chùa. Chùa Mã Tộc đơn sơ với thiên nhiên xanh và đ àn dơi, quạ đông đến kỳ lạ làm cho du khách giật mình thích thú.
Chùa Đất Sét:
Nằm trên phố Mậu Thân, thị xã Sóc Trăng. Chùa đất sét là ngôi chùa của người Hoa rất độc đáo vì được xây dựng từ đất sét. Thậm chí tượng trong chùa cũng được nặn từ đất sét. Đây là ngôi chùa linh thiêng đối với dân địa phương. Khác hẳn với các ngôi chùa của người Việt và Khmer tại Sóc Trăng, chùa còn có tên khác là ” Bửu Sơn Tự” có nghĩa là đền thờ núi trước. Chùa được lập cách đây hơn 200 năm do gia đình họ Ngô người Hoa đứng ra xây cất. Độc đáo hơn, nơi đây còn có 8 cây đèn cầy nặng tổng cộng 1,6 tấn.
Chùa được xây dựng cách đây 200 năm, do một người trong dòng họ Ngô sáng lập. Ông Ngô Kim Giản, 86 tuổi trụ trì chùa đời thứ 5 cho biết: “Năm 1928, ông Ngô Kim Tòng, thuộc đời thứ tư là người khởi xướng trùng tu chùa, qua một lần “nằm mộng” ông nghĩ ra cách nặn tượng bằng đất sét thay vì phải đúc bằng đồng, vàng… Trong cảnh nghèo khó, ông đã quyết định sử dụng đất sét để nặn tượng xây dựng chùa. Khi đã hoàn thành việc xây cất chùa và trang trí các tượng phật, tượng loài thú trong chùa thì ông bắt đầu lâm bệnh nặng và mất ở tuổi 62. Cho đến nay, các tượng lớn, nhỏ này vẫn còn nguyên vẹn ở chùa đất sét. Nào là tượng A Di Đà, Thích Ca, Quan Thế Âm Bồ Tát, Khổng Tử, Ngọc Hoàng Thượng Đế… Sự sắp xếp tượng ở đây nói lên tư tưởng Tam giáo đồng viện (Phật – Nho –Lão). Pho tượng “Bảo tòa thỉnh Phật trụ thế truyền tháp luận” có đến 1000 cánh sen, mỗi cánh sen là một vị thần ngự. Phía dưới đài sen lại có “Bát quái Thiên tiên” gồm 8 cung, mỗi cung có hai tiên nữ đứng hầu; dưới đài sen và Bát quái là Tứ đại Thiên Vương trấn giữ.
Riêng tháp Đa Bảo cao 3,5m được thể hiện hết sức độc đáo. Tháp có 13 tầng với 208 cửa vị thần; dưới chân tháp có 126 rồng nâng đỡ tháp. Ngoài ra còn có lục long đăng 3 chóp đỉnh lớn, 7 lư hương nhỏ và các cặp Kim Lân, Thanh Sư, Bạch Tượng, Bạch Hổ, Long Mã. Những chi tiết này nhiều người tưởng là đúc bằng đồng, mạ kim nhũ với dầu bóng, nhưng tất cả đều được làm từ đất sét.
Chùa Đất sét không chỉ nổi tiếng bởi các pho tượng làm bằng đất sét mà còn có 8 cặp đèn cầy lớn, mỗi cây cao 2,6m (chứa 200 kg sáp), được dòng họ Ngô đúc năm 1940. Hiện nay hai đèn nhỏ cháy suốt ngày đêm từ khi ông Ngô Kim Tòng qua đời (ngày 18/7/1970 đến nay). Nếu cháy hết sáp phải vào cuối năm 2006. Bình quân mỗi cây đèn đốt cháy liên tục phải hết 70 năm mới tắt. Hiện nay mỗi ngày chùa đón trên 200 du khách và phật tử đến tham quan. Và nơi đây được xem là ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam vì có trên 1.000 tượng lớn nhỏ đều được làm từ đất sét, là địa chỉ thu hút du khách mỗi khi đến Sóc Trăng.
Nhà Bảo Tàng Văn Hóa Khmer:
Đối diện với chùa Kh’leng tại thị xã Sóc Trăng, nhà bảo tàng được kiến trúc theo kiểu chùa của người Khmer, trong đó có khá nhiều hiện vật về đời sống văn hóa tinh thần, vật chất và sự phát triển kinh tế xã hội của dân tộc Khmer tại Sóc Trăng. Đây cũng là điểm du lịch của du khách gần xa.
Nằm ngay trung tâm, nguyên là Hội Phật học Khơme, được xây dụng từ năm 1936, Bảo tàng văn hóa Khơme Sóc Trăng hình thành từ khi được chia tách từ tỉnh Hậu Giang vào năm 1992. Nơi đây với hơn 508 hiện vật được sưu tầm và trưng bày gồm các lĩnh vực văn hóa, sản xuất, sinh hoạt, phong tục, lễ hội, kiến trúc, sân khấu, âm nhạc, tôn giáo…
Nhà Bảo tàng văn hóa Sóc Trăng còn là điểm tham quan lý tưởng khách du lịch, các nhà khảo cổ, sưu tầm văn hóa dân tộc trong và ngoài nước. Đến đây, chúng ta mới hiểu được những giá trị văn hóa to lớn mà cộng đồng người dân tộc Khơme đã được giữ gìn và phát huy
Từ ngã 3 Trà Mén chạy dọc theo quốc lộ 1A thì chúng ta sẻ tới Cà Mau
Cà Mau
Có diện tích tự nhiên 5.329 km2 với có 1.200.000 người. Tiềm năng và thế mạnh của tỉnh là nuôi trồng, đánh bắt thủy sản, phát triển du lịch sinh thái, công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, các ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ nguồn khí tự nhiên với trữ lượng lớn khí ở vùng thềm lục địa.
Cà Mau giàu tài nguyên về rừng và biển. Hệ sinh thái rừng ngập nước có diện tích gần 100.000 ha được chia thành 2 vùng: rừng ngập lợ với đặc trưng cây tràm là chủ yếu nằm sâu trong đất liền ở vùng U Minh hạ; rừng ngập mặn với đặc trưng cây đước, cây mắm là chủ yếu ở vùng Mũi Cà Mau và ven biển; trong rừng có nhiều loài động vật, thực vật phong phú với trữ lượng lớn là đặc sản của rừng ngập nước. Rừng Cà Mau trở thành nổi tiếng trên thế giới và chỉ đứng sau rừng ngập mặn ở Cửa sông Amazôn (Brazil). Bờ biển Cà Mau dài 254 km chạy từ phía biển Đông sang vịnh Thái Lan, bờ biển thấp, nền đất yếu và bằng phẳng. Diện tích vùng biển Cà Mau rộng trên 71.000 km2, độ sâu trung bình từ 30 đến 35 mét; trong lòng biển có nhiều loài tôm cá, dưới thềm lục địa có trữ lượng dầu khí và khí đốt rất lớn, có khả năng khai thác trong nhiều năm. Biển Cà Mau có vị trí trung tâm đường biển trong vùng Đông Nam Á và sát với đường biển quốc tế, rất thuận lợi cho phát triển kinh tế biển.
Do có vị trí địa lý tiền tiêu, tài nguyên thiên nhiên phong phú, những đặc thù về sinh thái rừng, biển, khí hậu thuận lợi… tạo cho Cà Mau có nhiều thế mạnh để phát triển kinh tế thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến xuất khẩu, dịch vụ, du lịch, khai thác khí đốt và dầu khí.
Nguồn gốc xa xưa Cà Mau là vùng đất hoang vu, rừng rậm, mặt đất ẩm thấp, thiếu nước ngọt, ruộng nhiều phèn, nhiều muỗi vắt nên vắng người sinh sống. Đến cuối thế kỷ 17 Cà Mau là mảnh đất cuối cùng trên con đường của người Việt chinh phục hoang vu mở mang bờ cõi. Năm 1680 một số ấp ở ven sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Gành Hào được hình thành. Năm 1714 Mạc Cửu dâng phần đất Cà Mau cho chúa Nguyễn, Mạc Thiên Tứ là con Mạc Cửu vâng lệnh triều đình lập ra đạo Long Xuyên mang tính chất quân sự để cai quản. Năm 1882 Cà Mau tách khỏi Rạch Giá, Bạc Liêu tách khỏi Sóc Trăng thành lập ra tỉnh Bạc Liêu, đây là hạt thứ 21 của Nam kỳ thuộc địa. Sau nhiều lần thay đổi địa giới và tên tỉnh, đến đầu năm 1976 Cà Mau-Bạc Liêu được đổi tên là tỉnh Minh Hải. Đến ngày 01/01/1997 Minh Hải lại tách ra thành hai tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu.
Những người tiên phong khai hoang mở đất thuở đó chủ yếu là người Kinh quê ở miền Bắc, miền Trung khát khao sống tự do, không chịu khuất phục cường quyền, bạo lực; là nạn nhân của cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn muốn tìm mảnh đất sống yên thân; là những chiêu mộ của các nhà giàu có đưa vào khai hoang lập ấp; là những binh lính, tội đồ … những người Hoa, Khơmer nghèo khổ lưu lạc dừng chân tại nơi đây. Tất cả những con người rời quê bất chấp khó khăn, băng ngàn vượt biển vào Nam tìm nơi sinh cơ lạc nghiệp, gọi chung là dân lưu tán. Việc biến những khu rừng bạt ngàn âm u, ngập mặn nhiều phèn thành cánh đồng lúa phì nhiêu cò bay thẳng cánh, nghĩa là các thế hệ đi trước đã can đảm vật lộn với thiên nhiên, thú dữ, muỗi vắt, bao nhiêu mồ hôi nước mắt và cả máu đổ ra để tạo thành nơi sinh sống lý tưởng như ngày nay.
Ngay từ trước những năm 30 ở Cà Mau đã có nhiều cuộc nổi dậy của nông dân chống lại địa chủ, hương quản cướp bóc ruộng đất. Năm 1930 các chi bộ Đảng đầu tiên được thành lập để lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống áp bức. Hưởng ứng cuộc khởi nghiã Nam Kỳ, năm 1940 Tỉnh ủy Cà Mau đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai giành thắng lợi, ghi vào trang vẻ vang của tỉnh. Từ đó ngày khởi nghĩa Hòn Khoai 13/12 trở thành ngày truyền thống của Đảng bộ, quân dân tỉnh Cà Mau.
Sắc thái văn hóa của Cà Mau có sự dung hòa đa dạng và phong phú do được tiếp thu của nhiều nền, nhiều miền văn hóa, nhiều tôn giáo khác nhau. Những tập quán, thuần phong mỹ tục của người Kinh là chủ đạo có ảnh hưởng qua lại với người Khơme, người Hoa tạo nên sự hài hòa chung cho nhiều dân tộc. Do đặc điểm sống ở vùng sông nước, rừng biển sâu xa nên loại hình đàn ca cải lương trở thành nếp sinh hoạt văn nghệ phổ biến trong nhân dân; miền đất này có truyện cười dân gian của Bác Ba Phi đầy huyền thoại; có làn điệu thơ Bạc Liêu của nghệ sĩ Thái Đắc Hàng. Hàng năm nhân dân tổ chức lễ hội Nghinh Ông ở cửa biển Sông Đốc và một số lễ hội dân gian khác.
Những địa danh lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh có sức thu hút du khách như Mũi Cà Mau, đảo Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, rừng đước Năm Căn, rừng tràm U Minh hạ, bãi Khai Long, Giá Lồng đèn, các sân chim, công viên Văn hóa, đầm Thị Tường v.v.. Tên tuổi của những danh nhân văn hóa như nhà giáo Phan Ngọc Hiển, nhà báo Nguyễn Mai, bác Ba Phi, v.v..đã để lại trong lòng người sự mến yêu, ngưỡng mộ về cảnh vật hữu tình, con người dũng khí của đất Cà Mau.
Đến với điểm du lịch Mũi Cà Mau, du khách được thăm cột mốc toạ độ quốc gia, ngắm rừng, ngắm biển, chiêm ngưỡng ráng chiều ẩn hiện trên vùng trời biển bao la.
Mũi Cà Mau là mảnh đất nhô ra ở điểm tận cùng phía Nam của Tổ quốc Việt Nam thuộc địa phận xóm Mũi, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, cách thành phố Cà Mau hơn 100 km.
Đất Mũi, cái tên thật thân quen và gần gũi với mọi người dân đất Việt, chính vì vậy tất thảy mọi người đều ước ao một lần đến với vùng chót mũi, cực nam của Tổ quốc.
I/ NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM TÂY NGUYÊN
1) ĐỊA LÝ
Tây nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.
Diện tích: 54.659,6 km².
Dân số: 4.868.900 người.
Phía đông giáp duyên hải trung bộ; phía tây giáp Lào (ở cửa khẩu Ngọc Hồi – Kon Tum) và Cambodia; phía nam giáp Đông Nam Bộ; phía bắc giáp Quảng Nam.
Địa hình đa số là cao nguyên cao trung bình 500m so với mực nước biển. Có các cao nguyên lớn là nơi tập trung dân cư đông đúc là Kon Tum (cao 700m), Pleiku (cao 600m), Buôn Mê Thuột (cao 600m), M’nông (cao 400m), cao nguyên Langbiang (cao 1500m), cao nguyên Di Linh (cao 1100m), Bảo Lộc (cao 900m). Các dãy núi chạy theo hướng Đông – Tây.
Quốc lộ 14 xuyên qua vùng từ Bắc xuống Nam, và cũng gần nằm chính giữa vùng. Phía đông của quốc lộ 14 các ngọn núi thấp dần về duyên hải miền trung, và là nơi bắt nguồn của các con sông như Trà Khúc (Quảng Ngãi) bắt nguồn từ phía đông của Kon Tum; sông Côn (Quy Nhơn) từ Gia Lai; sông Đà Rằng cũng bắt nguồn từ Gia Lai; sông Cái và sông Dinh từ Đắk Lắk; sông Lũy, sông Cà Ty, sông Đồng Nai từ Lâm Đồng. Các dãy núi phía tây quốc lộ 14 là nơi bắt nguồn của các con sông suối về Cambodia và Lào như sông Sa Thầy, sông Pô Cô, sông Kon – Klor, sông Sê San, sông Krông – nô và Krông Ana hợp thành sông Sê rê pốk (Đắk Lắk).
Thổ nhưỡng:
Đa số là đất đỏ bazan. Thuận lợi trồng cây Công nghiệp như: cao su, điều, cà phê, chè, dâu tằm, và các loại cây khác như bơ, rau củ quả ôn đới, bí đỏ,…
Ven các chân đồi có các thung lũng hẹp là đất trầm tích, đất sét bạc màu.
Sông ngòi:
Đây là nơi bắt nguồn của các con sông đổ về biển miền trung, Đông Nam Bộ, Cambodia. Do địa hình gấp khúc nên sông suối có nhiều thác ghềnh, nhiều ao hồ tự nhiên, phù hợp quy hoạch du lịch sinh thái và làm thủy điện.
Khí hậu:
Giống miền nam nhưng có mùa đông lạnh rõ rệt. Riêng Đà Lạt có khí hậu cận ôn đới phù hợp du lịch nghỉ dưỡng ( một ngày có bốn mùa).
Động thực vật:
Vùng cao từ 800m trở lên: có hệ thực vật gần giống cận ôn đới (rừng thông).
Vùng cao dưới 800m: có hệ thực động vật nhiệt đới gió mùa, cây thường rụng lá vào mùa khô tạo ra những cánh rừng “khộp” nổi tiếng như York – đôn, Chư – yang – sin.
Động thực vật tiêu biểu: voi, gấu, khỉ, bò rừng, trâu rừng, nai, các loài bò sát, bươm bướm. Các loại cây gỗ: tếch – teak (giá tị), bằng lăng, dầu, gõ, kơ nia,… và có các loại lan rừng phong phú.
Giao thông vận tải
Có quốc lộ 14 xuyên qua giữa rừng từ Bắc xuống Nam. Từ đây người Pháp đã mở các quốc lộ vuông góc (hình xương cá) về miền duyên hải Trung bộ và Đông Nam Bộ như: quốc lộ 24 (từ thị xã Kon Tum về ngã ba Thạch Trụ – Quảng Ngãi), quốc lộ 19 (từ Pleiku về ngã ba Bà Gi – Quy Nhơn), quốc lộ 25 (từ Chư Sê – Gia Lai về thành phố Tuy Hòa – Phú Yên), quốc lộ 26 (từ Buôn Mê Thuột về ngã ba Ninh Hòa thuộc Nha Trang), quốc lộ 27 (từ ngã ba Phi Nôm – Đức Trọng – Đà Lạt về ngã năm Phan Rang), quốc lộ 20 (từ Đà Lạt về ngã ba Dầu Giây: 223km), quốc lộ 28 (từ thị xã Gia Nghĩa – Đắk Nông đi Di Linh – Phan Thiết).
Ngoài ra có cửa khẩu Ngọc Hồi thông thương với Lào và Đông Bắc Cambodia. Có các sân bay lớn là Pleiku, Buôn Mê Thuột, Liên Khương (Đức Trọng – Lâm Đồng). Đường sắt Đà Lạt đi Phan Rang hiện nay chỉ còn 7km để du lịch, tham quan.
Tài nguyên khoáng sản:
Có các quặng mỏ như mỏ Bô xít luyện nhôm ở Bảo Lộc, mỏ cao lanh (đất sét trắng) làm mỹ phẩm, thạch cao làm đồ gốm (Đức Trọng), mỏ đá ruby, hồng ngọc (Gia Lai)
Tài nguyên du lịch:
Với lợi thế còn nhiều núi rừng hoang sơ với các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia như: Ngọc Linh (Kon Tum), Chư yang sin, York đôn (Đắk Lắk), Núi Bà (Lâm Đồng) phù hợp phát triển du lịch sinh thái.
Nhiều địa hình khúc khuỷu , gập ghềnh có thể phát triển du lịch mạo hiểm (nhảy dù ở Langbiang, vượt thác).
Nhiều bản làng còn hoang sơ đậm nét nguyên thủy có thể phát triển du lịch văn hóa lễ hội.
Nhiều khu vực yên tĩnh, khí hậu mát mẻ có thể phát triển du lịch nghĩ dưỡng.
2) LỊCH SỬ
Thời cổ đại (từ khi con người xuất hiện đến khi có chữ viết) có loài người sinh sống cách đây khoảng 10 nghìn năm và hậu duệ của họ là các dân tộc thiểu số bản địa của Tây Nguyên ngày nay (không tính người H’ mông, Tày, Thái, Nùng, Dao,…)như: người M’nông, Ê đê, Gia Rai, Ba na, Xơ Đăng, K’ ho, Mạ, Stiêng,…. Bằng chứng là dọc theo các triền sông, thung lũng hẹp ven các hồ lớn các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều công cụ lao động, các dấu tích, cọc gỗ, nhà sàn cùng một số đồ trang sức bằng đá như ở huyện Sa Thầy (Kon Tum), biển Hồ T’nưng (Pleiku), khu vực suối Voi (Đức Trọng – Lâm Đông).
Cuộc sống của các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên từ thời cổ đại đến nay gần như không thay đổi lắm. Họ vẫn còn giữ dấu ấn của xã hội nguyên thủy như săn, bắt, hái, lượm, tín ngưỡng đa thần, vai trò của người phụ nữ rất lớn (chế độ mẫu hệ vẫn còn), nhiều lễ hội, tế thần, âm nhạc, múa sơ khai. Đa số các dân tộc chưa có chữ viết. Văn học truyền khẩu là chủ yếu.
Thời cận đại: cuối thế kỷ XIX người Pháp bắt đầu đến Tây Nguyên họ đã xây dựng Chủng viện Thừa Sai ở Kon Tum để truyền giáo. Tiến hành xây dựng các khu đô thị trung tâm ở Buôn Mê Thuột, Pleiku, Đà Lạt, Kon Tum, các quốc lộ 14, 24, 25, 19, 27, 28, 20, 26 nối liền Tây Nguyên với duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ, Cambodia, Lào. Từ đây Tây Nguyên đã được phương Tây biết đến như một nơi rừng rậm hoang vu với nhiều bộ tộc nguyên thủy tiêu biểu như Đông Nam Á cổ đại còn hiện hữu cho nên thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu, thám hiểm.
Nhiều đồn điền của Pháp đã được thành lập ở Di Linh, Đà Lạt, Buôn Mê Thuột, Pleiku,… Người Pháp tuyển rất nhiều phu phen từ Bắc, Trung, Nam lên đây lập nghiệp với đồng lương rẻ mạt; nếu ai chống đối sẽ bị giam cầm ở Buôn Mê Thuột. Chính giai đoạn này chính thức có mặt người Kinh ở Tây Nguyên.
Đến thời Mỹ đây là vùng chiến trường ác liệt vì nó có vị trí đắc địa. Nhiều buôn làng đã đi theo Cách mạng giúp bộ đội góp phần giải phóng miền Nam, nổi tiếng với chiến dịch Tây Nguyên. Từ sau năm 1975 với chương trình đi kinh tế mới nhiều luồng di dân từ ba miền Bắc, Trung, Nam đến Tây Nguyên lập nghiệp, nhất là người miền Trung.
3) NHÂN VĂN
Chủ yếu là văn học truyền khẩu với nhiều trường ca nổi tiếng như Đămsan, Đẻ đất đẻ nước, trường ca của người M’nông. Về hội họa; điêu khắc là chủ yếu. Nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như: Anh hùng Núp, cô lái đò trên sông Pô kô, về nghệ thuật có: Siu Black, Ymon, Bourner trinh,… Người Tây Nguyên đã để lại kho tàng lễ hội dân gian âm nhạc cồng chiêng được công nhận di sản phi vật thể của nhân loại.
Ngoài tín ngưỡng đa thần, đồng bào Tây Nguyên theo đạo tin lành, Thiên chúa giáo.
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Các chuyên đề về xã hội nguyên thủy, tín ngưỡng đa thần, mẫu hệ,… Nguồn gốc chủng tộc, địa lý Tây Nguyên. Phong tục, tập quán, lễ hội, ẩm thực, âm nhạc,… Giới thiệu các dân tộc: Stiêng, M’nông, Êđê, Bana, Mạ, K’hor,… Sự giống và khác nhau giữa các dân tộc ở Tây Nguyên. Chuyên đề về đường Trường Sơn cùng các trận đánh. Chuyên đề về đất đỏ Bazan, vầ cây Công nghiệp: Cà phê, cao su, điều, tiêu, trà. Chuyên đề về tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai. Chuyên đề về thủy điện Tây Nguyên, về các dạng rừng tiêu biểu ở Tây Nguyên,…

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ
SƠ ĐỒ TUYẾN TÂY NGUYÊN
Từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ chạy ra ngã 4 Hàng Xanh thuộc quận Bình Thạnh, sau đó đi theo đường Xô Viết Nghệ Tĩnh đề đến với quốc lộ 13 để bắt đầu đến với tour Tây Nguyên. Trên đoạn đường Xô Viết Nghệ Tĩnh chúng ta sẽ đi qua bến xe Miền Đông. Đây là 1 bến xe có lưu lượng xe ra vào bến rất đông. trong tương lai thanh phố dang có kế hoạch mở rộng bến xe này vì sức chứa của bến đã quá tải. Chiếc cầu đầu tiên mà chúng ta đi qua đó là cầu Bình Triệu, qua khỏi cây cầu này chúng ta tới ngã tư cũng có tên Bình Triệu, rẽ phải thì sẽ đi Thủ Đức
Quận Thủ Đức
Quận Thủ Đức là một quận phía đông bắc Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1997, phía nam của Huyện Thủ Đức đã được chia thành hai quận mới là Quận 9 và Quận Thủ Đức. Quận Thủ Đức có 12 phường: Linh Đông, Linh Tây, Linh Chiểu, Linh Trung, Linh Xuân, Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Tam Phú, Trường Thọ, Bình Chiểu, Bình Thọ, Tam Bình. Trên địa bàn của quận này có Ga Bình Triệu, Làng đại học Thủ Đức, Công viên nước Sài Gòn. Diện tích: 47,46 km², dân số năm 2006 hơn 250.000 người.
Còn rẽ trái là đi Gò vấp
Quận Gò Vấp
Quận Gò Vấp là một quận nội thành thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Từ những năm 80, quận Gò Vấp được xem là một quận có tốc độ đô thị hóa cao của Thành phố Hồ Chí Minh.
Quận Gò Vấp nằm ở phía Bắc và Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc giáp quận 12, nam giáp quận Phú Nhuận, Tây giáp quận 12 và quận Tân Bình, Đông giáp quận Bình Thạnh. Tổng diện tích mặt đất tự nhiên 19,76 km2 (số liệu năm 2006).
Dân số 491.122 người (số liệu năm 2006). Có 8 dân tộc anh em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam sống ở Gò Vấp, đa số là người Kinh.
Gò Vấp đã được khai phá từ những ngày đầu khi lưu dân Việt đi mở đất từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Năm 1698, khi Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh thừa lệnh Chúa Nguyễn Phúc Chu kinh lý miền Nam, xác lập chủ quyền cương thổ của Việt Nam ở vùng đất mới thì đất Gò Vấp đã có tên trong sổ bộ, thôn, xã thuộc huyện Tân Bình, Phủ Gia Định. Gò Vấp cách trung tâm Bến Nghé xưa (quận 1 bây giờ) khoảng 1km về phía Tây Bắc, lại nằm trên vùng đất “Gò” cao (hơn 11m so với mặt biển) có nước ngọt của sông Bến Cát – phụ lưu của sông Sài Gòn – thuận lợi canh tác và sinh hoạt, vì thế lưu dân chọn lập làng, dựng ấp, tạo dựng quê hương mới.
Quận 12
Quận 12 là một trong 19 quận nội thành của thành phố Hồ Chí Minh. Tổng diện tích đất tự nhiên 5.274,89ha, dân số hiện nay 307.449 người (/2006).
Quận 12 nằm phía bắc Thành phố Hồ Chí Minh, Phía Bắc giáp huyện Hóc Môn; phía Đông giáp tỉnh Bình Dương, Quận Thủ Đức; phía Nam giáp quận Tân Bình, Gò Vấp, Bình Thạnh; phía Tây giáp huyện Bình Tân; xã Bà Điểm.
Nằm ở cửa ngõ Tây Bắc Thành phố Hồ Chí Minh, có hệ thống đường bộ với quốc lộ 22 (nay là đường Trường Chinh), xa lộ vành đai ngoài (nay là quốc lộ 1A ), các tỉnh lộ 9, 12, 14, 15, 16, hệ thống các hương lộ này khá dày, Quận 12 có cơ sở hạ tầng thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Quận 12 còn có sông Sài Gòn bao bọc phía đông, là đường giao thông thủy quan trọng. Trong tương lai, nơi đây sẽ có đường sắt chạy qua. Vị trí này, cảnh quan này tạo cho Quận 12 không gian thuận lợi để bố trí các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại – dịch vụ – du lịch để đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế – xã hội, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nằm về phía Tây Bắc thành phố Hồ Chí Minh, được bao quanh một phần Quốc lộ 1A và hệ thống giao thông dày đặc và cũng là một trong những khu vực kinh tế trọng điểm, Quận 12 có vị trí và cửa ngõ giao thông khá quan trọng của thành phố nối liền với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, có nhiều tuyến đường quan trọng đi qua địa bàn quận như quốc lộ 1A nối miền Tây, miền Đông Nam Bộ và quốc lộ 22 đi Tây Ninh. Ngoài ra, trên địa bàn Quận có một số dự án về công nghiệp, đô thị đã và đang hình thành sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Quận.
Chúng ta sẽ đi qua ngã 4 Bình Phước. Tại ngã 4 này được xây dựng hệ thống cầu vượt cho nên tình trạng ách tắc giao thông ở đâu được giải quyết khá tốt. Ngã tư này là điểm giao cắt giữa quốc lộ 13 và xa lộ Đại Hàn. Rẽ trái là đi An Sương và rẽ phải là đi Linh Trung.
Qua hết quận 12 là tới địa phận tỉnh Bình Dương.
Bình Dương
Diện tích: 2 696 km2
Dân số (2002): 787 600 người
Thị xã Thủ Dầu Một
Bình Dương là một tỉnh ở miền Đông Nam bộ, phía bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía nam giáp thành phố Hồ Chí Minh, phía đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp tỉnh Tây Ninh. Tỉnh Bình Dương có các vùng đất đỏ trồng cao su và cà phê, vùng đất xám, nơi có đồng cỏ chăn nuôi và trồng hoa màu; vùng đồng bằng sông bồi, nơi có nhiều ruộng lúa, vườn cây ăn trái như Lái Thiêu, nổi tiếng với các loại: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, mít tố nữ… Các con sông lớn chảy qua địa phận tỉnh là: sông Đồng Nai, sông Sài Gòn và sông Bé với nhiều kênh rạch, sông con, cung cấp nước tưới cho đồng ruộng và tạo điều kiện cho ghe thuyền đi lại thuận tiện.
Thị xã Thủ Dầu Một nằm trên tả ngạn sông Sài Gòn, cách thành phố Hồ Chí Minh 30 km, là một vùng đất thuộc Gia Định xưa có hơn 300 năm lịch sử. Nơi đây dân cư đông đúc, có nhiều ngành nghề thủ công truyền thống nổi tiếng như gốm sứ, sơn mài, điêu khắc gỗ… Bình Dương là tỉnh thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm phía nam: thành phố Hồ Chí Minh – Đồng Nai – Bà Rịa – Vũng Tàu. Giao thông của tỉnh Bình Dương khá thuận tiện, có tuyến quốc lộ 13 và quốc lộ 14 xuyên suốt tỉnh, nhiều đường liên tỉnh nối liền các vùng. Bình Dương là cửa ngõ phía bắc Sài Gòn, trước kia là vùng có chiến sự ác liệt và kéo dài trong cuộc chiến tranh với Pháp và Mỹ (nhất là ở huyện Bến Cát
Tỉnh nằm trên các trục đường giao thông quan trọng của quốc gia như quốc lộ 13, 14, tuyến đường sắt Bắc – Nam, đường xuyên Á và là đầu mối giao lưu của các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên theo quốc lộ 13, 14 về thành phố Hồ Chí Minh.
Bình Dương nằm ở vị trí tiếp giáp giữa đồng bằng và cao nguyên. Địa hình chủ yếu là đồi trung bình và thấp, nhìn chung tương đối bằng phẳng, nền đất cao 2 – 25cm so với mực nước biển. Đây là thế đất thuận lợi cho việc xây dựng các khu công nghiệp và kết cấu hạ tầng kỹ thuật.
Bình Dương vốn là vùng đất thuộc Gia Định xưa, có nền văn hoá lâu đời với di sản âm nhạc dân gian quý giá là nhạc lễ, ca nhạc tài tử, lễ hội dân gian chùa Bà Thiên Hậu. Nơi đây còn có nhiều chùa cổ như chùa Bà Hội Khánh, chùa Núi Châu Thới, chùa Long Hưng cùng nhiều làng nghề nổi tiếng như làng sơn mài Tương Bình Hiệp và rất nhiều làng gốm sứ. Bên cạnh đó, những vườn cây trái và nhiều cảnh quan đẹp là tiền đề để hình thành các tuyến du lịch dọc sông Đồng Nai, đặc biệt là tuyến dọc sông Sài Gòn bắt đầu từ vườn trái cây nổi tiếng Lái Thiêu kéo dài lên thị xã Thủ Dầu Một đến vùng cận lòng hồ Dầu Tiếng. Ngoài ra còn có các tuyến thăm lại chiến trường xưa với những địa danh chiến khu D mà trung tâm là huyện Tân Uyên với địa đạo “tam giác sắt” ở Ba Làng An, các địa danh Phú Lợi, Bàu Bàng, Bến xúc, Lai Khê, Nhà Đỏ.
Và nền văn hoá lâu đời, nhiều chùa cổ, nhiều làng nghề truyền thống nổi tiếng, cảnh quan đẹp và nhiều di tích lịch sử, du lịch Bình Dương có nhiều điều kiện phát triển. Ngành du lịch trong những năm qua tuy chưa có bước đột phá nhưng doanh thu du lịch cũng tăng bình quân hàng năm 11,7%.
Trên đoạn đường của Bình Dương, nhìn bên tay trái là con đường đi thị trấn Lái Thiêu.
Lái Thiêu
Suốt con đường từ thị xã Thủ Dầu Một đến Lái Thiêu, đâu đâu cũng bắt gặp những lò gốm lớn, nhỏ tỏa khói suốt đêm ngày. Gốm Lái Thiêu rất đa dạng và phong phú về chủng loại, từ con lợn đất, bình cắm hoa cho đến chum, vại, chậu cảnh, chén bát…
Lái Thiêu có thời mang tên là huyện Lái Thiêu của tỉnh Bình Dương, cách thành phố Hồ Chí Minh chừng 17 km. Thời xa xưa, ở đây chỉ chuyên trồng cây ăn trái. Đến thời Pháp thuộc mới được nghiên cứu đến thổ nhưỡng và xác định, ở đây có trữ lượng đất sét rất lớn, và chất lượng sét cũng cao hơn các nơi khác ở Nam Bộ. Điều này hoàn toàn phù hợp với nghề gốm. Thêm nữa, Lái Thiêu gần Sài Gòn, thông thương tiện lợi, rất dễ dàng trong việc tiêu thụ sản phẩm. Vào khoảng năm 1867, người Hoa tìm đến đây lập nghiệp và nghề gốm cũng bắt đầu phát triển. Nhiều sử liệu địa phương còn ghi nhận, vào thời ấy, gốm Lái Thiêu xuất hiện trên thương trường và là sản phẩm chiếm địa vị độc tôn ở miền Nam nước ta. Nghề thủ công mỹ nghệ ở đây rất độc đáo, giầu bản sắc, hình thành từ rất sớm, qui tụ nhiều người có tay nghề cao, cộng với nguồn nguyên liệu dồi dào tại chỗ. Chính điều đó đã thu hút nhiều nghệ nhân tứ xứ về đây sinh sống và góp phần phát triển nghề gốm Lái Thiêu. Và tất nhiên, đã xuất hiện nhiều trường phái cạnh tranh lành mạnh trong làng gốm từ hàng trăm năm qua.
Gốm Lái Thiêu nổi tiếng từ lâu và hiện nay có mặt trên thị trường cả nước và quốc tế. Vào dịp Tết, các mặt hàng còn đa dạng và phong phú hơn nữa nhất là đồ chơi trẻ con bằng đất cùng các loại đồ dùng cho ngày Tết.
Nhìn bên phải là khu công nghiệp Việt Nam Xingapore
Khu công nghiệp Việt Nam Singapore
Khu công nghiệp Việt Nam Singapore (VSIP) là một khu công nghiệp hợp nhất trong một diện tích 500 héc ta với đầy đủ cơ sở hạ tầng và một môi trường kinh doanh hiệu quả. VSIP là một địa điểm lý tưởng cho những công ty muốn xem Việt nam là thị trường tiêu thụ nội địa cũng như thị trường xuất khẩu.
Khu công nghiệp Việt Nam – Singapore có nhà máy xử lý chất thải chung cho toàn khu theo tiêu chuẩn môi trường quốc tế và Việt Nam.
Tiếp tục đi theo quốc lộ 13 chung ta đi vào thị xã Thủ Dầu Một của tỉnh Bình Dương.
Thủ Dầu Một
Diện tích: 88 km²
Dân số: 158.000 người (2003)
• Thủ Dầu Một cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 20 km về phía bắc. Trước 1975, thị xã thuộc quận Châu Thành. Trước năm 1954, thị xã là tỉnh lị tỉnh Thủ Dầu Một.
• Năm 1954 – 1975, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh thành Bình Dương và tỉnh lỵ mang tên Phú Cường.
• Năm 1976 đến 1996 là tỉnh lị tỉnh Sông Bé
• Ngày 1 tháng 1 năm 1997 đến nay là tỉnh lị tỉnh Bình Dương.
Nguồn gốc tên gọi, có hai giả thuyết:
Trong thế kỷ 17-18, vùng Bình Dương-Lái Thiêu là nơi định cư của nhiều dân triều Minh chạy trốn triều Thanh, phần đông làm nghề gốm, ít học vấn. Họ gọi vùng đất nầy là Thụ Dầu Mục hoặc Mục, vì vùng này có mọc nhiều cây có tên địa phương là Thù du mộc. Dân Bình Dương gọi hai loài thực vật, một cây ngắn ngày là bụp giấm (Hibiscuss abdarffa) và cây thầu dầu (Ricinus communis) bằng cùng một tên là cây Thù du. Đây là nguyên nhân có từ Thủ Dầu Một thuộc tỉnh Bình Dương.
Có giải thích khác là nơi có cây Dầu Một, là “cây dầu đứng một mình ở đầu con đường”. Không hợp cách đặt tên của miền Nam. Trường hợp này sẽ gọi là: ngã ba, ngã tư Cây Dầu, nếu có đất gò thì gọi Gò Dầu.
Thủ Dầu Một nguyên cũng nổi tiếng sản xuất hàng sơn mài gốm sứ, mây tre đan.
Ngoài ra: cơ khí lắp ráp, vật liệu xây dựng, hóa chất, cơ điện, may mặc, sản xuất đường mía, chế biến thực phẩm;
Thị xã vừa được công nhận là đô thị loại 3 vào ngày 23 tháng 1 năm 2007
Các di tích và danh thắng gồm có:
• Chùa bà Thiên Hậu Bình Dương; hội vào rằm tháng riêng âm lịch
• Khu Đại Nam thế giới du lịch;
• Chợ Thủ Dầu Một;
• Chùa Hội Khánh;
• Chùa Bà;
• Làng sơn mài Tương Bình Hiệp;
• Làng nghề gốm sứ;
• Nhà tù Phú Lợi;
• Nhà cổ tại chợ Thủ Dầu Một;
Đến với thị xã Thủ Dầu Một các bạn đừng bỏ qua dịp ghé thăm làng sơn mài Tương Bình Hiệp nhé.
Tương Bình Hiệp
Từ thị xã Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương, đi về phía bắc 7 km chúng ta sẽ có dịp đến thăm một làng nghề thủ công truyền thống được coi là lâu đời nhất ở đây, đó là làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp.
Ông tổ của nghề sơn mài là ông Trần Lương Công (Đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc dưới đời vua Lê Nhân Tông). Nghề sơn mài được đưa từ Trung Quốc vào Việt Nam và đến Bình Dương thì nó đã tìm được chỗ đứng cho mình. Nghề này đã hình thành và phát triển ở Bình Dương khoảng gần 200 năm nay. Những nghệ nhân đầu tiên của nghề phần lớn là ở nơi khác tới. Ban đầu họ chỉ đến cư trú ở làng Bến Thế và Tương Bình Hiệp, dần dần nghề sơn mài lan rộng mãi ra và đến nay thì có mặt ở gần khắp thị xã Thủ Dầu Một. Nhưng cái nôi chính của nghề vẫn là ở làng Tương Bình Hiệp.
Đỉnh cao của sự phát triển nghề sơn mài là khoảng thời gian từ 1945 đến 1975, với sự ra đời của xưởng sản xuất Thành Lê, do hai nghệ nhân là ông Trương Văn Thành và Nguyễn Văn Lễ sáng lập. Hàng sơn mài thời này đã được xuất sang thị trường châu Âu và có giá trị thương mại lớn. Điều đó đã kích thích sự phát triển của nghề sơn mài. Hàng sơn mài thời kỳ này đã đạt đỉnh cao cả về số lượng, về sự phong phú đa dạng và chất lượng nghệ thuật.
Cho tới những năm 1985 – 1990, nghề sơn mài bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Sản phẩm sơn mài của Tương Bình Hiệp cũng như của Thủ Dầu Một được khách hàng trong nước và ngoài nước ưa chuộng với các sản phẩm như: các bức tứ bình: Mai, lan, cúc, trúc; các bộ tranh Phúc, Lộc, Thọ; tranh đồng quê; tranh dân gian Đông Hồ cho đến các bức họa nổi tiếng như: Suối tóc, Thiếu nữ bên hoa huệ, Nụ hôn…; tranh trừu tượng và tranh chân dung các danh nhân trên thế giới.
Để sản xuất ra một sản phẩm hoàn chỉnh lại là cả một quá trình hết sức công phu, từ gỗ nguyên liệu đến khâu cuối cùng phải qua 25 công đoạn. Công việc của mỗi công đoạn đòi hỏi phải có nghệ thuật riêng, vừa tỉ mỉ lại vừa công phu. Có công đoạn làm đi làm lại tới 6 lần mới đạt yêu cầu như công đoạn hom, sơn lót. Quy trình sơn mỗi sản phẩm phải mất từ 3 – 6 tháng mới đảm bảo yêu cầu chất lượng.
Trải qua các thế hệ khác nhau, sơn mài của Tương Bình Hiệp vẫn giữ được nét đẹp truyền thống, đó là sự tinh xảo nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà tính cách Á Đông. Ngày nay, các cơ sở tại Tương Bình Hiệp có khả năng sản xuất khá đa dạng các sản phẩm sơn mài, từ những bức tranh nghệ thuật đến các loại tủ, bàn ghế, bình hoa lớn…
Một bên quốc lộ là làng gốm sứ Tương Bình Hiệp còn một bên là làng gốm sứ Minh Long.
Làng Gốm Sứ Minh Long
Tính đến nay, gia tộc anh Lý Ngọc Minh đã có ba đời theo nghề gốm sứ nhưng có lẽ cho đến tận bây giờ, gốm sứ Minh Long mới khẳng định tên tuổi của thương hiệu.
Đến nay, sản phẩm của gốm sứ Minh Long đã có trên 15.000 chủng loại. Chất lượng của sản phẩm đã được chứng minh khi liên tục nhiều năm liền gốm sứ Minh Long được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam chất lương cao” và hàng loạt huy chương vàng tại các hội chợ triển lãm trong nước và quốc tế. Đặc biệt, gốm sứ Minh Long được tiêu thụ mạnh ở thị trường Châu Âu như Pháp, Đức, Thụy sĩ, Anh, Mỹ… bởi sự sang trọng và hiện đại, phù hợp xu thế phát triển của thế giới. Nhưng nét độc đáo của gốm sứ Minh Long lại chính là hồn Việt, là văn hoá Việt trên từng sản phẩm
Sản phẩm gốm sứ Minh Long giờ đây là niềm hãnh diện không chỉ của gia đình ông Minh, của Công ty Minh Long mà của người dân Việt khi nó đã có mặt trên khắp thế giới. Điều mà ông Minh tâm đắc nhất vẫn là việc đưa truyền thống văn hoá, hình ảnh con người, đất nước Việt Nam hiền hoà giới thiệu đến bạn bè năm châu. Chính vì vậy ông đã thẳng thừng từ chối bao lời đề nghị hấp dẫn từ các tập đoàn lớn trên thế giới về việc hợp tác sản xuất.
Đi qua thị xã Thủ Dầu Một, chúng ta sẽ đi ngang qua công viên Thủ Dầu Một, công viên nằm bên trái của quốc lộ đây là một công viên có khuôn viên khá lớn, được trồng rất nhiều cây xanh cho nên đây là một nơi phù hợp cho vui choi, thư giản, chơi thể thao…
Đi qua khỏi công viên một đoạn nhìn bên phải là đài truyền hình Bình Dương. Tiếp tục đi theo quốc lộ 13 chúng ta sẽ đi tới một ngã 4, rẽ trái thì sẽ tới chợ Thủ Dầu Một. Trên đường đi tới chợ chúng ta sẽ đi ngang qua chùa Bà
Chùa Bà
Tọa lạc ở thị xã Thủ Dầu Một, là một trong nhiều ngôi chùa của người Hoa được nhiều người biết đến, Chùa được thành lập giữa thế kỷ 19. Tuy dân gian gọi là Chùa Bà nhưng thực chất đây là ngôi miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần được cư dân châu Á thờ phụng.
Còn nếu rẽ phải thì sẽ đi Biên Hòa, trên con đường này chúng ta sẽ đi ngang qua nhà tù Phú Lợi.
Nhà Tù Phú Lợi
Nằm cách trung tâm thị xã Thủ Dầu Một khoảng 3km.
Bốn mươi năm về trước, cả nước Việt Nam sôi sục căm thù vì hành động giết người hàng loạt theo kiểu phát xít của chế độ Mỹ – Diệm tại nhà tù Phú Lợi. Cái chết bi thảm của hàng trăm tù nhân bị đầu độc đã làm chấn động dư luận thế giới.
Ngày nay khu trại giam Phú Lợi là một trong số nhà tù còn lại của chế độ Mỹ – Ngụy để làm di tích lịch sử.
Hết thị xã Thủ Dầu Một chúng ta sẽ đến huyện Tân Uyên của tỉnh Bình Dương. Gần đầu của huyện là ngã tư Sở Sao, tại đây một đường sẽ dẫn tới Hồ Dầu Tiếng.
Hồ Dầu Tiếng
Hồ Dầu Tiếng là một hồ nước nhân tạo lớn của Việt Nam. Hồ Dầu Tiếng nằm chủ yếu trên địa phận huyện Dương Minh Châu và một phần nhỏ trên địa phận huyện Tân Châu, thuộc tỉnh Tây Ninh nằm cách thị xã Tây Ninh 25 km về hướng đông, với diện tích mặt nước là 27 km², 45,6 km² đất nửa ngập nước, dung tích chứa 1,5 tỷ m³ nước.
Hồ Dầu Tiếng với 27.000ha mặt nước, 4.560ha đất bán ngập, dung tích 15 tỷ m3, mực nước dao động từ 17-24m. Trên địa bàn huyện Dương Minh Châu cách thị xã Tây Ninh hơn 25km về phía Ðông Bắc và cách thành phố Hồ Chí Minh 70km về phía Bắc.
Tại ngã 4 Sở Sao, đi theo quốc lộ 13 thì sẽ đến Chơn Thành.
Huyện Chơn Thành
Diện tích: 414,58 km².
Dân số: 53.323 người (2003)
Huyện Chơn Thành phía đông giáp huyện huyện Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài và tỉnh Bình Dương; phía tây giáp huyện Bình Long và tỉnh Bình Dương; phía nam giáp tỉnh Bình Dương; phía bắc giáp huyện Bình Long.
Năm 1976, quận Chơn Thành trở thành huyện Chơn Thành thuộc tỉnh Sông Bé. Năm 1977, huyện Chơn Thành cùng với 2 huyện Lộc Ninh và Hớn Quản nhập lại thành huyện Bình Long. Năm 1996 huyện Bình Long thuộc tỉnh Bình Phước khi tỉnh này mới được tái lập.
Tại ngã 4 Sở Sao chúng ta không đi theo quốc lộ 13 nữa mà đi theo tỉnh lộ 741. Trước khi đến với huyện Phú Giáo, chúng ta sẽ đi qua vườn cao su. Đất ở đây trồng cây cao su cho năng suất khá cao mặc dù không bằng vùng chuyên trồng cao su ở các tỉnh Tây Nguyên. Vườn cao su có diện tích 1.781,1 ha. Trong thời kỳ thực dân Pháp qua xâm lược nước ta, chúng đã ra sức khai thác các nguồn tài nguyên của nước ta, trong đó chúng cũng lập ra các đồn điền cao su.
Huyện Phú Giáo
Tổng diện tích tự nhiên 538,61 km2; dân số 63.239 người.
Huyện Phú Giáo nằm ở phía Đông Bắc tỉnh, cách thị xã Thủ Dầu Một 45 km và tiếp giáp với tỉnh Bình Phước. .
Và cây cầu thứ 2 chúng ta sẽ đi qua có tên là cầu Sông Bé, cây cầu này thuộc huyện Phú Giáo. Chạy theo tỉnh lộ 741, hết địa phận Bình Dương chúng ta sẽ tới địa phận tỉnh Bình Phước và chúng ta sẽ đi qua huyện Đồng Phú của tỉnh.
Bình Phước
Diện tích: 6.857 km2, Dân số: 783.600 người (2004)
Bình Phước là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ. Giáp với Campuchia ở phía bắc và tây bắc, tỉnh Bình Phước còn có địa giới tỉnh liền kề với Đăk Nông ở phía đông bắc, giáp Đồng Nai và Lâm Đồng ở phía đông. Phía nam có Tây Ninh và Bình Dương. Bình Phước trước đây cùng Bình Dương thuộc địa phận tỉnh Sông Bé.
Ở đây có các danh thắng: núi Bà Rá – Khu du lịch sinh thái Bà Rá – Thác Mơ, Trảng cỏ Bàu Lạch – Bù Đăng, Thác Voi – Bù Đăng, Thác Dakmai – Phước Long, Thác Số 4 – Bình Long, Rừng Nguyên sinh Tây Cát Tiên – Bù Đăng và Đồng Phú.
Đồng Phú
Đồng Phú là một huyện thuộc tỉnh tỉnh Bình Phướccó thị trấn Tân Phú.
Đồng Phú được thành lập vào năm 1977 sau khi sáp nhập hai huyện Đồng Xoài và Phú Giáo. Huyện lỵ của huyện lúc đó là thị trấn Đồng Xoài. Tỉnh Bình Phước lúc đó cùng với Bình Dương lập thành tỉnh Sông Bé. Sau đó, ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bình Phước được tái lập, thì thị trấn Đồng Xoài tách ra lập thành thị xã Đồng Xoài vào năm 1999.
Đồng Phú rộng 929,1 km² và có 58,5 nghìn nhân khẩu. Phía Tây giáp huyện Chơn Thành và thị xã Đồng Xoài, phía Bắc giáp Phước Long, phía Tây Bắc giáp Bù Đăng, phía Đông giáp Vĩnh Cửu, phía Nam giáp Phú Giáo.
Trên địa bàn huyện Đồng Phú có một phần mở rộng của vườn quốc gia Cát Tiên, có khu du lịch Suối Lam.
Tại huyện Đồng Phú, bên tay phải các bạn sẽ thấy đường dây điện 500kv. Đây là tuyến điện rất quan trọng của cả nước và nó chạy dọc theo quốc lộ 14 tới Kon Tum và sau đó qua Lào.
Hết huyện Đồng Phú chúng ta sẽ đến thị xã Đồng Xoài
Thị xã Đồng Xoài
Đồng Xoài có diện tích là 169,6 km² và dân số là 50.800 người (năm 2004).
Đồng Xoài là một địa danh nổi tiếng trong chiến tranh Việt Nam. Trận Đồng Xoài là một trận đánh do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, mà phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa cũng gọi là Việt Cộng, trong thời kỳ chiến dịch Đông-Xuân năm 1965. Đây là trận lớn nhất trong giai đoạn này của Chiến tranh Việt Nam.
Qua khỏi chợ Đồng Xoài một đoạn sẽ gặp 1 ngã 4, đây là điểm giao cắt giữa tỉnh lộ 741 và quốc lộ 14. rẽ trái là đi Chơn Thành còn rẽ phải là đi Đắk Nông, còn đi thẳng là tới Phước Long
Ở ngã 4 này chúng ta sẽ rẽ phải, đi theo quốc lộ 14 dể đến với tỉnh Đắk Nông.
Quốc lộ 14
Quốc lộ 14 là con đường giao thông huyết mạch nối các tỉnh Bắc Trung Bộ với các tỉnh cao nguyên Nam Trung Bộ và các tỉnh Đông Nam Bộ. Nếu tính về chiều dài (khoảng 890 km) thì đây là quốc lộ dài thứ 2 của Việt Nam, chỉ sau quốc lộ 1A.
Quốc lộ 14 chạy qua địa phận các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Bình Phước.
• Điểm đầu: Cầu Đa Krong, huyện Đa Krong, Quảng Trị.
• Lý trình: TT.A Lưới (H.A Lưới, Thừa Thiên Huế) – TT.Prao (H.Đông Giang, Quảng Nam) – TT.Khâm Đức (H.Phước Sơn, Quảng Nam) – TT.Pleikan (H.Ngọc Hồi, Kon Tum – Thị xã Kon Tum), Kon Tum – Thành phố Pleiku, Gia Lai – Thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk – Thị xã Gia Nghĩa, Đăk Nông – Thị xã Đồng Xoài, Bình Phước.
• Điểm cuối: TT.Chơn Thành (H.Chơn Thành, Bình Phước).
Đoạn từ cầu Đa Krong tới thị xã Kon Tum là đường bê tông nhựa, từ thị xã Kon Tum tới thị trấn Chơn Thành là đường nhựa.
Hết Đồng Xoài thì sẽ tới Đắk Nông
Đăk Nông
Đăk Nông, hay Đắc Nông, là một tỉnh của Tây Nguyên, được tách ra từ sáu huyện phía nam của tỉnh Đắk Lắk năm 2004. Phía bắc tỉnh Đăk Nông giáp Đăk Lăk, phía đông và đông nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía tây giáp tỉnh Bình Phước và Campuchia.
Địa bàn tỉnh Đăk Nông gần như là địa bàn tỉnh Quảng Đức thời Việt Nam Cộng hòa, có thêm huyện Cư Jút của tỉnh Đăk Lăk.
Đăk Nông nằm ở phía tây nam Trung Bộ, đoạn cuối dãy Trường Sơn, trên một vùng cao nguyên, độ cao trung bình 500 m so với mặt biển. Địa hình tương đối bằng, có bình nguyên rộng lớn với nhiều đồng cỏ trải dài về phía đông. Phía tây địa hình thấp dần, nghiêng về phía Campuchia, phía nam là miền đồng trũng có nhiều đầm hồ.
Có 3 hệ thống sông chính: sông Ba, sông Sêrêpôk (các nhánh Krông Bông, Krông Păk, Krông Ana, Krông Nô,..) và một số sông nhỏ khác, nhiều thác nước cao, thuỷ năng lớn.
Trên địa bàn tỉnh Đăk Nông có các dân tộc người Việt (Kinh), Êđê, Nùng, M’Nông, Tày cùng sinh sống.
Đăk Nông có diện tích đất canh tác màu mỡ, chủ yếu là đất bazan, thuận lợi cho trồng cây công nghiệp, đặc biệt là cà phê, cao su, hạt tiêu… Tỉnh cũng rất giàu trữ lượng khoáng sản, đặc biệt là quặng bô-xít dùng để sản xuất nhôm.
Vùng đất này có nền văn hoá cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc đậm nét truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn.
Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hoá dân gian Việt Nam: bộ đàn đá của người M’Nông (huyện Lăk – Đăk Lăk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đăk R’lâp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T’rưng, đàn Klông pút, đàn nước, kèn, sáo… Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của cồng, chiêng.
Đắk Nông có các di tích, danh thắng như: Thác Diệu Thanh, Thác Ba Tầng, Thác Đăk Nông, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung, Cao nguyên Jubát, Thác Trinh Nữ, Thác Đray Sáp, Thác Gia Long, Hồ Ea Snô, Sông Krông Nô.
Đi hết Đắk Nông chúng sẽ tới Đắk Lắc với thành phố Buôn Mê Thuột. Đây là một thành phố khá lớn, có tốc độ phát triển khá cao, cơ sở vật chất hạ tầng khá hoàn thiện.
Đăk Lăk
Đăk Lăk, Darlac hay Đắc Lắc (theo tiếng Ê Đê: Đăk = nước; Lăk = hồ) là một tỉnh nằm ở trung tâm Tây Nguyên, phía bắc giáp Gia Lai, phía nam giáp Lâm Đồng, phía tây nam giáp Đăk Nông, phía đông giáp Phú Yên và Khánh Hoà, phía tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 193 km.
Tỉnh lỵ của Đăk Lăk là thành phố Buôn Ma Thuột, cách Hà Nội 1.410 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 320 km
Đăk Lăk có diện tích tự nhiên 13.085 km², chiếm 3.9 % diện tích tự nhiên cả nước Việt Nam, Tổng dân số cuối năm 2006 ước có 1.737.376 ngườ
Là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về rừng với gần 1 triệu ha đất Nông, Lâm nghiệp,trong đó trên 600.000 ha có rừng, độ che phủ của rừng ở đây là 50%. Ở đây có Vườn quốc gia Yok Đôn rộng trên 115.500 ha, là khu vườn quốc gia lớn nhất Việt Nam.
Ngoài ra, Đăk Lăk còn có 4 khu Bảo tồn thiên nhiên, Rừng Đặc dụng: Vườn quốc gia Chư Yang Sin huyện Krông Bông, Khu bảo tồn thiên nhiên Nam Kar huyện Lắk và Rừng lịch sử văn hóa môi trường Hồ Lắk huyện Lắk, Khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô huyện EaKar mỗi khu có diện tích từ 20 đến 60 nghìn ha.
Đăk Lăk không chỉ có núi non trùng điệp với những thảm rừng đa sinh thái với hơn 3 nghìn loài cây, 93 loài thú, 197 loài chim, mà còn là cao nguyên đất đỏ phù hợp với việc phát triển cây công nghiệp dài ngày.
Môi trường này đã tạo nên trường ca Đam San, Xinh Nhã dài hàng nghìn câu truyền miệng từ bao đời nay, làm ra con chữ riêng cho người Ê Đê, người M’Nông; làm nên đàn đá, đàn t’rưng, đàn klôngpút độc đáo và làm nên biệt tài săn bắt, thuần dưỡng voi rừng của người Buôn Đôn đứng đầu Đông Nam Á. Vua voi (N’Thu K’nul, trong 110 năm của đời mình đã săn bắt và thuần dưỡng được hơn 170 con voi rừng, trong đó có con Bạch Tượng tặng vua Xiêm và R’Leo K’Nul người kế tục cũng bắt được hơn 100 con voi có 1 con Bạch tượng tặng vua Bảo Đại.
Đắk Lắk là một trong những cái nôi nuôi dưỡng Không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể của Nhân loại.
Đáng chú ý khi đến thăm Đắk Lắk là những ngôi nhà dài truyền thống theo huyền thoại có thể “dài như tiếng chiêng ngân” hoặc các bến nước của các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, một nét văn hoá rất đặc trưng của vùng đất này và ấn tượng với du khách bằng những sản phẩm gia dụng như bàn, ghế và cả thuyền độc mộc đẻo từ những cây rừng lớn nguyên vẹn…
Có Lễ hội đua Voi, Lễ hội Cồng chiêng và Lễ hội Cà phê đã được nhà nước công nhận và tổ chức đều đặn hàng năm như một giá trị truyền thống.
Tiếp tục chạy trên quốc lộ 14 chúng ta sẽ đến với thành phố Buôn Mê Thuột.
Thành Phố Buôn Mê Thuột
Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk và là thành phố lớn nhất ở vùng Tây Nguyên Việt. Diện tích của thành phố khoảng 370 km², dân số 340.000 người(2006)
Buôn Ma Thuột gốc tiếng Ê Đê, nghĩa là “bản hoặc làng của Ama Thuột”, nó xuất phát từ tên gọi buôn của A ma Thuột – tên một vị tù trưởng giàu có và quyền uy nhất vùng; để rồi từ đây hình thành nên các buôn làng xung quanh, phát triển thành thành phố Buôn Ma Thuột ngày hôm nay.
Thuở xưa, đây là vùng đất của người Ê Đê Kpă với khoảng 50 nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam do tù trưởng A Ma Thuột cai quản.
Với lợi thế là trung tâm của Đắk Lắk cũng như toàn Tây Nguyên, một vị trí có tầm chiến lược về quân sự và kinh tế của cả vùng, lại nằm gọn trên một cao nguyên đất đỏ màu mỡ và bằng phẳng, năm 1904, khi tỉnh Đắk Lắk được thành lập, Buôn Ma Thuột được chọn làm cơ quan hành chính của tỉnh này thay cho Bản Đôn.
Ngày 5 tháng 6 năm 1930, Khâm sứ Trung Kỳ ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột.
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa thị xã này có tên là Ban Mê Thuột.
Ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam bất ngờ tiến đánh Buôn Ma Thuột, mở đầu cho chiến dịch Hồ Chí Minh, tiến tới việc đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Do Buôn Ma Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như: Đình Lạc Giao, Chùa Sắc tứ Khải Đoan, Nhà đày Buôn Ma Thuột, khu Biệt điện Bảo Đại – hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk, Toà Giám mục tại Đắk Lắk.
Du khách cũng có thể đến với làng văn hoá buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê…
Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp…
Hết thành phố chúng ta sẽ đi qua huyện Krông Búk với thị trấn Buôn Hồ và huyện Eahleo với thị trấn Eahleo để đến với tỉnh Gia Lai.
Gia Lai
Diện tích: 15.536,9 km²
Dân số: 1.161,7 nghìn người (năm 2006)
Gia Lai là một tỉnh miền núi – biên giới nằm ở phía bắc Tây Nguyên trên độ cao 600 – 800m so với mặt biển. Phía bắc Gia Lai giáp tỉnh Kon Tum, phía nam giáp tỉnh Đắk Lắk, phía tây giáp Cam-pu-chia với 90km là đường biên giới quốc gia, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên.
Gia Lai là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông đổ về miền duyên hải và Cam-pu-chia như sông Ba, sông Sê San và các con suối khác. Vùng đất Gia Lai có nhiều suối hồ, ghềnh thác, đèo và những cánh rừng nguyên sinh tạo nên những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ thơ mộng, mang đậm nét hoang sơ nguyên thủy của núi rừng Tây Nguyên. Đó là rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh và Kon Cha Rang nơi có nhiều động vật quí hiếm; thác Xung Khoeng hoang dã ở huyện Chư Prông; thác Phú Cường thơ mộng ở huyện Chư Sê. Nhiều con suối đẹp như suối Đá Trắng, suối Mơ và các danh thắng khác như bến đò “Mộng” trên sông Pa, Biển Hồ (hồ Tơ Nưng) trên núi mênh mông và phẳng lặng – núi Hàm Rồng cao 1.092m mà đỉnh là miệng của một núi lửa đã tắt.
Gia Lai có truyền thống cách mạng hào hùng, có khu Tây Sơn Thượng, căn cứ địa của vua Quang Trung, là quê hương anh hùng Núp. Nhiều địa danh chiến trường xưa của Gia Lai như Pleime, Cheo Reo, La Răng đã đi vào lịch sử.
Tỉnh Gia Lai có cộng đồng nhiều dân tộc chung sống, người Kinh chiếm 52% dân số, còn lại là người Gia Rai (33,5%), Ba Na (13,7%), Giẻ Triêng, Xơ Đăng, Cơ Ho, Nhắng, Thái, Mường…
Gia Lai là một vùng đất có bề dày lịch sử với nền văn hóa cổ xưa mang bản sắc độc đáo của đồng bào các dân tộc, chủ yếu là Gia Rai và Ba Na thể hiện qua kiến trúc nhà rông, nhà sàn, nhà mồ, qua lễ hội truyền thống, qua y phục và nhạc cụ. Các lễ hội đặc sắc ở Gia Lai: lễ Pơ Thi (Bỏ Mả), lễ hội đâm trâu, múa xoang…trang phục ngày hội được trang trí hoa văn nhiều màu sắc thần bí, các điệu múa dân gian và âm thanh vang vọng của các loại nhạc cụ riêng của từng dân tộc như tù và, đàn đá, cồng chiêng… Đến Gia Lai du khách còn được xem những khu nhà mồ dân tộc với những bức tượng đủ loại và những nghi lễ còn rất hoang sơ với tôn giáo đa thần (Tô Tem) còn nhiều nét nguyên thủy.
Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trục quốc lộ 19 nối với các tỉnh duyên hải miền Trung từ Quy Nhơn đến Pleiku và đi các tỉnh đông bắc Cam-pu-chia; quốc lộ 25 nối với Phú Yên.
Chúng ta sẽ đi qua huyện Chư Sê của tỉnh Gia Lai, thị trấn Chư Sê cũng nằm trên quốc lộ 14. Dọc theo chiều dài của huyện, hai bên đường là cây cao su và cây cà phê.
Chư Sê
Chư Sê là một huyện phía nam tỉnh Gia Lai. Chư Sê cách Pleiku 40km về phía nam. Quốc lộ 14 nối ngã ba Chư Sê với Đăk Lăk, Đăk Nông, Bình Phước, Bình Dương và thành phố Hồ Chí Minh. Từ ngã ba Chư Sê cũng có thể đi theo quốc lộ 7 (cũ, nay là quốc lộ 25) đến thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.
Huyện Chư Sê có diện tích tự nhiên 109.833 ha, Dân số của huyện có 117.443 người
Và chúng ta sẽ đi ngang qua Hoàng Anh Gia Lai- một tập đoàn kinh tế lớn của Việt Nam, đặc biệt nổi tiếng về sản phẩm đồ gổ xuất khẩu.
Hoàng Anh Gia Lai
Khởi nghiệp từ năm 1990 từ một phân xưởng nhỏ chuyên đóng bàn ghế cho học sinh xã Chưhdrông, Thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai do Ông Đoàn Nguyển Đức trực tiếp điều hành. Đến nay, Hoàng Anh Gia Lai đã đạt được bước tiến mạnh mẽ và trở thành tập đoàn tư nhân hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Các sản phẩm như đồ gỗ nội, ngoại thất cao cấp; đá granite ốp lát tự nhiên; mủ cao su đã có mặt hầu khắp các thị trường Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Australia, New Zealand…Các văn phòng đại diện được thiết lập tại một số nước nhằm tạo điều kiện cho khách hang có thể tiếp cận, giao dịch với tập đoàn một cách thuận tiện và nhanh chóng nhất. Bên cạnh việc duy trì và mở rộng thị trường xuất khẩu, Hoàng Anh Gia Lai Group đang phát triển thị trường trong nước bằng việc hình thành hệ thống siêu thị đồ gỗ, đá granite với qui mô lớn tại 5 trung tâm đô thị chính Hà Nội, Tp.HCM, Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Trong nhiều năm liền Hoàng Anh Gia Lai Group được đánh giá là một trong những nhà sản xuất đồ gỗ hang đầu cả nước và được người tiêu dung bình chọn “Hàng Việt Nam chất lượng cao”.
Việc sở hữu đội bóng danh tiếng Hoàng Anh Gia Lai với những thành công vang dội trong thời gian qua đã thu hút sự quan tâm của đông đảo người yêu thích bóng đá. Hình ảnh của đội bóng là công cụ xây dựng và quảng bá thương hiệu rất hiệu quả.
Đi qua khỏi Hoàng Anh Gia Lai, cũng về bên phải là núi Chư Hrong(Hàm Rồng)
Đi hết huyện Chư Sê là tới thành phố Pleiku. Một thành phố không rộng lắm nhưng khá đẹp.
Thành Phố Pleiku
Dân số 188.223 người, bao gồm 28 dân tộc đang sinh sống.
Thành phố Pleiku là đô thị phía bắc Tây Nguyên, nằm trên trục giao thông giữa quốc lộ 14, quốc lộ 19 nối thông suốt cả nước, gần ngã ba Đông Dương, nằm trên cung đường Hồ Chí Minh, và trong vùng tam giác tăng trưởng các tỉnh lân cận, cũng như các quốc gia láng giềng như Campuchia, Lào. Tổng diện tích tự nhiên là 26.166,36 ha, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội của tỉnh Gia Lai.
Pleiku nằm trên độ cao trung bình 300m -500 m; ngã ba quốc lộ 14 và quốc lộ 19 có độ cao 785 m.
Ra khỏi trung tâm thành phố không xa, cách cầu Bà Di khoảng 200m, bên tay trái là đường vào sân bay Pleiku
Sân bay Pleiku mỗi ngày đều có chuyến bay đi thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Hà Nội.
Đi thẳng thêm khoảng 4 kilomet nữa, tới ngã tư Biển Hồ, rẽ phải đi thêm 2 kilomet nữa là tới hồ Hồ T’nưng
Hồ T’nưng
Hồ T’nưng, hay Biển Hồ, là một hồ nước ngọt nằm ở phía tây thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đây là hồ nước ngọt quan trọng cấp nước cho thành phố này. Biển Hồ Tơ Nưng còn gọi là hồ Ea Nueng. Theo các nhà khoa học thì hồ T’Nưng chính là miệng núi lửa đã ngừng hoạt động từ hàng trăm triệu năm qua. Hồ có hình bầu dục, sâu 20-30 m, với diện tích 230 ha. Bờ hồ chính là miệng núi lửa nhô cao cho nên đứng từ xa vẫn trông thấy rõ. Hồ T’Nưng là một trong những hồ đẹp nhất ở Tây Nguyên, khi gió to thường có sóng lớn nên mới gọi là biển hồ. Còn người địa phương gọi là T’Nưng, có nghĩa là “biển trên núi”.
Tiếp tục đi theo quốc lộ 14, ra khỏi thành phố thì sẽ tới huyện Chư Pã. Đi qua đoạn đường này các bạn sẽ thấy 1 ngã 3, gọi là ngã 3 Gia Ly đây là con đường đi vào thủy điện Yaly, từ quốc lộ 14 chạy vào khoảng 25 cây là tới thủy điện. Trên đường đi vào thủy điện chúng ta sẽ đi ngang qua làng người Gia Rai.
Người Gia Rai
Người Gia Rai là một dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Nam Đảo. Dân số của dân tộc này khoảng 317.557 người. Người Gia Rai còn có các tên gọi khác là người Giơ Rai, Chơ Rai, Tơ Buăn, Hơbau, Hdrung, Chor hay Gia Lai. Họ sinh sống và cư trú chủ yếu tập trung ở tỉnh Gia Lai (90%), một bộ phận ở tỉnh Kon Tum (5%) và phía bắc tỉnh Đăk Lăk (4%).
Người Gia Rai sống chủ yếu bằng nghề trồng trọt nương rẫy; lúa tẻ là cây lương thực chính. Công cụ canh tác của người Gia Rai giản đơn, chủ yếu là con dao chặt cây, phát rừng, cái cuốc xới đất và cây gậy chọc lỗ khi tra hạt giống. Chăn nuôi trâu, bò, lợn, chó, gà phát triển. Xưa kia, người Gia Rai có đàn ngựa khá đông. Người Gia Rai còn nuôi cả voi. Đàn ông thạo đan lát các loại gùi, giỏ, đàn bà giỏi dệt khố váy, mền đắp, vải may áo cho gia đình. Săn bắn, hái lượm, đánh cá là những hoạt động kinh tế phụ khác có ý nghĩa đáng kể đối với đời sống của họ xưa và nay.
Người Gia Rai sống thành từng làng (plơi hay bôn). Trong làng ông trưởng làng cùng các bô lão có uy tín lớn và giữ vai trò điều hành mọi sinh hoạt tập thể, ai nấy đều nghe và làm theo. Mỗi làng có nhà rông cao vút.
Dân tộc Gia Rai theo truyền thống mẫu hệ, phụ nữ tự do lựa chọn người yêu và chủ động việc hôn nhân. Sau lễ cưới, chàng trai về ở nhà vợ, không được thừa kế tài sản. Trái lại, con gái lấy chồng lần lượt tách khỏi cha mẹ ra ở riêng, được phân chia một phần tài sản. Con cái đều theo họ mẹ. Ngoài xã hội, đàn ông đóng vai trò quan trọng hơn, nhưng trong nhà phụ nữ có ưu thế hơn. Ngày xưa, có tục những người cùng dòng họ (theo phía mẹ), khi chết chôn chung một hố, nay tục này đã giảm.
Nói đến dân tộc Gia Rai phải kể đến những trường ca, truyện cổ nổi tiếng như “Đăm Di đi săn”, “Xinh Nhã”… Dân tộc Gia Rai cũng độc đáo trong nghệ thuật chơi chiêng, cồng, cạnh đó là đàn T’rưng, đàn Tưng nưng, đàn Krông pút. Những nhạc cụ truyền thống này gắn liền với đời sống tinh thần của đồng bào. Người Gia Rai hầu như hát múa từ tuổi nhi đồng cho đến khi già yếu, không còn đủ sức nữa, mới chịu đứng ngoài những cuộc nhảy múa nhân dịp lễ hội tổ chức trong làng hay trong gia đình.
Có nơi ở nhà dài, có nơi làm nhà nhỏ, nhưng đều chung tập quán ở nhà sàn, đều theo truyền thống mở cửa chính nhìn về hướng Bắc
Có nét riêng trong phong cách tạo hình và trang trí. Mặc dù hoa văn trang trí cụ thể các nhóm khác nhau nhưng có thông số chung của tộc người.
Tiếp tục chạy thảng là sẽ tới thủy điện Yaly
Nhà Máy Thuỷ Điện Yaly
Nhà máy thuỷ điện Yaly là tổ hợp kỹ thuật điều hành công trình thủy điện Yali trên sông Sêsan. Nhà máy được khởi công năm 1993 và hoàn thành vào năm 2003. Địa điểm: huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai. Lòng hồ thuỷ điện Yaly phần lớn nằm trên địa phận huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, thuộc lưu vực sông Pô Kô và Đắk Bla, công suất thiết kế 720 MW. Mỗi năm nhà máy nộp thuế tài nguyên nước khoảng 70 tỷ đồng.
Tiếp tục đi theo quốc lộ 14, chạy khoảng 30km chúng ta sẽ tới tỉnh Kon Tum
Kon Tum
Kon Tum là tỉnh miền núi vùng cao Tây Nguyên, phía Tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào và Vương quốc Campuchia, với chiều dài biên giới khoảng 260 km, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi; phía Nam giáp tỉnh Gia Lai; có đường 14 nối với các tỉnh Tây Nguyên và Quảng Nam, đường 40 đi Atôpư (Lào). Nằm ở ngã ba Đông Dương, Kon Tum có điều kiện hình thành các cửa khẩu, mở rộng hợp tác quốc tế về phía Tây. Ngoài ra, Kon Tum có vị trí chiến lược hết sức quan trọng về quốc phòng, bảo vệ môi trường sinh thái. Kon Tum là đầu mối giao lưu kinh tế của cả vùng duyên hải miền Trung và cả nước.
Phần lớn lãnh thổ tỉnh nằm ở phía Tây dãy Trường Sơn, địa hình có hướng thấp dẫn từ Bắc tới Nam và từ Đông sang Tây. Địa hình đa dạng với gò đồi, núi, cao nguyên và vùng trũng xen kẽ nhau khá phức tạp, tạo ra những cảnh quan phong phú, đa dạng vừa mang tính đặc thù của tiểu vùng, vừa mang tính đan xen và hoà nhập, Kon Tum có độ cao trung bình từ 500 m – 700 m; phía Bắc có độ cao từ 800 m – 1.200 m; có đỉnh Ngọc Linh cao nhất với độ cao 2.596 m.
Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 961.450 ha, với nhiều loại đất. Rừng Kon Tum phần lớn là rừng nguyên sinh có nhiều gỗ quý như: cẩm lai, dáng hương, pơ mu, thông… với diện tích đất có rừng là 621.450 ha, trữ lượng khoảng 54 triệu m3 gỗ và 2 tỷ cây tre nứa, độ che phủ của rừng đạt trên 64%. Một số lâm sản dưới tán rừng có giá trị kinh tế và dược liệu cao như: gió, sâm Ngọc Linh, sa nhân, nhựa thông, song mây, bông đót, mã tiền, vạng đắng, hoàng đắng, ngũ gia bì, hà thủ ô… Hiện tại, Kon Tum có bốn khu từng đặc dụng, đó là: khu bảo tồn thiên nhiên Chưmôrây, khu rừng đặc dụng này rất phong phú và đang dạng về số lượng chủng loại, là nơi chứa nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm được ghi trong cuốn sách đỏ Việt Nam như: voi, hươu vang, cà toong, công…
Kon Tum có nhiều cảnh quan tự nhiên như hồ Ya ly, rừng thông Măng Đen, khu bãi đá thiên nhiên Km 23, thác Đắk Nung, suối nước nóng Đắk Tô và các khu rừng đặc dụng, khu bảo tồn thiên nhiên… có khả năng hình thành các khu du lịch cảnh quan, an dưỡng. Các cảnh quan sinh thái này có thể kết hợp với các di tích lịch sử cách mạng như: di tích cách mạng ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei, di tích chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh, chiến thắng Plei Kần, chiến thắng Măng Đen… các làng văn hoá truyền thống bản địa tạo thành các cung, tuyến du lịch sinh thái – nhân văn.
Kon Tum còn là nơi có nhiều cảnh quan thiên nhiên mang nét nguyên sơ, các khu rừng nguyên sinh, di tích đường mòn Hồ Chí Minh, di tích lịch sử chiến thắng Đắk Tô – Tân Cảnh, ngục Kon Tum, ngục Đắk Glei,… đây là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.
Qua khỏi cầu Đắk Blà, rẽ phải chạy theo đường Nguyễn Huệ chúng ta sẽ đi qua nhà thờ Gỗ
hà Thờ Gỗ Kontum
Nằm ở nội vi thị xã, nhà thờ gỗ Kontum xây dựng năm 1913, do một linh mục người Pháp tổ chức thi công, nay đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn cho nhiều du khách đến vùng đất Kontum.
Nhà thờ tọa lạc trên một diện tích rộng với nhiều công trình liên hoàn khép kín: nhà thờ – nhà tiếp khách – nhà trưng bày các sản phẩm dân tộc và tôn giáo – nhà rông. Ngoài ra, trong khuôn viên nhà thờ còn có cô nhi viện – cơ sở may, dệt thổ cẩm – cơ sở mộc, thu hút hàng chục lao động làm việc từ thiện . Từ xa, Nhà thờ là một công trình kiến trúc hoàn toàn bằng gỗ làm theo kiểu Roman du khách đã có thể thấy tháp chuông nhà thờ cao sừng sững trên nền trời. Bên trong, cột và các giàn gỗ được lắp ghép khít khao. Trần nhà xây dựng bởi rui, mè tre, đất và rơm, đã hơn 80 năm trôi qua vẫn bền, đẹp. Cung thánh nhà thờ được trang trí theo hoa văn các dân tộc ít người Tây Nguyên, trang nghiêm và gần gũi.
Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên bởi công trình lớn, đep, điệu nghệ như vậy mà được xây dựng hoàn toàn bằng phương pháp thủ công dưới những bàn tay tài hoa của người thợ. Nhà thờ còn đẹp hơn bởi khu hoa viên có nhà rông cao vút, các bức tượng được tạo nên bằng rễ cây, mang bản sắc văn hóa riêng của đồng bào các dân tộc. Du khách có thể tham quan trong khuôn viên nhà thờ, cơ sở dệt thổ cẩm chính người dân tộc bản địa và uống rượu dâu, rượu nho do các nữ tu sỹ chế biến.
Nhà thờ gỗ Kontum ngoài giá trị về kiến trúc văn hóa, còn là nơi hấp dẫn du khách bởi các yếu tố nhân văn.
Đi khoảng 2km nũa các bạn sẽ đi qua làng người Ba Na
Làng Ba Na
Làng Ba Na là những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu.
Dân tộc Ba Na là một trong ba dân tộc bản địa đông người nhất ở Tây Nguyên, họ sống nhiều nhất ở tỉnh Kon Tum. Ba Na Kon Tum là tên cộng đồng người Ba Na tập trung ở thị xã Kon Tum. Theo tiếng Ba Na thì Kon nghĩa là làng, Tum nghĩa là hồ, ao. Kon Tum là làng có nhiều ao, hồ.
Đến thăm làng Ba Na, du khách sẽ nhìn thấy những nếp nhà sàn dựng trên nền đất hình vuông hay hình chữ nhật, cầu thang lên nhà thường là một thân cây gỗ, đục đẽo thành nhiều bậc khá công phu. Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biết dùng chữ viết trong đời sống và dùng trâu bò để cày ruộng. Tuy nhiên họ cũng chưa biết tổ chức cuộc sống khoa học, gạo chỉ giã đủ ăn từng ngày. Trước đây người Ba Na có truyền thống săn bắn giỏi, tới gia đình nào bạn cũng có thể nhìn thấy có vài cái nỏ bằng gỗ rất chắc.
Cũng như nhiều dân tộc khác ở Tây Nguyên, giữa sàn nhà người Ba Na là bếp lửa luôn luôn đỏ than. Bếp cũng là trung tâm sinh hoạt của mọi thành viên trong gia đình.
Ðàn ông Ba Na thường có vết sẹo ở ngực. Ðó là vết tích do họ tự gây nên bằng cách lấy lửa hoặc than hồng dí vào ngực khi trong nhà có người chết, để tỏ lòng thương tiếc người quá cố.
cách làng Ba Na không xa là chiếc cầu treo Konklor
Cầu Treo KonKlor
Cầu treo KonKlor và làng Bana thuộc địa phận làng Konklor, thị xã Kontum. Cầu nối liền hai bờ của dòng sông Đăk Bla huyền thoại. Đến đây, du khách có thể ghé thăm làng dân tộc BahNar KonKlor ở hữu ngạn dòng sông. Đó là những vườn chuối, vườn cà phê và các loại cây ăn quả.
Hết thị xã Kon Tum, tiếp tục đi trên quốc lộ 14 thêm 20km là tới huyện Đắk Hà
Đăk Hà
Đăk Hà hay Đắc Hà là một huyện thuộc tỉnh Kon Tum. Huyện Đắk Hà phía Nam giáp thị xã Kon Tum, phía Đông giáp huyện Kon Plông, phía Bắc giáp huyện Tu Mơ Rông, phia Tây giáp huyện Đắk Tô, phía Tây Nam giáp huyện Sa Thầy với ranh giới là thượng nguồn của con sông Krong Pơ Kô.
Tiếp tục đi thêm 18km nữa chúng ta sẽ tới huyện Đắk Tô
Đắk Tô
Đắk Tô là một huyện của tỉnh Kon Tum. Huyện Đắk Tô phía Tây giáp huyện Ngọc Hồi, phía Nam giáp huyện Sa Thầy, phía Đông giáp huyện Đắk Hà, phía Bắc giáp huyện Tu Mơ Rông.
Diện tích tự nhiên của Đắk Tô hiện nay là 51.570 ha. Dân số tính tới năm 2004 là 29.015 người. Thị trấn Đắk Tô, là huyện lỵ của huyện Đắk Tô, được tách ra từ xã Tân Cảnh
Huyện Đắk Tô trước năm 1978, là một huyện lớn về diện tích của tỉnh Kon Tum, nó bao gồm phần đất của 3 huyện: huyện Đắk Tô hiện nay, huyện Tu Mơ Rông và huyện Sa Thầy. Ngày 10 tháng 10 năm 1978 huyện tách thành hai huyện Đắk Tô và Sa Thầy, đều thuộc tỉnh Gia Lai – Kon Tum.
Trận Đắk Tô năm 1967, trận đánh nổi tiếng trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam diễn ra tại một cứ điểm thuộc xã Tân Cảnh cũ, nay nằm trên địa bàn thị trấn Đắc Tô, gần quốc lộ 14.
Và sau cùng các bạn sẽ tới huyện Ngọc Hồi
Huyện Ngọc Hồi
Huyện Ngọc Hồi là huyện ngã ba biên giới, nằm ở phía Tây tỉnh Kon Tum, bên sườn phía đông dải Trường Sơn, giáp với huyện Đắk Glei ở phía Bắc, huyện Tu Mơ Rông ở phía Đông Bắc, huyện Đắc Tô ở hướng Đông Nam, huyện Sa Thầy ở hướng Nam, Lào và Campuchia ở hướng Tây.
Huyện lỵ là thị trấn Plei Kần. Quốc lộ 40 theo hướng đông tây nối cửa khẩu quốc tế Bờ Y với Plei Kần và với thị xã Kon Tum. Quốc lộ 14 theo hướng bắc nam. Huyện Ngọc Hồi rộng 824 km², gồm 7 xã và 1 thị trấn.
Huyện Ngọc Hồi được thành lập trên cơ sở chia tách 3 huyện: Đăk Glei, Sa Thầy, Đăk Tô
Phía tây vượt qua dãy Trường Sơn là đường biên giới chung với Lào dài 34 km và đường biên giới chung với Campuchia dài 13 km.
Trung tâm thị trấn Plây Kần là điểm giao nhau của trục tuyến thông thương Bắc-Nam và Đông-Tây bao gồm đường xuyên Việt mang tên Hồ Chí Minh (quốc lộ 14) và đường xuyên Đông Dương (quốc lộ 40), thông qua cửa khẩu quốc tế Bờ Y qua Lào, Campuchia, Thái Lan cho đến tận Myanma.
Tại huyện này có cửa khẩu quốc tế Bờ Y
Khu Kinh Tế Cửa Khẩu Quốc Tế Bờ Y
Khu kinh tế Cửa khẩu quốc tế Bờ Y có vị trí rất thuận lợi trong sự giao lưu phát triển với các vùng trọng điểm trong nước, các nước trong khu vực và quốc tế. Nó nằm trên ngã ba biên giới trong tam giác phát triển ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia.
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y có diện tích 70.438 ha, bao gồm các xã Sa Loong, Bờ Y, Đắk Sú, Đắk Nông, Đắk Dục và thị trấn Plei Kần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum. Phía Bắc, khu này giáp huyện Đắk Glei, phía Nam giáp huyện Sa Thầy, phía Đông giáp huyện Đắk Tô và xã Đắk Ang (huyện Ngọc Hồi), phía Tây giáp Lào và Campuchia (có chung đường biên giới với Lào 30 km, Campuchia 25 km).
Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y được thành lập nhằm:
Xây dựng và phát triển Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y trở thành Vùng động lực, trung tâm liên kết trên hành lang kinh tế Đông – Tây trong tam giác phát triển ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia.
Xây dựng Khu trung tâm, Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y trở thành đô thị biên giới, khai thác có hiệu quả các điều kiện về vị trí địa lý, chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội trong quá trình giao lưu kinh tế quốc tế để thúc đẩy phát triển kinh tế, phát huy tác dụng lan toả của Khu kinh tế cửa khẩu quốc tế Bờ Y đối với tam giác phát triển ba nước Việt Nam – Lào – Campuchia trong quá trình hội nhập.
Thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn, biên giới và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, văn hoá, xã hội, dân tộc, trật tự an ninh quốc phòng trên cơ sở tạo được nhiều việc làm, thúc đẩy đào tạo, nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực.
Tạo điều kiện bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và an ninh biên giới quốc gia, giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm đoàn kết dân tộc, tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các quốc gia trong khu vực.
Với tour Tây Nguyên, chúng tôi hy vọng các bạn sẽ biết thêm được nhiều điều về cuộc sống, văn hóa… của con người Tây Nguyên. Vùng đất Tây Nguyên còn rất nhiều nhiều điều chưa được khám phá, bên cạnh đó nơi đây còn có những nét văn hóa phong phú của mỗi dân tộc ở đây như văn hóa cồng chiêng (đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới), lễ hội đâm Trâu, hội ngày mùa, lễ bỏ mã… đây là những nét văn hóa rất độc đáo. Đến với đồng bào Tây Nguyên uống chút rượu cần, thưởng thức món cơm Lam, hay những đặc sản của núi rừng cũng khá thú vị. Đến với Tây Nguyên là đến với thiên nhiên cây cối với một bầu không khí trong lành hẳn bạn sẽ cảm thấy thoải mái và sẽ quên đi cái không khí nóng bức ngột ngạt chốn thành đô.

I/ NÔI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN TRUNG
1) ĐỊA LÝ
Diện tích: 62.256,8 km².
Dân số: 11.479.500 người.
Duyên hải miền trung bao gồm các tỉnh từ Đèo Ngang trở vào Bình Thuận, ứng với vương quốc Chămpa cổ, gồm có 11 tỉnh: Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Phía Bắc giáp Hà Tĩnh (ranh giới là Đèo Ngang).
Phía Nam giáp Đông Nam Bộ.
Phía Tây giáp Lào và Tây Nguyên.
Phía Đông giáp biển Đông (có nhiều vịnh, biển đẹp tầm quốc tế).
Thành phố trực thuộc Trung Ương là Đà Nẵng.
Địa hình có hai dạng chính: miền núi và đồng bằng thung lũng hẹp. Độ cao thấp dần từ Tây sang Đông. Có nhiều nhánh núi nhỏ đâm thẳng ra biển làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh ( cụ thể là: đèo Ngang giữa Quảng Bình và Hà Tĩnh, đèo Hải Vân giữa Đà Nẵng, đèo Bình Đê giữa Quảng Ngãi và Bình Định, đèo Cù Mông giữa Bình Định và Phú Yên, đèo Cả giữa Phú Yên và Khánh Hòa).
Khí hậu: từ phía Bắc đèo Hải Vân trở ra Quảng Bình (Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Quảng Bình) một năm có 4 mùa giống miền Bắc. Từ nam đèo Hải Vân đến Bình Thuận có mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12, kèm mưa bão (trung bình 10 lần/năm), và có lũ quét dữ dội (khác lũ hiền ở miền Tây Nam Bộ).
Sông ngòi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn ở phía Tây chảy về phía Đông tạo ra các cửa biển lớn như: sông Nhật Lệ – cửa Đồng Hới, sông Bến Hải – Cửa Tùng – Quảng Trị, sông Cam Lộ – Cửa Việt, sông Hương – Cửa Thuận An, sông Hàn – cửa Đà Nẵng, sông Thu Bồn – Cửa Đại – Hội An, sông Đà Rằng – Tuy Hòa, sông Côn – Thị Nại – Quy Nhơn, sông Cái – Xúp Bóng – Nha Trang, sông Cà Ty – Phú Hài – Bình Thuận. Sông có độ dốc cao, phù hợp phát triển thủy điện: thủy điện sông Hinh (Phú Yên); và nhiều công trình thủy lợi như: hồ sông Quao (Tánh Linh – Bình Thuận), sông Cam Lộ (Quảng Trị), sông Côn (Quy Nhơn). Chính các sông này bồi lắng phù sa cho các cánh đồng duyên hải tạo ra các cảng biển nổi tiếng, cảng Cửa Việt, cảng Chân Mây, cảng Tiên Sa, cảng Hội An, cảng Dung Quất, cảng Thị Nại, cảng Vũng Rô, cảng Cầu Đá (Ninh Thuận). Các con sông ở đây khô hạn triệt để vào mùa khô.
Giao thông vận tải:
Đường bộ có quốc lộ 1A xuyên suốt dọc theo biển từ Bắc xuống Nam. Hiện nay có thêm đường mòn Hồ Chí Minh công nghiệp hóa dọc theo phía Tây. Từ đây, người Pháp đã thiết kế các quốc lộ vuông góc để đến với Tây Nguyên.
Đường biển là lợi thế và đã thông thương với Thế giới từ rất sớm trong lịch sử (cảng Hội An).
Đường hàng không: có sân bay quốc tế Đà Nẵng, sân bay Phú Bài (Huế), sân bay Chu Lai (Quảng Nam), sân bay Phù Cát (Quy Nhơn), sân bay Đông Tác (Tuy Hòa), sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa).
Đường sắt nằm trên trục đường Bắc Nam.
Động thực vật: có các vườn quốc gia tiêu biểu như Phong Nha – Kẽ Bàng, Bạch Mã, khu bảo tồn thiên nhiên núi Chúa (Nha Trang),… tiêu biểu cho rừng nhiệt đới khô hạn. Ở rừng Bạch Mã có các loài động vật nhiệt đới như cọp, sao trĩ,…
Tài nguyên du lịch:
Với ưu thế bờ biển dài, vịnh biển đẹp, trong xanh, khí hậu ấm áp quanh năm nên phù hợp với loại hình du lịch nghĩ dưỡng, thể thao.
Với nền văn hóa Chăm pa rực rỡ và lịch sử nhà Nguyễn phong phú để lại nhiều di tích độc đáo, phù hợp du lịch văn hóa, lịch sử.
Nằm ở ngã ba Đông Nam Á (vị trí đắc đạo) phù hợp du lịch hội nghị. Là cửa ngõ của hành lang kinh tế Đông Tây nối liền Lào, Đông Bắc Thái Lan, Miến Điện, Đông Nam Trung Quốc phù hợp du lịch thương mại, du lịch caravan.
Tài nguyên khoáng sản: mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam), mỏ cát làm thủy tinh (Quy Nhơn, Cam Ranh, Quảng Nam), mỏ Titan (Mũi Né, Hòn Rơm), mỏ dầu (biển Trường Sa).
2) LỊCH SỬ
Thời cổ đại:
Ở Quảng Trị, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huê người ta phát hiện nhiều trống đồng chứng tỏ vào thời kỳ Hùng Vương ở phía Bắc, vùng này đã có các cộng đồng thiểu số sinh sống. Họ đã giao lưu với người Bắc Việt ở phía Bắc. Họ có thể là các cư dân cổ của Đông Nam Á. Vào khoảng 500 năm trước Công nguyên có một luồng cư dân từ vùng đảo Inđônêsia thuộc chủng Polynesien hay Mã Lai – Đa Đảo đến định cư. Sau đó họ chia làm các nhánh hướng về Tây Nguyên lập nghiệp: người Êđê, GiơRai, Churu, Rănglay. Riêng ở vùng duyên hải miền Trung là cộng đồng người Chăm có điều kiện giao lưu với thế giới bên ngoài tốt nhất. Người Chăm sớm tiếp nhận văn minh Ấn Độ. Cuối thế kỷ thứ II, đầu thế kỷ thứ III đã có chữ Phạn xuất hiện ở vùng Diên Khánh – Nha Trang. Tuy nhiên các cộng đồng người Chăm ở ven sườn núi không bị ảnh hưởng Ấn Độ giáo (người ta gọi là Chăm H’Roi). Người Chăm truyền thống đã tạo nên văn hóa rực rỡ cho riêng mình trước khi bị văn hóa Ấn Độ ảnh hưởng, đó là văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi).
Thời trung đại:
Từ thế kỷ thứ IV ở miền Trung tồn tại một vương quốc tên là Lâm Ấp (Xứ Rừng). Từ đây đạo Bà La Môn giáo đã được vương triều Lâm Ấp chấp nhận gần như là quốc giáo. Tiến hành xây thánh địa Mỹ Sơn ở thượng nguồn sông Thu Bồn, dưới chân núi Chúa. Ở đoạn giữa sông Thu Bồn là kinh đô Simhapura (Trà Kiệu) và cuối nguồn nơi biển Cửa Đại là cảng Đại Chiêm. Đây là trung tâm quan trọng bậc nhất của lịch sử Chămpa kéo dài đến thế kỷ 11. ở Mỹ Sơn đã xây dựng được gần 70 tháp, nay còn khoảng 20 tháp. Đến thế kỷ VI, vương quốc Lâm Ấp được đổi thành vương quốc Chămpa (tên loài hoa Đại hay hoa Sứ biểu hiện sự tinh khiết mọc nhiều ở miền Trung; là tên của một thành phố cổ – nơi xuất phát của đạo Bà La Môn).
Từ thế kỷ XI, vương quốc lùi về Quy Nhơn với thành Đồ Bàn – Quy Nhơn.
Thế kỷ thứ VIII, IX có tiểu quốc ở xứ Kau–tha–ra (Nha Trang), Pôsanư (Phan Thiết). Thế kỷ XIII, XIV vương triều của họ ở Panduranga (Phan Rang) với tháp Pôklonggiarai và Pôrômê.
Thời nhà Lý, Đại Việt đã mở những trận đánh sang Chămpa, bắt nhiều tù binh (nghệ nhân tài giỏi) về phục dịch kinh thành Thăng Long.
Đến thời Trần, vua Chế Bồng Nga đã chỉ huy đội thủy binh 3 lần chiếm đánh Thăng Long, vua nhà Trần phãi bỏ chạy vào rừng. Đến lần thứ 4 thì bị thất bại. Nhà Trần với tinh thần Phật giáo: “Từ bi hỉ xả” đã gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân năm 1306. đổi lại vua Chế Mân dâng 2 ô Châu, Lý (từ Quảng Bình đến Bắc sông Thu Bồn) cho Đại Việt.
Ngày nay ở Huế vẫn còn đền thờ và lễ hội Huyền Trân tại điện Hòn Chén. Đến thời vua Lê Thánh Tông – thế kỷ XVI, ranh giới của Đại Việt đã tới Đèo Cả – Phú Yên (núi Đá Bia – Thạch Bia Sơn).
Đến năm 1695, Nguyễn Hữu Cảnh dánh tan phủ Thuận Thành ở Phan Rí, vương quốc Chămpa chính thức suy vong.
Khi vương quốc Chămpa suy vong cũng là lúc hình thành xứ Đàng Trong của Đại Việt vào năm 1558.
Tại Phú Xuân đã trải qua 9 đời Chúa, 13 đời Vua mở mang bờ cõi đất phương Nam như ngày nay. Riêng ở đời Chúa Nguyễn Phúc Ấn cuối thế kỷ XVIII, có phong trào Tây Sơn nổ ra ở Bình Định, đã lên ngôi thay Chúa Nguyễn khoảng 25 năm, dẹp được 2 kẻ thù xâm lăng lớn nhất lúc bấy giờ là: 29 vạn quân Thanh ở phía Bắc, và 25 vạn quân Xiêm ở phía Nan, với nhiều cải cách lớn, nhất là sự ra đời của Chữ Nôm.
Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản văn hóa, truyền thống ở miền Trung như Kinh thành Huế, lăng, tẩm, đền, đài, đình, phố cổ,… Huế đã được Unesco ghi nhận là di sản văn hóa thế giới.
1858, Pháp đánh vào Đà Nẵng chuẩn bị thôn tính nước ta. Đến 1884, vua Tự Đức đã ký hàm ước Pa-trơ-nốt biến Trung kỳ thành xứ bảo hộ của Pháp, nhập vào Liên hợp Đông Dương của Pháp gồm 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia.
Nhiều phong trào yêu nước nổ ra như: phong trào Cần Vương với các cụ Trần Quý Cáp, Trịnh Phong, vua Hàm Nghi, Duy Tân, phong trào của cụ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh.
Từ khi Đảng Công sản ra đời, cách mạng miền Trung phát triển vượt bậc. Tại Huế, ngày 23 tháng năm 1945, vua Bảo Đại chính thức trao ấn kiếm cho chính quyền Cách mạng, chính thức thoái vị, kết thúc triều đình nhà Nguyễn ở miền Trung Việt Nam.
Thời chống Mỹ 1954 – 1975 đây là địa bàn chiến lược giáp ranh với Bắc Việt nên nhiều căn cứ quân sự hiện đại nhất của Mỹ được lập tại đây như: căn cứ Chu Lai ở Núi Thành – Quảng Nam, Nam Ô ở Đà Nẵng.
Nhiều trận đánh nổi tiếng ở miền Trung như: trận Chu Lai. Tết Mậu Thân ở Huế năm 1968, vụ thảm sát Mỹ Lai năm 1986 ở Quảng Ngãi, trận đánh ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972.
Ngày nay với ưu thế lịch sử Chămpa để lại nhiều đền tháp đẹp, nhà Nguyễn để lại nhiều kinh thành, đền, chùa, nhiều căn cứ thời chống Mỹ cùng với các bãi biển đẹp, các món ăn ngon là điều kiện thuận lợi phát triển du lịch Miền Trung.
3) NHÂN VĂN
Đây là vùng đất thiên nhiên không ưu đãi, nhưng nhân tài thì có nhiều. Người Chăm đã để lại nghệ thuật kiến trúc đền tháp kỳ vỹ và thổ cẩm và làm gốm. Người Việt có nhiều danh nhân đóng vai trò quan trọng trong lịch sử khẩn hoang miền Nam: Nguyễn Hữu Cảnh – Quảng Bình, Nguyễn Cư Trinh – Quy Nhơn, Đào Duy Từ – Bình Định, Anh em Tây Sơn – Bình Định, Huỳnh Thúc Kháng, Phạm Văn Đồng – Quảng Ngãi, Nguyễn Văn rỗi – Quảng Nam, Võ Nguyên Giáp – Quảng Bình, Thoại Ngọc Hầu – Quảng Nam, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh – Quảng Nam,…
Nghệ thuật bác học có Nhã nhạc Cung đình Huế. Nghệ thuật dân gian: bài chòi, hát bả trạo, hát bội. Về điêu khắc: Viện sĩ Điềm Phùng Thị, tranh làng Sừng, tranh XQ,…
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Chuyên đề về lịch sử, nghệ thuật kiến trúc Chămpa. Lịch sử 9 đời chúa, 13 đời vua triều Nguyễn. Chuyên đề về đặc sản miền Trung như món ăn Huế, Quảng Nam: Bún bò Huế, cơm hến, bánh nậm, bánh lọc (Huế), cao lầu, mì Quảng, bê thui Cầu Móng (Quảng Nam), zon (Quảng Ngãi), tré, bò khô, rượu Bàu Đá (Bình Định), thịt ba chỉ (Đà Nẵng).
Cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. các di tích, trận đánh Cam Ranh, Phù Mỹ, Chu Lai, Quảng Trị, vĩ tuyến 17, La Bảo, Cửa Tùng, địa đạo Vĩnh Mốc, Mẹ Suốt,…
Chuyên đề lũ lụt miền Trung.
Chuyên đề về tính tiết kiệm của người dân miền Trung.
Chuyên đề du lịch biển.
Chuyên đề về các di sản Thế giới.

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ
SƠ ĐỒ TUYẾN MIỀN TRUNG

1. THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – QUẢNG BÌNH
Thành phố Biên Hòa.
Thành phố Biên Hòa nằm ở phía Tây của tỉnh Đồng Nai, Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu, Nam giáp huyện Long Thành, Đông giáp huyện Thống Nhất, Tây giáp huyện Dĩ An, Tân Uyên tỉnh Bình Dương và Quận 9 – TP.Hồ Chí Minh . Nằm 2 bên bờ Sông Đồng Nai, cách trung tâm TP.HCM 30 km (theo Xa lộ Hà Nội và Quốc lộ 1A), cách TP Vũng Tàu 90 Km (theo Quốc lộ 51).
Tổng diện tích tự nhiên: 154,67 km2
Dân số năm 2006: 548.860 người
Đi trên quốc lộ 1A, tới ngã 3 Tam Hiệp, phía bên trái là tượng đài chiến thắng Long Bình
Long Bình
Đây là tượng đài được xây dựng để tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ binh chủng đặc công Biên Hòa đã làm nên chiến thắn Long Bình vào ngày 20 tháng 10 năm 1966. Chiến thắng Tổng kho liên hợp Long Bình còn gọi là “tiếng sấm Long Bình” là trận đánh thể hiện cho lối đánh độc lập, độc đáo của lực lượng đặc công Biên Hòa bí mật thọc sâu, đánh hiểm, dùng đạn ít mà hiệu suất cao và rút lui an toàn, lối đánh ấy đã giúp cho bộ đội ta những kinh nghiệm quý báu trong hiệp đồng tác chiến giữa quân chủ lực và bộ đội địa phương.
Rẽ trái tại ngã 3 này là con đường dẫn vào khu công nghiệp Long Bình
Khu Công Nghiệp Lonh Bình
Là khu công nghiệp liên doanh giữa Tập đoàn Nissho Iwai – Nhật Bản và Công ty Agtex – Việt Nam). Thuộc quốc lộ 15A phường Long Bình thành phố Biên Hòa. Được xây dựng vào năm 1996 với diện tích 100 ha, có khu chế xuất 40 ha trong khoa học công nghiệp.
Đi thêm một đoạn nữa, tới một ngã tư bên phải là con đường vào khu công nghiệp Amata
Khu Công Nghiệp Amata
Công ty TNHH AMATA Việt Nam là chủ đầu tư xây dựng hạ tầng Khu công nghiệp AMATA
KCN Amata nằm trên Xa lộ Bắc Nam thuộc Phường Long Bình, Thành phố Biên Hòa, một vị trí khá thuận lợi cho nhà đầu tư. Được Thành lập : 1995
Diện tích : giai đoạn 1 phát triển 129 ha, đã lắp đầy và đang triển khai giai đoạn 2 với 232 ha.
Vẫn tiếp tục đi trên quốc lộ 1A chúng ta sẽ đi qua ngã 3 Hố Nai và khu thiên chúa giáo. Khi gần tới huyện Trảng Bom, nhìn bên trái là con đường vào thác Giang Điền.
Thác Giang Điền
Thác Giang Điền thuộc xã Giang Điền, huyện Trảng Bom, Đồng Nai. Cách trung tâm TP.HCM 45 km,
Vừa ra mắt đầu năm 2006 (mới hoàn thành giai đoạn một) nhưng với diện tích 67 ha, khu du lịch sinh thái Thác Giang Điền đang dần trở thành sự lựa chọn thú vị cho những hội trại lên đến cả ngàn người, những chuyến picnic, dã ngoại cuối tuần.
Tiếp tục chúng ta sẽ đến với huyện Trảng Bom
Huyện Trảng Bom
Trảng Bom là một huyện là một huyện thuộc tỉnh Đồng Nai , phía Nam giáp huyện Long Thành, phía Đông giáp huyện Thống Nhất, phía Tây giáp thành phố Biên Hòa, phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu.
Tổng diện tích tự nhiên: là 326,14 km2, chiếm 5,54% diện tích tự nhiên toàn tỉnh.
Dân số năm 2006: 194.458 người, mật độ dân số 596,24 người/km2.
Tiềm năng du lịch: thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái, có lợi thế về điều kiện tự nhiên, môi trường, sự kết hợp hài hòa giữa rừng trồng và mặt nước ao hồ, thác ghềnh tự nhiên.
Huyện có 03 khu công nghiệp là Sông Mây, Hố Nai và Bàu Xéo. Huyện với lợi thế cách Tp.HCM 50km và Tp. Biên Hòa 30km về phía đông, dọc theo Quốc lộ 1A là địa bàn khuyến khích thu hút đầu tư của các doanh nghiệp.
Tới huyện Trảng Bom đi thêm một đoạn nữa là tới ngã 3 Trị An. Đây là đường vào thủy điện Trị An.
Nhà Máy Thủy Điện Trị An
Nhà Máy Thủy Điện Trị An được xây dựng trên sông Đồng Nai, cách thành phố Hồ Chí Minh 65 km về phía Đông Bắc, với sự hợp tác của Liên Xô từ 1984, đưa vào hoạt động năm 1991.
Nhà máy thủy điện Trị An có 4 tổ máy, với tổng công suất thiết kế 400 MW, sản lượng điện trung bình hàng năm 1,7 tỉ KWh. Dung tích hồ chứa nuớc của nhà máy là 2.765,00 km khối
Tới thủy điện rồi đi thêm một đoạn nữa thì sẽ tới chiến khu Đ
Chiến khu Đ
Chiến khu Đ đánh dấu sự kiện thành lập và Hội nghị lần thứ nhất Trung ương Cục miền Nam (1961), Đồng thời có ý nghĩa chính trị và lịch sử to lớn trong cuộc đấu tranh cách mạng kiên cường, anh dũng của quân dân miền Nam, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của phong trào cách mạng, chuyển thành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc sau phong trào Đồng Khởi.
Trung ương Cục miền Nam và một số cơ quan lãnh đạo Trung ương Cục tuy chỉ đứng chân ở Chiến khu Đ trong gần hai năm 1961 – 1962, sau đó chuyển về căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh), nhưng đã có những hoạt động hết sức quan trọng: tiếp tục thực hiện nhiệm vụ lịch sử của Xứ uỷ Nam bộ, Trung ương miền Nam; lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn về tổ chức các cơ quan tham mưu của Đảng bộ miền Nam, bao gồm Văn phòng Trung ương Cục, Bộ chỉ huy Quân giải phóng miền Nam, Ban Bảo vệ An ninh, Ban Tổ chức, Ban Tuyên huấn, Ban Thông tin liên lạc, Ban Giao – Bưu – Vận, Đài phát thanh, thông tấn xã giải phóng. . . Chỉ đạo củng cố và kiện toàn bộ máy lãnh đạo kháng chiến ở các khu, tỉnh, thành toàn Miền Nam từ Vĩ tuyến 17 đến Cà Mau. Chỉ đạo này là nhân tố hàng đầu đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, tập trung của Trung ương Đảng với sự nghiệp cách mạng ở miền Nam.
Trung ương Cục đã nối thông hành lang chiến lược từ Chiến khu Đ – miền Đông Nam bộ với Khu VI, Tây Nguyên, Khu V, đồng bằng Nam bộ ra Trung ương, tiếp nhận sự chi viện to lớn của miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa cho Đảng bộ và quân dân miền Nam trên tuyến đầu chống Mỹ, cứu nước. Khu căn cứ Trung ương Cục miền Nam tại chiến khu Đ ( 1961 – 1962 ) là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử đặc biệt quan. Đặc biệt trong tư tưởng quan điểm lãnh đạo, Trung ương Cục rất quan tâm đến công tác xây ựng và phát triển căn cứ địa, đảm bảo hậu cần tại chỗ cho cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ cứu nước.
Quay trở lại quốc lộ 1A, phía bên phải là nhà hàng Hưng Phát, đi thêm một đoạn nữa là tới ngã 3 Dầu Giây. Đây là quốc lộ 20 đi Đà Lạt.
Quốc lộ 20 dài khoảng hơn 250 km, là trục đường bộ đi từ ngã ba Dầu Dây thuộc tỉnh Đồng Nai lên tới thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Quốc lộ 20 đi qua địa phận 02 tỉnh: tỉnh Đồng Nai và tỉnh Lâm Đồng, có nhiều đèo dốc, trong đó có đèo Bảo Lộc và đèo Prenn. Quốc lộ 20 đi qua nhiều rừng cao su, rừng thông, rừng nhiệt đới, những vườn cây công nghiệp, những đồi trà, cà phê bạt ngàn.
Từ ngã 3 Dầu Giây đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ qua vườn cao su và tới thị xã Long Khánh.
Thị Xã Long Khánh
Tổng diện tích tự nhiên: 195 km2Dân số 2006: 142.567 người.
Nằm ở giữa về phía Đông của tỉnh Đồng Nai và là một huyện trung du nằm trên cửa ngõ vào TP Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp huyện Thống Nhất và huyện Xuân Lộc, phía Nam giáp huyện Cẩm Mỹ, phía Đông giáp huyện Xuân Lộc, phía Tây giáp huyện Thống Nhất.
Thị xã Long Khánh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, tiếp giáp với vùng kinh tế chiến lược Đông Nam bộ, Cao nguyên và Miền Trung có nhiều tuyến đường giao thông quốc gia đi qua, có vị trí rất quan trọng về các mặt chính trị- kinh tế – xã hội và an ninh- quốc phòng đối với tỉnh và cả khu vực.
Thị xã Long Khánh là đầu mối giao lưu hàng hóa với các tỉnh Bình Thuận, Lâm Đồng, Phú Yên…là điều kiện cho phát triển thương mại-dịch vụ.
Đi qua khỏi dốc Mẹ Bồng Con, nhìn bên phải là con đường đi vào công ty cao su Đồng Nai.
Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai
Tổng Công Ty Cao Su Đồng Nai tại Thị xã Long Khánh, Tỉnh Đồng nai, nằm trên trục quốc lộ 1A, có vị trí địa lý và giao thông thuận lợi.
Là đơn vị trực thuộc Tập đoàn công nghiệp cao su Việt nam, được thành lập ngày 02/06/1975 trên cơ sở tiếp quản 12 đồn điền có diện tích 21.054 ha vườn cây và 04 nhà máy sơ chế của các công ty Pháp để lại với sản lượng 10.500 tấn năm 1975. Sau 10 năm (1975-1985) đã nâng lên 17 nông trường ,diện tích lên đến 55.781 ha, sản lượng khai thác chiếm 50% tổng sản lượng cao su ở Việt nam. Năm 1994 Tổng công ty cao su Đồng nai tách 4 nông trường, diện tích 13.559 ha cho tỉnh Bà rịa Vũng tàu để thành lập Công ty cao su Bà rịa.
Đi thêm một đoạn nữa nhìn bên trái là con đường dẫn vào khu du lịch Suối Tre. Đi qua ngã 3 Hoa một đoạn, bên tay trái là tượng đài chiến thắng Long Khánh.
Công Viên Tượng Đài Chiến Thắng
Để ghi nhớ công lao của các chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh xương máu, góp phần gìn giữ, bảo tồn, phát huy truyền thống cách mạng của địa phương, thể theo nguyện vọng của đông đảo cán bộ chiến sĩ và nhân dân địa phương . Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Long Khánh đã có chủ trương xây dựng một công trình tượng đài kết hợp công viên cây xanh mang tên công viên tượng đài chiến thắng.
Công trình được đặt viên đá đầu tiên vào ngày 21/4/2000 chính thức khởi công vào 22/12/2000 và hoàn thành vào 15/4/2001. Tổng dự toán công trình 4.103.096.000đồng.
Trên mặt bằng 7.712,3m2, với vị trí khá thuận lợi nằm ngay khu tam giác giao tiếp giữa quốc lộ 1 và đại lộ Hùng Vương của Thị xã hướng từ miền Trung vào, vừa đến phường Phú Bình du khách sẽ nhìn rõ mồn một toàn cảnh khu công viên tượng đài chiến thắng Long Khánh, với nhóm tượng đài một nam, một nữ chiến sĩ giải phóng quân uy nghi, hùng vĩ, sừng sững với tư thế tiến công chỉ tay về hướng Sài Gòn mở đường cho chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đi đến thắng lợi hoàn toàn.
Tiếp tục đi thẳng chúng ta sẽ đi ngang qua trại giam K4 của bộ công an. Tới ngã 3 Tân Phong, là quốc lộ 56 đi Bà Rịa đi chừng 3km là tới mộ cổ Hàng Gòn
Mộ Cổ Hàng Gòn
Từ huyện Long Khánh đi dọc Quốc lộ 1 chừng vài km tới ngã ba Tân Phong , xã Xuân Tân (Long Khánh), tiếp tục đi theo Quốc lộ 56 về hướng Bà Rịa vũng Tàu, chỉ khoảng 3 km, du khách sẽ đến Mộ cổ Hàng Gòn. Năm 1910, người Pháp lập đồn điền cao su, phá rừng và phát hiện ra Mộ cổ Hàng Gòn.
Kích thước ngôi mộ dài 4,20m; ngang 2,70m; cao 1,60m; ghép bằng sáu phiến đá hoa cương lớn, nặng không dưới 50 tấn. Các phiến đá ghép với nhau theo hệ thống rãnh đục làm nắp và phiến đá làm đáy. Hai bên ngôi mộ có hai trụ đá hoa cương cao 7,5m với tiết diện 0,4m x1,10m và mười trụ đá cát có tiết diện hình chóp cao từ 3m đến 4,10m. Mộ cổ Hàng Gòn có kích thước to lớn khác thường nên còn gọi là mộ cự thạch (cự: to lớn; thạch: đá).
Theo các nhà khảo cổ, ngôi mộ có cách đây khoảng 2.000 năm và loại đá làm mộ chỉ có ở Đà Lạt hoặc Phan Rang. Những phiến đá nặng hàng tấn đã được vận chuyển bằng cách nào qua quảng đường hai đến ba trăm km trong điều kiện chưa có đường xá, xe cộ và phương tiện gì ?
Năm 1992, Nhà bảo tàng Đồng Nai trùng tu ngôi mộ cự thạch Hàng Gòn để bảo tồn di sản văn hóa, cũng trong năm này Bộ Văn Hóa Thông Tin công nhận và xếp hạng đây là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Người dưới ngôi mộ cổ là tổ tiên trực tiếp của người Mạ, người Chơro, hoặc người Xtiêng ở miền Đông Nam Bộ. Hiện nay Mộ cổ Hàng Gòn vẫn chứa nhiều bí mật mà các nhà khảo cổ còn chưa trả lời đầy đủ.
Tiếp tục chạy trên quốc lộ 1A sau khi qua chợ trái cây Bão Hòa chúng ta sẽ đến với huyện Xuân Lộc
Xuân Lộc
Xuân Lộc là một huyện của tỉnh Đồng Nai. Trung tâm của huyện là thị trấn Gia Ray.
Địa danh Xuân Lộc nổi tiếng là chiến trường ác liệt trong trận Xuân Lộc vào tháng 4 năm 1975. Trước đây, thị trấn Long Khánh thuộc huyện Xuân Lộc nhưng năm 2000 đã nâng cấp thành thị xã.
Xuân Lộc nổi tiếng với các vườn cây ăn trái như chôm chôm, sầu riêng và các gia súc như heo, gà, bò. Xuân Lộc có các địa danh như núi Gia Lào (được phong làm “Đệ nhị thiên sơn” của vùng Nam Bộ), hồ Suối Vọng.
Phía đầu huyện Xuân Lộc có con đường đi vào làng của người dân tộc Châu Ro
thuộc xã Châu Pha, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Núi Chứa Chan còn gọi là núi Gia Ray hay núi Gia Lào thuộc huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, là ngọn núi cao thứ hai khu vực Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long, với chiều cao 800m so với mặt nước biển. Núi Chứa Chan nổi tiếng với phong cảnh hùng vĩ. Đá vôi là một đặc trưng của ngọn núi này. Đặc biệt ở độ cao 600m, núi Chứa Chan có một ngôi chùa nổi tiếng khắp vùng Nam Bộ. Hàng năm vào những dịp lễ hoặc những ngày rằm (tháng Giêng, tháng 7) hàng trăm ngàn du khách từ khắp nơi đến đây thắp hương, cúng tế, cầu nguyện cho gia đình và người thân được bình an.
Đi tiếp một đoạn nữa chúng ta sẽ đi qua ngã 3 Ông Đồn. đây là con đường vào thị trấn Gia Ray. Đi trên đoạn đường này chúng ta sẽ có dịp ngắm rừng cây lá buông ngay bên quốc lộ về bên trái và bên phải là thánh đường và làng người chăm và người Châu ro. Đi hết huyện Xuân Lộc chúng ta sẽ tới địa phận của tỉnh Bình Thuận.
Tỉnh Bình Thuận
Cách thành phố Hồ Chí Minh 188km. Phía bắc và đông bắc giáp Ninh Thuận, tây bắc giáp Lâm Đồng, tây giáp Đồng Nai, đông và đông nam giáp biển, tây nam giáp Bà Rịa – Vũng Tàu. Thuộc phần cuối dãy núi Trường Sơn cao hơn 1.000m đâm ra biển, độ dốc cao. Có sông La Ngà và 6 con sông nhỏ. Đất canh tác chiếm 1/7 tổng diện tích. Ven biển nhiều đồi cát và ngập mặn. Khí hậu: Thuộc khu vực khô hạn nhất cả nước, lượng mưa ít, trung bình 1.000 đến 1.600 mm/năm (bằng 1/2 lượng mưa trung bình ở Nam Bộ). Nhiệt độ trung bình 27 độ C. Độ ẩm trung bình 80%. Công trình lớn quốc gia: Cụm thủy điện Hàm Thuận – Đa Mi công suất 476 Mw/h.
Bình Thuận là địa danh chung chỉ vùng đất Nam Trung Bộ thời các đời chúa Nguyễn cho mở mang khai khẩn. Trải qua 300 năm, những thay đổi địa giới, đơn vị hành chính và dân cư theo các biến cố lịch sử đã hình thành tỉnh Bình Thuận ngày nay.
Bình Thuận có 192 km bờ biển, có huyện đảo Phú Quý và nhiều đảo nhỏ, vũng, vịnh trước ngư trường rộng lớn có nhiều dòng hải lưu, hội tụ các đàn cá, tôm, mực… Với 4.600 con tàu lớn nhỏ, ngư dân thạo nghề ở đây mỗi năm đánh bắt được 130 ngàn tấn hải sản các loại. Mực là sản phẩm giá trị nổi tiếng của tỉnh được ưa chuộng ở thị trường trong và ngoài nước. Thương hiệu nước mắm Phan Thiết từ lâu có chất lượng và hương vị riêng vẫn cung cấp đều đặn cho thị trường nội địa.
Một mỏ vàng du lịch mới lộ ra đúng thời thế và những nhà đầu tư trong và ngoài nước nhanh chóng nắm bắt cơ hội, lập các dự án du lịch dọc dải đất dài hơn 20 km từ Phan Thiết qua Mũi Né đến Hòn Rơm và mời gọi du khách bốn phương.Chỉ trong vài năm, một trọng điểm du lịch cấp quốc gia thứ 10 – Du lịch Bình Thuận được đánh dấu son trên bản đồ, dành cho loại hình du lịch dã ngoại, sinh thái nghỉ dưỡng đang rất được khách.
Lịch sử vùng đất còn lưu giữ tháp Chàm Pôsanư, quần thể tháp thời thần Shiva này tồn tại và 1200 năm và là kiến trúc Chăm duy nhất được xây bằng gạch lớn, được mài và kết dính độc đáo.
Bình Thuận có bề dày lịch sử, văn hoá lâu đời, nhất là văn hoá Chăm pa với nhóm di tích tháp Chàm cổ Pôshanư, đền thờ Poklong Mơhnai và hơn 100 bảo vật hoàng tộc Chăm nguyên gốc quý hiếm được bà Nguyễn Thị Thềm, hậu duệ vua Chăm lưu giữ, trong đó có vương miện, áo bào, hia hài, vòng xuyến của vua và hoàng hậu. Người Chăm là một trong những người đầu tiên phát hiện ra công dụng của nước khoáng Bình Thuận. Họ đã dùng nước khoáng này chữa bệnh và chế nước thơm rửa tượng thánh. Bằng nước khoáng Bình Thuận, vào thế kỷ 13, người Chăm đã chữa khỏi bệnh phong cho vua Chế Mân của họ. Công chúa Huyền Trân, con gái vua Trần và cũng là hoàng hậu của vua Chế Mân rất ngạc nhiên về sự màu nhiệm, huyền bí của suối nước này nên đã đặt tên suối là Vĩnh Hảo. Người Pháp cũng khai thác nước khoáng Vĩnh Hảo từ năm 1920.
Bình Thuận là tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, là cửa ngõ giao lưu kinh tế – văn hóa – xã hội giữa khu vực Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Với hệ thống các quốc lộ 1A, 28, 55, nơi đây trở thành giao điểm nối liền các trung tâm du lịch lớn của khu vực và cả nước như Nha Trang, Đà Lạt, TP. Hồ Chí Minh, Bà Rịa – Vũng Tàu. Tất cả những yếu tố đó đã và đang nâng cao vị thế của du lịch Bình Thuận. Trong nguồn tài nguyên du lịch Bình Thuận, du lịch biển là một thế mạnh do thiên nhiên ưu ái ban tặng điển hình trong đó là biển Mũi Né – một bãi biển rất đẹp nổi tiếng khắp trong và ngoài nước. Từ đồi cát bay, du khách có thể thấy toàn bộ khung cảnh biển Mũi Né, được tận hưởng những màn trượt cát đầy cảm giác.
Tới tỉnh Bình Thuận, đầu tiên chúng ta sẽ đi qua huyện Hàm Tân.
Hàm Tân
Huyện Hàm Tân hiện nay có diện tích 134km2 và dân số khoảng 58,000 người (2005)
Hàm Tân là một huyện cực nam của tỉnh Bình Thuận. Phía đông của huyện là biển Đông, phía nam giáp với tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, phía Bắc giáp với huyện Hàm Thuận Nam của tỉnh. Hàm Tân vốn là một huyện nghèo, đa số dân sống bằng nghề nông và đi biển. Trước đây, thị trấn Lagi là huyện lỵ, nhưng kể từ khi Lagi được nâng lên thành thị xã năm 2005, thị trấn Tân Minh trở thành huyện lỵ. Ngay đầu huyện Hàm Tân là trại giam Z30D
Trại Giam Z30D
Vào trại Z30D (tọa lạc dưới chân núi Bể thuộc xã Tân Minh, Hàm Tân, Bình Thuận) là con đường nhựa trải dài dưới bóng mát của cây xanh với diện tích hơn 17.000ha. Nơi đây, xưa kia từng là một vùng đồi núi trọc, hoang vu sỏi đá, đất đai bạc màu cằn cỗi.
Năm 1977, Bộ Nội vụ quyết định dời trại cải tạo Thủ Đức (Trung tâm cải huấn Thủ Đức của chế độ ngụy quyền Sài Gòn trước 1975) về Tân Minh, Hàm Tân, Thuận Hải cũ (nay là tỉnh Bình Thuận). Với quyết tâm biến nơi đây không chỉ trở thành một khu vực trại cải tạo quy mô, đầy đủ tiện nghi mà còn biến nơi đây thành một vùng kinh tế trọng điểm.
Đi tới ngã 3 Hàm Tân là con đường đi thị xã Lagi nơi có Dinh Thầy Thím
Dinh Thầy Thím
Dinh Thầy Thím toạ lạc giữa khu rừng già, có tên là rừng dầu Bàu Cát thuộc xã Tân hải, huyện Hàm Tân cách thành phố Phan Thiết khoảng 70km về phía Đông Nam.
Để tỏ lòng tôn kính và biết ơn công lao Thầy Thím, dân làng đã lập dinh tại địa điểm ngaỳ nay để tôn thờ. Nhân dân quanh vùng coi Thầy Thím như vị Thành Hoàng biểu hiện cho nhiều tính cách đáng quý đó là tài đức, tính cần cù, miệt mài lao động, lòng nhân ái với người nghèo khổ.
Dinh Thầy Thím được kiến tạo lại quy mô từ năm Kỷ Mão(1879). Hiện nay trên thanh xà cò của Dinh còn dòng chữ Hán khắc chìm “Kỷ Mão niên thập nhị quạt nhị thập ngũ nhật kiến tạo” kiến tạo ngày 25 tháng 12 năm Kỷ Mão (1879). Dinh Thầy Thím có dạng kiến trúc như một ngôi đình làng bao gồm nhiều công trình : Chính điện, nhà thờ Tiền Hiền, nhà Võ Ca. Trong khám thờ chính ở Chánh điện còn hai bài vị thờ Thầy Thím và nhiều bức hoành ca ngợi công đức Thầy Thím. Cách Dinh Thầy Thím chừng 5km là khu vực mộ Thầy Thím . Ở đây 4 ngôi mộ đắp bằng cát trắng rất lớn, theo dân gian hai ngôi mộ của Thầy Thím và 2 ngôi mộ của đệ tử Thầy. Ngày nào cũng có du khách đến viếng mộ với lòng thành kính.
Hơn 100 năm qua Dinh Thầy Thím trở thành nơi để nhân dân chiêm bái, những năm gần đây là khu danh lam thắng cảnh và du lịch kết hợp với núi rừng xung quanh, bãi biển, đồi dương. Hàng năm nhân dân khắp nơi đến viếng mộ, thăm Dinh nhưng đông nhất vẫn là diọ giỗ Thầy ngày 5 tháng giêng âm lịch và tế Thu của Dinh từ ngày 14-16 tháng 9 âm lịch.
Dinh Thầy Thím được Bộ Văn Hoá xếp hạng.
Tiếp tục đi trên quốc lộ 1A, tới thị trấn Thuận Nam, bên phía phải có con đường đi Mũi Kê Gà. Đi thêm một đoạn nữa, cũng phía bên phải là núi Tà Cú.
Khu Du Lịch Sinh Thái Núi Tà Cú
Khu du lịch Núi Tà Cú nằm sát quốc lộ 1A, ở thị trấn Thuận Nam (huyện Hàm Thuận Nam), cách TP Phan Thiết 30km. Khu du lịch rộng hơn 250.000 m2 có rừng, núi và biển với quần thể sinh thái phong phú. Vừa qua hệ thống cáp treo hiện đại đã được lắp đặt tại đây. Sau khi vượt qua đỉnh ngọn núi nhỏ và khu rừng già nguyên sinh, trước mặt du khách là biển Hàm Thuận Nam, bên trái là ngọn hải đăng Kê Gà nổi tiếng có hơn 100 tuổi, hằng ngày vẫn cần mẫn hướng dẫn tàu, thuyền đi lại trên biển ban đêm an toàn.
Sau khi đi lên núi bằng cáp treo, theo con đường mòn độ vài trăm mét, khách tham quan sẽ nhìn thấy một quần thể: chùa, tháp, tượng Phật và hang động. Ðáng lưu ý nhất là di tích “Song Lâm Thị Tịch” với tượng Phật Thích Ca nhập niết bàn lớn nhất Ðông Nam Á, dài 49m, cao 11m và nhóm Tam Thế Phật đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa quốc gia. Leo lên hàng trăm bậc đá, vãn cảnh chùa, thăm hang động, du khách còn thấy những giò lan rừng nở đầy hoa, thơm ngát, vắt vẻo trên những cây dầu, cây bằng lăng… trong rừng nguyên sinh. Khuôn viên nhà chùa trên núi vừa rộng, vừa mát có nhiều ghế đá, ghế gỗ là nơi ngồi để tận hưởng ngọn gió trong lành từ biển. Khách có thể rửa mặt từ những vòi nước trong vắt, mát rượi từ núi chảy ra và nghỉ ngơi ở đây.
Khi theo cáp treo đi xuống cũng rất thú vị. Từ trên cao, khách thấy những vườn thanh long thẳng hàng, xanh rì, dưới xa là những làng xóm mái ngói đỏ tươi. Nhìn toàn cảnh khu du lịch, khách sẽ ngạc nhiên và thú vị được chiêm ngưỡng ý tưởng độc đáo của các nhà kiến trúc khi xây dựng nơi đây như một tác phẩm nghệ thuật mang hình cây đàn nhị và cây đàn ghi-ta khổng lồ nối với nhau bằng một chiếc cầu xinh xắn.
Đoạn đường qua Bình Thuận, dọc hai bên đường chúng ta thấy những vườn Thanh Long rất nhiều và đây chính là một đặc sản nơi đây.
Thanh Long Bình Thuận
Một đặc sản nổi tiếng của Bình Thuận đó chính là trái Thanh Long. Đó là những trang trại nằm giữa lòng thung lũng của núi Tà Cú bên một hồ nước nhỏ xinh đẹp. Thanh long Bình Thuận rất ngọt và tươi. Và giá của thanh long tại Bình Thuận rất rẻ, chỉ vài ngàn đồng một ký. Đó là chưa kể bạn có thể thăm quan vườn thanh long và xin một nhánh về trồng tại nhà. Thanh long hiện nay ở Bình Thuận đang được xuất khẩu và bán tại nhiều thị trường trên thế giới. Trước đây việc trồng Thanh Long chưa có kĩ thuật nên năng suất chưa cao, sau này nhờ việc áp dụng khoa học kĩ thuật nên chất lượng và sản lượng tăng lên rất nhiều. Việc phát hiện ra cách xử lý ra hoa trái vụ của cây Thanh Long là do một người nông dân chăn vịt. Khi ông mắc điện để trông đàn vịt của mình, sau một thời gian một số cây Thanh Long gần đó tự nhiên ra hoa trái mùa. Và từ đó cách xử lý ra hoa trái mùa cho cây Thanh Long được phổ biến và áp dụng rộng rãi.
Tiếp tục đi thẳng chúng ta sẽ đi qua ngã Hai là con đường đi vào ga Mường Máng. Đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ đến với thành Phố Phan Thiết.
Phan Thiết
Phan Thiết nằm trên quốc lộ 1A (chiều dài quốc lộ 1A đi qua là 7 km), cách Thành phố Hồ Chí Minh 198 km về hướng Đông. Phan Thiết là đô thị của miền Trung, thuộc miền Nam Trung Bộ. Diện tích tự nhiên là 206,45 km², bờ biển trải dài 57,40 km, với số dân là 205.333 người (2004)206. có các dân tộc sinh sống ở đây chủ yếu là Kinh, Hoa, Chăm
Phía đông giáp biển Đông, Phía tây giáp huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận, Phía nam giáp biển Đông và huyện Hàm Thuận Nam – tỉnh Bình Thuận, Phía bắc giáp huyện Hàm Thuận Bắc và huyện Bắc Bình – tỉnh Bình Thuận.
Giữa trung tâm thành phố có con sông Cà Ty chảy ngang chia Phan Thiết thành 2 ngạn: Phía nam sông: khu thương mại. Phía bắc sông: gồm các cơ quan hành chính và quân sự.
Ở đây có các đặc sản: Mực một nắng, Bánh căn, Nước mắm Phan Thiết, Gỏi cá (cá Suốt, cá Mai, cá Đục), Mỳ Quảng Phan Thiết, Bánh rế, Cốm hộc, Bánh xèo Phan Thiết, Trái thanh long, Dông cát nướng sa tế, Dừa ba nhát, Bánh canh cá
Danh lam thắng cảnh – Di tích lịch sử
Tháp nước Phan Thiết, Mũi Né, Hòn Rơm, Bãi tắm Đồi Dương, Đồi cát Mũi Né, Suối Tiên, Tháp Chăm Pôshanư, Trường Dục Thanh, Lầu Ông Hoàng, Vạn Thủy Tú, Chùa cổ Liên Trì, Mộ Nguyễn Thông, Hải đăng Khe Gà, Chùa Ông (Quan Đế Miếu), Đình làng Đức Thắng, Đình làng Đức Nghĩa, Chùa Bà Thiên Hậu, Chùa Phật Quang, Chùa núi Tà Cú
Cứ vào mùng 2 tết Nguyên Đán hằng năm, trên sông Cà Ty lại diễn ra lễ hội đua thuyền truyền thống mừng xuân. Những thuyền đua được trang trí bằng cờ, hoa và biểu ngữ rực rỡ sắc màu hòa lẫn trong tiếng trống, tiếng nhạc cùng tiếng reo hò cổ vũ của người dân và du khách tạo nên một không khí rộn ràng, sôi động mang đậm nét văn hóa truyền thống của địa phương.
Phan Thiết đang dần hình thành một mô hình “phố Tây”. Con đường tuy nhỏ, nhưng bên phải là bờ biển trong vắt với hệ thống resort, nhà nghỉ, khách sạn cao cấp nằm san sát nhau, còn bên trái thì có khoảng vài chục cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, hàng lưu niệm, Internet, giặt ủi, cho thuê xe đạp đôi, xe máy để giải trí với những bảng hiệu được viết bằng hai ngôn ngữ: tiếng Việt và tiếng Anh.
Nhiều nhất ở con phố này là các nhà hàng phục vụ thức ăn nhanh, hải sản kiểu Việt Nam, Ý, Mỹ, các quán bar thiết kế phong cách châu Âu và do chính người nước ngoài phục vụ.
Vào tới thành phố Phan Thiết, đi trên đường Trần Hưng Đạo, tới số nhà 300 thì đây là ngôi nhà của Mộng Cầm
Đi thêm một đoạn nữa, rẽ vào một con đường hỏ khoảng chừng vài trăm mét là tới Dinh Vạn Thủy Tú.
Dinh Vạn Thủy Tú
Được lập từ năm Nhâm Ngọ (1762), dinh toạ lạc tại đường Ngư Ông, thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận). Với vẻ đẹp cổ kính, trang nghiêm, dinh Vạn Thuỷ Tú đã góp phần làm tăng thêm sức hấp dẫn của Phan Thiết.
Qua cổng tam quan về phía tả là Ngọc Lân thành địa, về phía hữu là nhà trưng bày cốt ông Nam Hải, đi thẳng vào là dinh chính. Dinh chính có khu chánh điện thờ thần Nam Hải, bên phải thờ bà Thuỷ, bên trái thờ ông Thuỷ. Phía sau chánh điện thờ những người có công khai phá dựng làng, lập vạn. Nhà võ ca nằm trước dinh chính là nơi để hát bội và diễn chèo Bả Trạo vào 5 kỳ lệ cúng trong năm.
Theo truyền thuyết, sau khi xây xong dinh Vạn có một ông cá voi lớn dài 22 m, nặng 65 tấn trôi dạt vào bờ (phía trước dinh). Ngư dân phải mất mấy ngày để đưa ông vào mai táng trong dinh. Sau 3 năm, cốt ông được đưa vào thờ. Đến tháng 5/2003, bộ cốt cá ông lớn nhất Đông Nam Á này đã được phục chế và trưng bày tại đây.
Ngoài ra, dinh Vạn Thuỷ Tú còn lưu giữ chiếc chuông đồng được đúc vào thời Vua Tự Đức (1872) và 24 điều sắc thần của các vị vua bằng giấy có niên đại hơn 150 năm.
Sau khi thăm Vạn Thủy Tú, quay trở lại đường Trần Hưng Đạo chúng ta sẽ tới thăm ngôi trường Dục Thanh.
Trường Dục Thanh
Trường Dục Thanh xây dựng năm 1907 (cùng năm xây dựng với trường Đông Kinh Nghĩa Thục) tạo lạc trên địa bàn làng Thành Đức nay là số 39 đường Trưng Nhị, phường Đức Nghĩa, TP. Phan Thiết để hưởng ứng phong trào Duy Tân do cụ Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng khởi xướng. Trường do các cụ Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh (hai người con của nhà văn nhà thơ Nguyễn Thông) thành lập. Mục tiêu của phong trào Duy Tân và của trường là mở mang dân trí, thức dậy ý thức dân tộc, nòi giống . Đây là trường tư thục có nội dung giảng dạy tiến bộ nhất ở Bình Thuận lúc bấy giờ.
Năm 1910 trên đường đi tìm phương cứu nước, thầy giáo Nguyễn tất Thành ( sau này là Hồ Chí Minh) được cụ Nghè Trương Gia Mô giới thiệu đã đến Phan Thiết và dừng chân dạy học ở trường Dục Thanh
Vào khoảng tháng 2/1911 Thầy Thành rời trường Dục Thanh và Phan Thiết vào Sài Gòn vượt đại dương đi tìm con đường giải phóng dân tộc. Một vài năm sau, ông Nguyễn Trọng Lội qua đời, ông Nguyễn Quý Anh chuyển vào Sài Gòn, không còn người phụ trách và nhiều lý do khách quan khác nên trường đóng cửa vào năm 1912.
Ngôi trường xưa Bác dạy đã bị hư hỏng và dỡ bỏ từ lâu. Nhưng trong số học sinh thầy Thành daynăm xưa vẫn còn 4 cụ sống. Đó là bác sĩ NGuyễn Quý Phầu, bác sĩ Nguyễn Kim Chi, cụ Từ Trường Phùng, cụ NGuyễn Đăng Lâu. Sau ngày quê hương được giải phóng, nguyện vọng của nhân dân là muốn phục chế lại ngôi trường Dục Thanh xưa để tỏ lòng biết ơn Bác Hồ kính yêu và giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ hiện nay và mai sau.
Nhờ những ký ức, kỷ niệm của các cụ, vị trí ngôi trường và những thành phần kiến trúc nội ngoại thất được hình thành qua các bản vẽ và được dựng lại từ những năm 1978-1980.
Đối diện với trường Dục Thanh là bảo tàng Hồ Chí Minh.
Bảo Tàng Hồ Chí Minh
Sau ngày giải phóng, chính quyền và nhân dân tỉnh Bình Thuận đã xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh trong một khuôn viên rộng, cạnh khu di tích trường Dục Thanh, bên dòng sông cà Ty thơ mộng, để lưu lại mãi mãi cho con cháu mai sau những kỷ niệm thân thiết về Bác Hồ. Bảo tàng là một công trình đẹp, chia làm hai phần: phần tượng đài và vườn hoa, khu nhà hai tầng rộng 784m2, có nhiều gian trưng bày các hiện vật gằn với thầy giáo Thành và chặn đường hoạt động cách mạng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
Bên cạnh khu di tích, Nhà trưng bày về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Hồ cũng được xây dựng và khánh thành năm 1986. Di tích Dục Thanh được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích lịch sử quốc gia tại quyết định số 235/QĐ-BT ngày 12 tháng 12 năm 1986.
Tiếp tục đi trên đường Trần Hưng Đạo qua cây cầu cũng mang tên con đường này bắc qua sông Cà Ty, trên đoạn đường này có con đường Nguyễn Tất Thành dẫn ra biển Đồi Dương.
Đồi Dương
Đồi Dương là một bãi tắm đẹp ở Phan Thiết và đây cũng đã trở thành một địa điểm du lịch nổi tiếng của thành phố Phan Thiết. Tại đây, dọc bờ biển là hàng loạt các quán cà phê dưới tán những cây phi lao. Ngồi nhâm nhi cà phê ở đây vào những buổi chiều, người ta có cảm giác thoải mái với gió biển và không khí của biển.
Đi tới đường Thủ Khoa Huân, đi theo con đường này chúng te sẽ tới Mũi Né
Mũi Né – Hòn Rơm
Mũi Né thuộc địa phận phường Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, cách trung tâm Tp. Phan Thiết 22km về hướng đông bắc. Địa danh Mũi Né đồng nghĩa với hình ảnh những cồn cát có một không hai ở Việt Nam.
Mũi Né là tên một làng chài và cũng là một điểm du lịch quen thuộc.Dọc theo quốc lộ 706, từ trung tâm Tp. Phan Thiết đến Mũi Né là một dãy đồi đất thoai thoải và bãi cát ven biển rộng, thoáng mát với những rặng dừa tuyệt đẹp. Bãi biển nông thoải, nước sạch và trong, nắng ấm quanh năm, không có bão, là nơi tắm biển, nghỉ ngơi lý tưởng dành cho du khách. Mũi Né có nhiều bãi biển hoang sơ nguyên thủy, chưa có sự khai thác của con người, cảnh quan hùng vĩ, môi trường thiên nhiên trong lành, như bãi Ông Ðịa, bãi Trước và bãi Sau.
Ðến Mũi Né, du khách có thể tắm biển, nghỉ dưỡng, chơi thể thao, du thuyền trên biển, dã ngoạn kết hợp săn bắn, câu cá, chơi golf… Tại Mũi Né còn có Ðồi Cát, nơi từ bao năm qua đã trở thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ sĩ nhiếp ảnh. Ngoài các bãi biển và cồn cát, khu vực này còn có nhiều cảnh đẹp như suối Tiên, lầu Ông Hoàng, tháp Chàm Pô-Sha-Nư. Dọc bãi cát ven biển là các làng du lịch, các khách sạn, biệt thự và nhiều công trình thể thao, giải trí.
Trên đường đi vào Mũi Né, nhìn bên phải phía trên một ngọn đồi, các bạn sẽ thấy ngôi tháp Chàm và Lầu Ông Hoàng. Hai diểm này nằm rất gần nhau.
THÁP CHÀM
Tháp Chàm, hay còn gọi là tháp Champa, là một dạng công trình thuộc thể loại kiến trúc đền tháp Champa, thuộc kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng của dân tộc Chàm (còn gọi là dân tộc Chăm, sinh sống ở miền Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Có thể thấy vị trí phân bố các đền tháp là những nơi từng là nơi ở của người Champa, xa hơn nữa còn có những ngôi tháp có thể coi là tháp Champa trên đất nước Camphuchia như tháp Damray Krap. Ngược lại, những yếu tố Java hay Khmer cũng được thấy trên các tháp Champa như ở Khương Mỹ, Hưng Thanh, Dương Long, hay có cả những ngôi tháp còn được người Champa gọi là “tháp Khmer” như tháp Champa Hoà Lai. Tháp Chàm ở Mỹ Sơn
Tháp Chàm là một khối kiến trúc xây dựng bằng gạch nung màu đỏ sẫm lấy từ đất địa phương, phía trên mở rộng và thon vút hình bông hoa. Mặt bằng tháp đa số là hình vuông có không gian bên trong chật hẹp thường có cửa duy nhất mở về hướng Đông (hướng Mặt Trời mọc). Trần được cấu tạo vòm cuốn, trong lòng tháp đặt một bệ thờ thần bằng đá. Nghệ thuật chạm khắc, đẽo gọt công phu hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh thể hiện trên mặt tường ngoài của tháp. Các viên gạch liên kết với nhau rất rắn chắc, bền vững tới hàng chục thế kỷ.
Tháp Chàm Pôshanư
Tháp poshnu nằm về hướng đông bắc cách trung tâm Phan Thiết 7 km.Cụm tháp tọa lạc trên đồi vao cuối TkXIII thờ thần shiva, vi thần được người Chăm rất tôn sùng. Ngoài ba tháp ở đây còn có các đền thờ khác nhưng đã bị vùi lấp trong lòng đất suốt 300 năm.
Lịch sử xây dựng các đền tháp Champa kéo dài từ cuối thế kỷ thứ 7 đến đầu thế kỷ 17. Trong khoảng thời gian này, những người Champa xưa đã để lại một số lượng lớn các công trình kiến trúc đền tháp, thành luỹ, các tác phẩm điêu khắc. Hiện tại có trên hai mươi cụm di tích kiến trúc đền tháp và rất nhiều phế tích kiến trúc. Các di tích này có giá trị đặc sắc, mang tính toàn cầu, xứng đáng nhận được sự quan tâm của cộng đồng quốc tế. Một trong những sự quan tâm ấy là việc tổ chức UNESCO đã công nhận Mỹ Sơn là di sản văn hoá thế giới cũng chính là việc đánh giá cao thành quả nghiên cứu về kiến trúc Champa nói chung.
Theo tiếng Chăm, các đến tháp Champa này được gọi là kalan, nghĩa là “lăng”. Các lăng này được các đời vua Chăm xây dựng để thờ cúng các vị thần. Các vị thần được thờ phượng có thể là các vị thần Ấn Độ giáo tiêu biểu như Siva (thần hủy diệt), Ganesha (phúc thần đầu người mình voi)… hoặc đấy còn có thể là các vị Phật. Điều này tùy thuộc vào lòng tin và kính mộ của mỗi vì vua ở các triều đại khác nhau. Ở thánh địa Mỹ Sơn hiện nay phần lớn là công trình kiến trúc tôn giáo thờ các vị thần thuộc Ấn Độ giáo và Bà la môn giáo. Nhưng ở thánh địa Đồng Dương (thuộc địa phận huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam) đây là kinh đô Phật giáo lớn nhất của Champa.
Sự giao thoa văn hoá Champa – Đại Việt
Trong lĩnh vực văn hoá vật thể thì nghệ thuật Champa cổ và nghệ thuật Việt cổ có nhiều nét tương đồng. Nhìn chung thì nghệ thuật Champa có trước nghệ thuật Việt và đã đạt đỉnh cao ngay khi nghệ thuật Việt độc lập chưa ra đời.
Xét về mặt kiến trúc: các tháp Champa hầu hết ở trên những đồi cao hoặc núi thấp, được xây dựng thành từng cụm, hướng Đông nhìn ra biển đón dương khí thì chùa, tháp Việt Nam thời Lý, thời Trần cũng thường xây dựng trên gò, đồi và sườn núi, tạo nên cả một quần thể, hướng Nam hoặc Nam chếch Đông, đón dương khí. Tháp Việt Nam cũng vươn cao với nhiều tầng như tháp Champa và có bình diện vuông gần với các phương Đông, Tây, Nam, Bắc. Tháp Champa cũng như tháp Lý – Trần về cơ bản cũng xây bằng gạch hoặc phụ thêm một số thành phần bằng đá. Có điều, tháp Champa được đục trực tiếp trên gạch sau khi xây, còn ở tháp Lý – Trần thì hình trang trí được in, khắc trực tiếp trên gạch, rồi sau đó mới mang nung, xây đến đâu là có hình trang trí cho chỗ đó rồi.
Phổ biến và cũng hấp dẫn nhất trong nghệ thuật Champa là các apsara, đa số thuộc đỉnh cao của điêu khắc Champa thuộc thế kỷ thứ 10. Các nhân vật kết hợp người với chim hoặc với thú đều có cả trong nghệ thuật Champa và nghệ thuật Việt.
Các phong cách kiến trúc Champa
* Phong cách Hoà Lai và phong cách Đồng Dương (thế kỷ thứ 9)
* Phong cách Mỹ Sơn A1 (thế kỷ thứ 10)
* Phong cách Bình Định (thế kỷ 11-13)
Đặc trưng của các ngôi tháp Champa
Giá trị của kiến trúc đền tháp Champa
Các đền tháp Champa phản ánh đầy đủ và chân thực hoàn cảnh văn hoá Champa từ những giai đoạn đầu tiếp thu những ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cho đến những giai đoạn thích nghi, tiếp biến và trỗi dậy mạnh mẽ tính bản địa và sự giao lưu thường xuyên về mặt văn hóa bên cạnh các mặt kinh tế – chính trị với các dân tộc liền kề.
Giá trị nghệ thuật của các hình trang trí ngoài việc giúp cho các đền tháp đẹp hơn, còn có ý nghĩa văn hóa đặc biệt, giúp cho việc nghiên cứu sâu hơn về niên đại, phong cách và chức năng của các đền đời ông hoàng,do do người Chăm xây dựng tháp.
Lầu Ông Hoàng
Lầu ông Hoàng bao gồm một quần thể đồi núi, sông biển, chùa tháp tạo thành khu danh lam thắng cảnh nổi lên với ngọn núi Cố tương đối cao và 4 ngọn đồi nhấp nhô sát biển, đẹp nhất là núi Cố, đồi Bà Nài, cửa sông Phú Hài và bờ biển cùng với những làng chài xưa cách Phan Thiết 7km về hướng Đông Bắc.
Năm 1911 một ông Hoàng người Pháp là công tước De Montpensier từ Pháp sang du lịch, săn bắn ở những ngọn đồi lân cận, thấy phong cảnh sơn thủy đẹp ở đây đã kiến ông nảy ra ý định mua đất và xây dựng biệt thự, cũng để có nơi nghỉ ngơi trong các kỳ săn bắn và du lịch sau này. Nguyện vọng của ông đã được nhà cầm quyền Pháp ở Bình Thuận (công sứ Garnier) đồng ý bán quả đồi Bà Nài.
Ngày 21 tháng 2 năm 1911 biệt thự được khởi công xây dựng và gần 1 năm sau đó hoàn chỉnh, với diện tích rộng 536m2 chia thành 13 phòng.
Đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ đi ngang qua bãi đá Ông Địa. Ngồi trên xe quý khách nhìn bên phải là sẽ thấy.
Dọc đường đi vào Mũi Né, phía trái là biển và những rừng dừa chạy dài rất đẹp. Kéo dài cả chục cây số là những khu Resorts cũng rấtđẹp.
Khi đi được khoảng 10 km kể từ thành phố Phan Thiết chúng ta sẽ tới Suối Tiên
Suối Tiên
Suối Tiên là một thắng cảnh thiên nhiên “Sơn Thủy” hùng vĩ. Với môi trường nguyên sơ, trong lành chưa có bàn tay của con người tác động. Bên cạnh con suối nhỏ, nước trong vắt nhìn thấy tận đáy là dãy núi sừng sững với sắc màu trắng, đỏ pha trộn của đất và cát, tạo nên những hang động, mỏm núi nhấp nhô độc đáo và lạ mắt. đây là điểm tham quan dã ngoại lý tưởng cho khách du lịch. Cảnh quan này, nằm trên đường đi Mũi Né cách Phan Thiết khoảng 15 km theo hướng Đông Bắc.
Qua khỏi suối Tiên chúng ta sẽ tới thị trấn Mũi Né, tại thị trấn chúng ta đi ngang qua chợ Mũi Né,, Suối Hồng, Đồi Cát.
Đồi Cát Mũi Né
Còn gọi là Đồi Cát Bay – một trong những bải cát trãi dài nhiêu cây số và lan rộng ở một diện tích không nhất định với tổng thể lớn . Nằm trãi dài từ tỉnh Bình Thuận đến Ninh Thuận nhưng điểm tham quan chính của đồi cát và được xem là đẹp nhất nằm trên đường ra Mũi Né , nằm đối diện Suối Tiên và nhà hàng Hương Trà .
Tên gọi bắt nguồn từ việc đồi cát có màu sắc chính là vàng , là mỏ sắt cổ tồn tại hàng trăm năm kiến tạo nên . Gọi là đồi cát bay vì hình dáng của đồi Cát thay đổi theo giờ , theo ngày , theo tháng v..v và không có hình dáng nhất định . Việc tạo nên hình dáng trăm hình , trăm dáng của cát là do gió bào mòn và thổi bay lớp cát mỏng manh phía trên. Đây là điểm tham quan thu hút khá nhiều du khách do hình dáng đẹp của cát và màu sắc cát .
Tại Bình Thuận đã hình thành một khu resort cao cấp 5 sao xây dựng một sân Golf trên cát hiện đại và độc đáo . Cụm nhà nghỉ và các dịch vụ sân golf trên cát là một sản phẩm thu hút khách du lịch độc đáo trong tương lai và một sản phẩm du lịch ” xanh ” . Việc trồng cây và phủ xanh cát bằng cây hoa giấy , dương , v..v.. vừa tạo cảnh quan , vừa góp phần tránh sự di động của cát .
Trò chơi trên cát phổ biến nhất chính là trượt cát bằng ván , du khách dùng một tấm ván carton do chính những em nhỏ người địa phương cho thuê một tấm với giá là 5000 đồng . Khách có thể trượt trên những đồi cát cao xuống bên dưới . Độ dốc của cát càng cao , trượt ván càng thú vị .
Thi đua mô tô trên cát : là cuộc thi do Bình Thuận tổ chức thu hút rất đông các tay đua kiệt xuất . Đua mô tô trên cát khá thú vị và là điểm thu hút khách du lịch của tỉnh .
Giờ tham quan thích hợp nhất của đồi cát là buổi sáng – 5h . Nếu đi tham quan từ 5h – 8h là thích hợp nhất vì lúc này cát vẫn còn mát . Nếu đi trưa quá , cát sẽ nóng lên do mặt trời .
Hòn Rơm
Hòn Rơm thuộc địa phận phường Mũi Né, Tp. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, cách trung tâm Tp. Phan Thiết 26km về hướng đông bắc.
Hòn Rơm – khi mùa khô đến, dưới cái nắng chói chang, cỏ dại trở nên vàng úa, nhìn từ xa giống như những đống rơm khổng lồ.
Hòn Rơm là tên một núi nhỏ vẫn còn hoang sơ, nằm tại phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết. Ở trên núi này có một loại cỏ ống dài khoảng 0,50m; vào mùa nắng lớn, cỏ bị cháy khô, màu vàng. Người dân đi biển ở ngoài khơi nhìn vào ngọn núi thấy dáng vẻ khô vàng giống như một đụm rơm khổng lồ, nên mới gọi là Hòn Rơm.
Ngày nay, Hòn Rơm thực chất là một “tiểu khu” du lịch của Mũi Né, với cảnh quan đẹp trầm lắng, bãi tắm dài hơn 17 km, vẫn còn nguyên sơ, chưa có người ở và khai thác, gọi là Bãi sau Hòn Rơm. Tại đây, nước xanh trong vắt, sóng êm, không có đá ngầm.
Đi hết Hòn Rơm là tới huyện Bắc Bình.
Bắc Bình
Bắc Bình là một huyện của tỉnh Bình Thuận, nằm ở phía bắc của tỉnh có diện tích tự nhiên là 212,56 km² với dân số là 112.818 người.
Bắc Bình là nơi bảo lưu dòng văn hoá Chăm Pa đặc sắc. Vị công chúa cuối cùng của hoàng tộc Chăm Pa, người dân địa phương gọi bà là Bà Thầm, bà mất khoảng năm 1997. Dòng văn hoá Chăm có những giá trị nghệ thuật đỉnh cao trong đó điển hình nhất là nghệ thuật múa vẫn còn lưu giữ và phát huy.
Cảnh đẹp độc đáo của Bình Thuận và Bắc Bình là những ốc đảo xanh tươi chạy dọc theo hơn 100km bờ biển thanh bình, từ thị trấn Lagi phía nam, đến mũi Kê Gà nơi có ngọn hải đăng đẹp nhất và cổ nhất Việt Nam; đến thành phố Phan Thiết hiền hoà nơi lưu giữ những di sản văn hoá 300 năm mở cõi của người Việt và những di sản truyền thống của người Hoa; tâm điểm du lịch hiện nay là dải hàng trăm resort kéo dài ra đến Mũi Né, tạo thành một chuỗi bờ biển du lịch nối ra đến khu vực Suối Nước cách Phan Thiết 40 km, tại đây hàng loạt dự án tầm cỡ đang mọc lên tạo ra một quần thể du lịch cao cấp mới kéo dài thành phố Phan thiết trên một dải bờ biển gần 50km thật xứng với danh hiệu “Thủ đô Resort củ Việt Nam”.
Đi dọc Quốc lộ 1A ra hướng Nha Trang, con đường mang ta đến với suối nước khoáng nóng Vĩnh Hảo lừng danh đã từng được gắn thương hiệu Vichy (Pháp), thêm 10 cây số nữa là bờ biển dọc theo vách đá đứng đứng của Cà Ná. Nơi đây cũng có hàng chục điểm du lịch cao cấp và các điểm dừng cho du khách, ngắm nhìn biển xanh bao la hay hoà mình với sóng biển xanh.
Còn rất nhiều cảnh đẹp của Bắc Bình, Bình Thuận đang chờ bạn khám phá….
Tới Bắc Bình, phía bên phải quốc lộ 1A có Bầu Sen, một đầm nước khá là đẹp.
Bàu Sen
Cách thành phố Phan Thiết chừng 40km về hướng đông bắc, khu du lịch này thuộc xã Hoà Thắng, huyện Bắc Bình (Bình Thuận). Bàu Sen dài khoảng 3km, nơi rộng nhất là 500m, độ sâu trung bình 5m với tổng diện tích 70ha, được bao bọc bởi những động cát trắng tinh, mịn màng. Đứng từ trên đồi cao nhìn xuống, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một đầm nước mênh mông trông như biển hồ, nước xanh thẳm, trải dài tuyệt đẹp. Hệ sinh vật ở Bàu Sen rất phong phú, có nhiều loại cá nước ngọt rất ngon. Trong hồ còn có loại cá trắm cỏ nặng đến 30kg. Sen ở đây mọc tự nhiên, hầu như nở hoa suốt bốn mùa trong năm. Đến với Bàu Sen – Bạch Hổ, du khách có thể thuê chiếc xuồng của ngư dân ven vùng dạo chơi, ngắm cảnh trên hồ hay câu cá cũng rất thú vị. Nếu bạn thích tắm thì cũng rất thoải mái vì nước ở đây trong vắt, mát lạnh, sạch sẽ. Còn nếu muốn cắm trại, bên phía bờ bắc của khu du lịch có một khu rừng dương mát rất thích hợp.
Từ thành phố Phan Thiết nếu không đi theo con đường Thủ Khoa Huân, đi thẳng đường Trần Hưng Đạo tới quốc lộ 1A chúng ta sẽ tới Đức Trọng nơi có công trình thủy điện Đại Ninh.
Thuỷ Điện Đại Ninh
Nhà máy thủy điện Đại Ninh có công suất 300MW với kinh phí đầu tư gần 7.000 tỷ đồng. Ngòai nhiệm vụ tăng nguồn cung cấp điện nhà máy còn tạo nguồn nước phục vụ nông nghiệp cho tỉnh Bình Thuận vốn bị hạn hán quanh năm.
Đây là một trong những công trình thủy điện đẹp nhất nước, có lòng hồ nằm gần quốc lộ. Độ cao tại nhà máy hơn 200 m so với mực nước biển còn đỉnh tháp điều áp thì cao tới 775m.
Đi trên quốc lộ 1A chúng ta sẽ đi qua thị trấn Chợ Lầu và Phan Rí
Thị Trấn Phan Rí Cửa
Phan Rí Cửa là thị trấn ven biển nằm phía Nam của huyện Tuy Phong có chiều dài bờ biển 2,5km với số lượng tàu thuyền 477 chiếc. Toàn thị trấn có trên 37.000 hộ, mật độ 13.480 người/km2. Đời sống của bà con nơi đây chủ yếu là đánh bắt hải sản và dịch vụ tiểu thủ công.
Qua khỏi Phan Rí chúng ta sẽ đến với huyện Tuy Phong, đoạn qua thị trấn Liên Khương sẽ có con đường vào chùa Hang.
Chùa Hang
Chùa Hang tên chữ Cổ Thạch Tự, thuộc xã Bình Thạnh, huyện Tuy Phong được xây vào khoảng năm 1835 do Thiền sư Bảo Tạng, đời 40 thuộc phái Thiền Lâm tế Chính tông khai sơn, tọa lạc trong động trên núi Cổ Thạch tự gồm nhiều động thờ. Khu Chính điện nằm giữa hai phiến đá lớn dựng đứng, tiếp đến là nhà tổ, gác chuông, nhà thiền, từ đường…Nơi đây còn lưu giữ nhiều di sản văn hóa quý. Chùa Hang được Nhà nước xếp hạng “di tích Lịch sử – văn hóa” quốc gia 1993.
Tiếp tục đi theo quốc lộ 1A, chúng ta sẽ đi ngang qua làng của người Chăm, ngôi làng này nằm về bên phải của quốc lộ.
Dân Tộc Chăm
Dân tộc Chăm có tên gọi khác Chàm, Chiêm thành, Hroi. Nhóm ngôn ngữ Malayô – Pôlinêxia.
Dân số 99.000 người.Cư trú sống tập trung ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận. Một số nơi khác như An Giang, Tây Ninh, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh cũng có một phần dân cư là người Chăm; Tây nam Bình Thuận và Tây bắc Phú Yên có người Chăm thuộc nhóm Hroi.
Đồng bào Chăm sống ở đồng bằng, có truyền thống sản xuất lúa nước là chínhn. Hai nghề thủ công nổi tiếng là đồ gốm và dệt vải sợi bông.
Tổ chức cộng đồng Đồng bào có tập quán bố trí cư trú dân cư theo bàn cờ. Mỗi dòng họ, mỗi nhóm gia đình thân thuộc hay có khi chỉ một đại gia đình ở quây quần thành một khoảnh hình vuông hoặc hình chữ nhật. Trong làng các khoảnh như thế ngăn cách với nhau bởi những con đường nhỏ. Phần lớn làng Chăm có dân số khoảng từ 1.000 người đến 2.000 người.
Hôn nhân gia đình Chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại ở người Chăm miền Trung. Tuy đàn ông thực tế đóng vai trò to lớn trong cuộc sống nhưng chủ gia đình luôn là người đàn bà cao tuổi. Phong tục Chăm qui định con gái theo họ mẹ. Nhà gái cưới chồng cho con. Con trai ở rể nhà vợ. Chỉ con gái được thừa kế tài sản, đặc biệt người con gái út phải nuôi dưỡng cha mẹ già nên được phần chia tài sản lớn hơn các chị.
Trang phục Chăm, vì có nhóm cơ bản là theo đạo Hồi nên cả nam và nữ lễ phục thiên về màu trắng. Có thể thấy đặc điểm trang phục là lối tạo hình áo (khá điển hình) là lối khoét cổ và can thân và nách từ một miếng vải khổ hẹp (hoặc can với áo dài) thẳng ở giữa làm trung tâm áo cho cả áo ngắn và áo dài. Mặt khác có thể thấy ở đây duy nhất là tộc còn thấy nam giới mặc váy ở nước ta với lối mang trang phục và phong cách thẩm mỹ riêng.
Qua khỏi làng người chăm không xa chúng ta sẽ thấy nhà máy nước khoáng Vĩnh Hảo phía bên trái quốc lộ.
Vĩnh Hảo
Vĩnh Hảo là doanh nghiệp sản xuất nước khoáng đầu tiên của Việt Nam (đã được Record Book Center cấp chứng nhận ) và cũng là nhãn hiệu có uy tín lâu năm nhất , đó là cả quá trình hòan thiện không ngừng trên các mặt để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng tính cạnh tranh trước áp lực của nền kinh tế thị trường.
Với những đặc tính vốn quý của nứơc khóang Vĩnh Hảo,cho nên sau khi phát hiện ra nó người ta đã thật sự quan tâm nghiên cứu để khai thác nó.
Sản phẩm của công ty được đa dạng trên nền nước khoáng:
Nước khóang có ga, nước khóang không ga, nước khoáng ngọt Vĩnh Hảo, ngòai ra Vĩnh Hảo còn có các sản phẩm và chế phẩm khác phụ như vụ cho dinh dữơng và sức khỏe của con người như : Tảo spirulina platensis, bùn khóang.
Từ nhà máy nước khoáng Vĩnh nhìn chéo qua bên kia quốc lộ là xí nghiệp muối Vĩnh Hảo.
Xí Nghiệp Muối Vĩnh Hảo
Xí nghiệp Muối Vĩnh Hảo là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được thành lập tháng 4/1992
Diện tích đồng muối: 510 ha
Chuyên sản xuất muối đáp ứng nhu cầu sử dụng muối cho công nghiệp hoá chất, ngoài ra còn đáp ứng nhu cầu sử dụng muối trong gia công chế biến thủy hải sản, sản phẩm của Xí nghiệp được tiêu thụ trên toàn quốc.
Xí nghiệp có 17 tổ bơm ở 3 trạm bơm , công suất mỗi tổ bơm 1000- 1100 m3/giờ/tổ máy, 2 máy kéo MTZ để phay muối, 4 băng tải nhỏ phục vụ thu hoạch và 7 xe ben chuyên dùng để vận chuyển muối về kho,1 băng tải chuyên xúc muối khách hàng và 1băng tải đánh đống muối tại kho công suất 1.200 tấn/ngày, ngoài ra Xí nghiệp còn có 1 nhà xưởng được trang bị như máy khoan, mài, cắt, tiện hàn …. phục vụ cho công tác sữa chữa phương tiện máy móc.
Đi hết huyện Tuy Phong là sẽ tới tỉnh Ninh Thuận
Ninh Thuận
Ninh Thuận là một tỉnh ven biển thuộc vùng Nam Trung Bộ. Với diện tích tự nhiên 3.360,1 km², dân số năm 2001 khoảng 531,7 nghìn người.
Phía bắc giáp tỉnh Khánh Hoà, phía nam giáp Bình Thuận, phía tây giáp Lâm Đồng, phía Đông có bờ biển dài 105 km.
Ninh Thuận được bao bọc bởi ba mặt núi và một mặt biển. Phía tây là vùng núi cao giáp Đà Lạt, phía bắc và phía nam có hai dãy núi chạy ra biển. Giữa tỉnh và ven biển là vùng đồng bằng khô cằn nên được mệnh danh là miền Viễn tây của Việt Nam.
Ninh Thuận có nhiều sông, suối, nhưng lớn nhất là sông Cái. Nếu tính cả các phụ lưu là sông Mê Lam, sông Sắt, sông Ông, sông Chá, sông Lu và sông Quao thì hệ thống sông Cái có chiều dài 246 km. Ngoài hệ thống này, Ninh Thuận còn có một số sông khác như sông Trâu, sông Quán Thẻ, sông Bà Râu… với tổng chiều dài 184 km.
Ngày 5 tháng 7 năm 1922, tỉnh Phan Rang, còn gọi là tỉnh Ninh Thuận, được tái lập. Tỉnh gồm phủ Ninh Thuận và huyện An Phước (nơi người Chăm cư trú), do một Công sứ Pháp cai trị. Dưới Công sứ còn có một Quản đạo.
Ninh Thuận là một trong những địa bàn sinh sống của người Việt cổ. Các nhà khảo cổ đã phát hiện được ở Nhơn Hải của Ninh Thuận các mộ cổ chôn cùng với đồ đá, đồ sắt thuộc nền văn minh Sa Huỳnh cách đây khoảng 2500 năm. Ninh Thuận còn là nơi gìn giữ được nhiều di sản quý báu của nền văn hoá Chămpa, bao gồm chữ viết, dân ca và nghệ thuật múa, trang phục và nghề dệt thổ cẩm, nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc.
Trên địa bàn Ninh Thuận có 28 dân tộc, nhưng đông nhất là người Kinh, người Chăm và người RăkLai.
Tỉnh có hơn 20 làng người Chăm, trong đó có những làng vẫn duy trì các tập quán của chế độ mẫu hệ. Ninh Thuận có gần như còn nguyên vẹn hệ thống tháp Chàm xây dựng trong nhiều thế kỷ trước, tiêu biểu là cụm tháp Hoà Lai xây dựng thế kỷ thứ 9, cụm tháp Poklong Garai xây dựng thế kỷ 13 và cụm tháp Pôrômê xây dựng thế kỷ 17.
Ninh Thuận có vùng lãnh hải rộng 18 nghìn km², là một trong những ngư trường quan trọng của Việt Nam với 500 loài hải sản, cho phép khai thác mỗi năm 5-6 vạn tấn.
Ninh Thuận là địa phương sản xuất muối lớn nhất cả nước với sản lượng 130 nghìn tấn/năm. với các nhà máy sản xuất muối lớn như ;cà ná, phương cựu … ngoài ra với diên tích rừng lớn lâm nghiệp cũng được coi là thế mạnh.
Đầu tiên chúng ta sẽ đi qua huyện Ninh phước.
Ninh Phước
Là một huyện nằm ở phía nam của Ninh Thuận, phía đông giáp biển Đông, phía nam giáp tỉnh Bình Thuận, nằm cách thị xã Phan Rang một con sông Dinh.
Ninh Phước hội tụ cả ba điều kiện địa lý: có núi, sông, biển và cả đồng bằng. Tuy nhiên nền kinh tế Ninh Phước chưa được phát triển, là một huyện nằm ở hạ lưu dòng sông Dinh nên thường xuyên bị ngập lụt vào khoảng tháng 10 – 11 hằng năm. Nền nông nghiệp chủ yếu của Ninh Phước là trồng nho, tuy nhiên trong vài năm gần đây có vài thay đổi trong canh tác nông nghiệp. Người dân dần dần chuyển qua các hình thức canh tác khác như trồng táo, thanh long … Làng Mỹ Nghiệp ở Ninh Phước nổi tiếng cả nước với nghề truyền thống gốm Bàu Trúc.
Ngay đầu huyện Ninh Phước là bãi biển Cà Ná
Bãi Tắm Cà Ná
Đi trên quốc lộ 1A, khi đến đoạn giáp ranh Bình Thuận- Ninh Thuận, các bạn sẽ thấy biển Cà Nà. Biển xanh, cát trắng, ghềnh đá, núi non… Cà Ná có đủ loại hình du lịch leo núi, khám phá những danh lam, di tích còn giữ nguyên nét hoang sơ, du lịch biển, hải đảo… Nước biển Cà Ná xanh thẳm, có độ mặn cao hơn các vùng khác từ 3-40, chỉ cần từ bờ lội ra khơi chừng 20 mét, với độ sâu chỉ khoảng 1-1,5 mét, du khách có thể thỏa sức ngắm các rạn san hô rất đẹp. Bãi tắm trải dài, cát trắng tinh, sạch sẽ. Những ghềnh đá hoa cương là nét đẹp đặc trưng của Cà Ná. Chính những ghềnh đá này tạo nên nhiều hang động kỳ bí như: hang Ông Phật, ghềnh Ông Nồng, giếng Đục…
Đến đây, du khách sẽ được đắm mình trong dòng nước xanh mát, chiêm ngưỡng những mỏm đá đủ loại hình thù nằm sát mép bờ, chụp ảnh lưu niệm hoặc tổ chức leo núi, thưởng thức các món ăn đặc sản, thăm các danh thắng, các công trình văn hóa đặc sắc, các làng nghề truyền thống của dân tộc Chăm thuộc huyện Ninh Phước, đi thuyền ra đảo Cù Lao Câu, tắm nước khoáng Vĩnh Hảo.
Tiếp tục hành trình chúng ta sẽ vào thị trấn Phước Dân, phía bên phải có 1 con đường vào làng dệt Mỹ Nghiệp
Làng Mỹ Nghiệp
Làng Mỹ Nghiệp nằm cách thị xã Phan Rang khoảng 10 km về hướng Nam, thuộc huyện Ninh Phước tỉnh Ninh Thuận là làng nghề dệt thổ cẩm truyền thống khá đặc sắc. Đa số người dân ở đây là dân tộc chăm.
Nghề dệt thổ cẩm có từ lâu đời, theo truyền thuyết vào thế kỷ 17 vua Ponưra. Bà là một nghệ nhân tạo ra những hoa văn rất đặc sắc trên nền vải, và chính bà đã tạo ra nghề dệt này, bà đã truyền lại cho ông Xa và bà Chaleng. Họ là hai vợ chồng sinh sống ở làng ChaLeng thời xưa và bây giờ chính là làng Mỹ Nghiệp.Ngày xưa người dân tự trồng bông làm nguyên liệu sản xuất và dùng cây Chùm Bầu, cây Mo, bùn non làm phẩm nhuộm và dùng các khung gỗ thô sơ làm công cụ tạo ra sản phẩm mà chủ yếu dùng làm trang phục cho người quá cố. Cho đến năm 1991 cơ sở của nghề dệt đã được hình thành nhưng chưa được phát triển chỉ tiêu thụ tại các tỉnh Lâm Đồng, Daklak…. Những năm gần đây mặt hàng này không chỉ được tiêu thụ trong nước mà còn được xuất khẩu sang thị trường nhiều nước trên thế giới.
Cách con đường dẫn vào làng dệt Mỹ Nghiệp không xa về bên trái là con đường vào làng gốm Bàu Trúc.
Làng Gốm Bàu Trúc
Nằm ven quốc lộ 1A, thuộc thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước (tỉnh Ninh Thuận), làng gốm Bầu Trúc được thị trường biết đến bởi những nét độc đáo cổ truyền, nghệ thuật chế tác gốm đặc trưng của đồng bào Chăm Ninh Thuận.
Làng gốm Bầu Trúc nằm trong vùng lòng chảo được bao quanh bởi những dãy núi nên mùa mưa thường gây ra lũ lụt và phù sa bồi tụ lâu năm tạo thành các lớp đất sâu ở triền sông Quao. Chính nơi đây đã hình thành các mỏ đất sét mịn màng, có độ dẻo cao. Bên dưới lòng sông Quao lại có những dải cát trắng hạt nhỏ – những nguyên liệu cần thiết để tạo thành gốm Bầu Trúc mà không nơi nào có được.
Ngày nay, ở nhiều nơi người ta dùng bàn xoay để nặn gốm. Còn các nghệ nhân gốm Chăm vẫn dùng đôi tay khéo léo để tạo nên những tác phẩm tuyệt vời với mẫu mã phong phú. Các hoa văn trang trí trên gốm Bầu Trúc là những đường khắc vạch hình sông nước, chấm vỏ sò và hoa văn thực vật; có cả hoa văn móng tay trên vai cổ gốm rất mộc mạc, gần gũi, nhẹ nhàng. Sản phẩm gốm được nung lộ thiên ở nhiệt độ từ 500 – 6000C trong vòng 6 giờ, sau đó được lấy ra để phun màu (loại màu này được chiết xuất từ trái dông, trái thị ở trên rừng) rồi được tiếp tục nung lại trong vòng 2 giờ. Vì vậy, gốm Bầu Trúc có màu đặc trưng vàng đỏ, đỏ hồng, đen xám, vệt nâu, tạo thành các sản phẩm gốm độc đáo, mang theo vẻ “lung linh của nền văn hóa Chămpa”.
Đến tham quan làng gốm Bầu Trúc, khách du lịch có thể cùng làm gốm với các nghệ nhân, tự tay tạo nên những sản phẩm đơn sơ, mộc mạc và tha hồ chọn lựa những sản phẩm gốm với giá bán từ vài ngàn đến vài triệu đồng. Tham quan các phòng trưng bày sản phẩm, du khách còn có thể khám phá nhiều điều kỳ diệu ở làng gốm Bầu Trúc này.
Chạy thêm một đoạn nữa là tới thị xã Phan Rang
Phan Rang
Phan Rang cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, cách Đà Lạt 110 km, cách Nha Trang 105 km và cách Hà Nội 1388 km.
Diện tích: 79,3756 km² (2007)
Dân số: 102.941 người (2007)
Sân bay chính của thành phố là sân bay Thành Sơn. Đây từng là căn cứ của Không quân Hoa Kỳ, nay trở thành sân bay quân sự của Việt Nam.
Vùng đất này từng là kinh đô Panduranga của Vương quốc Champa cổ.
Thị xã Phan Rang được thành lập theo đạo dụ của Khải Định ban hành ngày 4 tháng 8 năm 1917.
Trước năm 1976, Phan Rang là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận. Từ 1976 đến 1991, khi tỉnh Ninh Thuận hợp nhất với tỉnh Bình Thuận (kể cả tỉnh Bình Tuy của Việt Nam Cộng hòa) thành tỉnh Thuận Hải thì Phan Rang không còn là tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận, mà thuộc tỉnh Thuận Hải.
Thị xã Phan Rang được tái lập với tên mới là thị xã Phan Rang-Tháp Chàm ngày 1-9-1981, đồng thời với việc tái lập ba huyện là Ninh Sơn, Ninh Hải và Ninh Phước Khi tỉnh Ninh Thuận được tái lập (1992), thị xã Phan Rang hợp nhất cùng với Tháp Chàm thành thị xã Phan Rang-Tháp Chàm, đồng thời trở thành tỉnh lỵ tỉnh Ninh Thuận.
Có các danh lam thắng cảnh:
• Tháp Poklong Glarai
• Bãi biển Cà Ná và vịnh Vũng Rô
• Chùa Ông gần chợ Phan Rang
• Bãi biển Bình Tiên
• Thác Sakai chân đèo Ngoạn Mục – Sông Pha
• Thác Kiềng Kiềng
• Vịnh Vĩnh Hy
Đến đây có các đặc sản đó là nho và nước mắm.
Tại thị xã Phan Rang, có ngã tư Phan Rang. Đây là điểm giao cắt giữa quốc lộ 1A với quốc lộ 27. Rẽ trái là đường đi Đà Lạt
Đà Lạt
Đà Lạt là một thành phố trực thuộc tỉnh và tỉnh lị tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, ở độ cao 1500 m so với mặt nước biển và diện tích tự nhiên: 393,29 km². Dân số 188.467 người
Với nhiều cảnh quan đẹp, Đà Lạt là một trong những thành phố du lịch nổi tiếng nhất của Việt Nam. Trong thời Pháp thuộc, tên tiếng Latin “Dat Aliis Laetitiam Aliis Temperiem” (“Đem sung sướng tới một số người và đem tươi trẻ tới số khác”).
Thành phố Đà Lạt nằm trong cao nguyên Lang Biang, phía Bắc tỉnh Lâm Đồng, Về phía Bắc, Đà Lạt giáp với huyện Lạc Dương, về phía Đông và Đông Nam giáp với huyện Đơn Dương, về phía Tây và Tây Nam giáp với hai huyện Lâm Hà và Đức Trọng.
Hàng trăm năm trước đây, Đà Lạt là địa bàn cư trú của người Lạch, hay toàn bộ cao nguyên Lang Biang, diện tích hơn 400 km², bao bọc bởi các đỉnh núi cao và dãy núi liên tiếp.
Do ảnh hưởng của độ cao và rừng thông bao bọc, Đà Lạt mang nhiều đặc tính của miền ôn đới. Nhiệt độ trung bình 18–21°C, nhiệt độ cao nhất chưa bao giờ quá 30°C và thấp nhất không dưới 5°C.
Cao nguyên Lang Biang trước năm 1893 là địa bàn cư trú của các tộc người Thượng. Người Việt đầu tiên có ý định khám phá vùng rừng núi Nam Trung Bộ là Nguyễn Thông, nhưng do nhiều lí do nên cho tới cuối đời ông vẫn không thực hiện được ý định của mình. Vào hai năm 1880 và 1881, bác sĩ hải quân Paul Néis và trung úy Albert Septans có những chuyến thám hiểm đầu tiên vào vùng người Thượng ở Đông Nam Bộ và Nam Trung Bộ, và họ được coi là hai nhà thám hiểm đầu tiên đã tìm ra cao nguyên Lang Biang
Kinh tế Đà Lạt có thế mạnh về du lịch, trồng hoa và rau. Phần lớn diện tích trồng hoa chuyên nghiệp của tỉnh Lâm Đồng tập trung tại Đà Lạt.
Đà Lạt có nhiều công trình xây dựng đặc sắc, phần nhiều mang đặc trưng của kiến trúc kiểu Pháp.
Rẽ phải tại ngã tư Phan Rang là đường đi bãi biển Ninh Chữ.
Bãi Biển Ninh Chữ
Nằm cách trung tâm thị xã Phan Rang- Tháp Chàm 6km về phía Đông. Đây là một trong chín bãi tắm đẹp của Việt Nam, có chiều dài 10km, bờ biển bằng phẳng hình vòng cung, cát trắng mịn, nước trong xanh, không khí trong lành. Xung quanh có rừng dương xanh ngút ngàn, những cánh đồng lúa bát ngát, đầm Nại giàu tôm, cá, mực, núi Đá Chồng, núi Tân An, núi Cà Đú với những tảng đá lớn nhỏ xếp chồng lên nhau tạo thành một quần thể thiên nhiên hài hòa, hữu tình, khí hậu mát mẻ, nắng ấm quanh năm… Khách du lịch đến đây có thể tắm biển, leo núi, thăm chùa, đình cổ ở núi Đá Chồng (Dư Khánh), xa hơn nữa có thể du lịch dã ngoại ở Vĩnh Hy, săn bắn ở suối nước ngọt, đi canô, mô tô nước quanh bờ biển Ninh Chữ, Đầm Nại, đến Hòn Thiên.
Đi qua ngã tư trên một đoạn là tới huyện Ninh Hải.
Huyện Ninh Hải
Huyện Ninh Hải là một trong bốn huyện của tỉnh Ninh Thuận, nằm ở vị trí Đông – Bắc tỉnh, Bắc giáp Cam Ranh tỉnh Khánh Hoà, Nam giáp thị xã Phan Rang, Tây giáp huyện Ninh Sơn, Đông giáp biển Đông
Huyện Ninh Hải thuận lợi giao thông. Quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam đều ngang qua địa phận huyện, mạng lưới giao thông liên tỉnh, trong huyện được xây dựng nâng cấp trong những năm gần đây.
Ninh Hải còn có nhiều điểm du lịch nổi tiếng như Tháp Chàm Hoà Lai, nhiều đình chùa cổ kính, vịnh Vĩnh Hy trong xanh, các căn cứ địa cách mạng: Cà Đú, Bác Ái Đông, chiến khu 17, đặc biệt bãi tắm biển Ninh Chữ quanh năm mát mẻ từ các cơ sở ấy, có thể tổ chức các chuyến du lịch tắm biển, du thuyền Đầm Nại, leo núi, săn bắn, du khảo văn hoá dân tộc, dã ngoại, tổ chức các chương trình về nguồn v.v.v….
Ngay đầu huyện phía bên phải là Tháp Hòa Lai.
Tháp Hoà Lai
Tháp Hoà Lai thuộc địa phận thôn Ba Tháp, xã Tân Hải, huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.
Tháp được xây dựng vào những năm đầu thế kỷ 9, trước đây gồm có 3 tháp, nhưng còn lại 2 tháp là tháp Bắc và tháp Nam.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu phương Tây, khu tháp Hoà Lai hay còn gọi là Tam Tháp là một trong những cụm di tích Chăm cổ nhất và đẹp nhất hiện còn tồn tại. Tháp được xây dựng vào đầu thế kỷ IX, trước đây gồm 3 tháp trên một diện tích 200m2, rộng 125m, nhưng hiện nay tháp Trung tâm đã bị sụp đổ, chỉ còn 2 tháp là tháp Bắc và tháp Nam.
Tháp Bắc có 4 trụ bổ tường, mỗi trụ được trang trí rất đẹp, phía dưới các trụ còn thể hiện những mảng điêu khắc đẹp và hình tượng chim Garuda giang rộng cánh. Trên mỗi đầu các trụ bổ của các mái chìa có các diềm mũ để trang hoàng. Các cửa giả được trang trí với những vòng cung và những hình người được thể hiện trong tư thế ngồi. Hình thức trang trí ở tháp Nam đơn giản hơn, cũng có 4 trụ bổ tường với những đường nét bên dưới và những diềm mũ với các hoa văn trang trí ở mái chìa, các cửa giả được trang trí vòng cung lớn nhưng không tỉ mỉ như tháp Bắc. Tháp có 3 tầng mái, mỗi tầng có một hốc giả trang trí bởi các vòng cung. Các tháp này sau một thời gian dài bỏ phế, người Chăm đã không cúng bái. Nay tháp đang được trùng tu và bảo quản.
Chạy trên quốc lộ 1A, qua đèo Cổ Mã chúng ta sẽ đến với một mãnh đất được thiên nhiên ưu đãi ban tặng cho những bãi biển, những vịnh đẹp trong những bãi biển, vịnh đẹp nhất thế giới đó là tỉnh Khánh Hòa.
Khánh Hòa
Khánh Hòa là một tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ. Tỉnh này giáp với tỉnh Phú Yên về hướng bắc, tỉnh Đắk Lắk về hướng tây bắc, tỉnh Lâm Đồng về hướng tây nam, tỉnh Ninh Thuận về hướng nam, và Biển Đông về hướng đông. Quần đảo Trường Sa nằm dưới sự quản lý của tỉnh Khánh Hòa. Khánh Hòa có thành phố nổi tiếng là thành phố Nha Trang.
Có diện tích tự nhiên là 5.197 km2.
Dân số khoảng 1.300.000 người (2006).
Bờ biển tỉnh Khánh Hòa kéo dài từ xã Đại Lãnh tới cuối vịnh Cam Ranh, có độ dài khoảng 385 km (tính theo mép nước) với nhiều cửa lạch, đầm vịnh, với hàng trăm đảo lớn, nhỏ và vùng biển rộng lớn. Đặc biệt, huyện đảo Trường Sa là nơi có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng quan trọng của cả nước. Dọc theo bờ biển từ Đại Lãnh trở vào đến Ghềnh Đá Bạc, Khánh Hòa có 4 vịnh lớn. Đó là vịnh Vân Phong, vịnh Nha Phu, vịnh Nha Trang (Cù Huân) và vịnh Cam Ranh. Mỗi vịnh mỗi vẻ khác nhau nhưng vịnh nào cũng đẹp, cũng ẩn chứa tiềm năng về nhiều mặt. Trong đó có vịnh Cam Ranh với diện tích gần 200 km², có núi ngăn cách, được coi là 1 trong 3 hải cảng thiên nhiên tốt nhất thế giới.
Mũi Hòn Đôi trên bán đảo Hòn Gốm, huyện Vạn Ninh là điểm cực đông trên đất liền của nước Việt Nam.
Các dân tộc chính trong tỉnh gồm có Việt, Ra Glai, Hoa, và Cơ Ho.
Trước khi trở thành một phần của Đại Việt, Khánh Hòa là một phần của Vương quốc Chăm pa.
Với bờ biển dài hơn 200km và gần 200 hòn đảo lớn nhỏ, khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình 260C, với hơn 300 ngày nắng trong năm, với nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh nổi tiếng như: Tháp Ponagar, thành cổ Diên Khánh, Mộ Yersin, Hòn Chồng, Đại Lãnh, Vịnh Vân Phong, Suối nước nóng Dục Mỹ, Hòn Bà, Sông Lô, Dốc Lết. Các đảo Hòn Tằm, Trí Nguyên, Bích Đầm, Hòn Mun, Hòn Ông… và bãi biển Nha Trang là bãi tắm sạch đẹp rất hấp dẫn du khách… Thiên nhiên đã ban tặng cho Khánh Hòa một quần thể du lịch đa dạng liên hoàn giữa núi, rừng và biển, đảo
Khánh Hòa có khu nghỉ dưỡng đẳng cấp cao nhất Việt Nam là Evason Hideway tại Ana Mandara (huyện Ninh Hòa) vừa được tờ báo Sunday Times bầu là một trong 20 khu nghỉ tốt nhất thế giới và còn phải nhắc đến khu du lịch mới được thành lập là Hòn Ngọc Việt .
Đến nơi đây các bạn sẽ được thưởng thức những đặc sản nổi tiếng như Yến sào, một món ăn chế biến từ tổ chim yến Trầm hương, một loại hương liệu dược liệu quý hiếm từ cây Dó Bầu.
Ngoài ra, cùng với tỉnh bạn Phú Yên, Khánh Hòa là tỉnh có số lượng lồng nuôi tôm hùm lớn nhất nhì Việt Nam.
Ngoài những đặc sản trên Khánh Hòa còn nổi tiếng với món Nem – Nem Ninh Hòa.
Đến với tỉnh Khánh Hòa, chúng ta sẽ đi qua Cam Ranh.
Cam Ranh
Cam Ranh là một thị xã thuộc tỉnh Khánh Hòa. Thị xã Cam Ranh cách Nha Trang 45 km về phía Nam, nằm bên Quốc lộ 1A. Thị xã Cam Ranh tọa lạc bên Vịnh Cam Ranh, một vịnh biển tự nhiên được xem là một trong ba vịnh tự nhiên tốt nhất thế giới nơi hội tụ những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi cho phát triển dịch vụ cảng biển và du lịch. Thị xã Cam Ranh có Sân bay quốc tế Cam Ranh, sân bay thay thế cho Sân bay Nha Trang kể từ khi Chính phủ có chủ trương chuyển một phần các khu vực quanh Vịnh Cam Ranh sang phát triển kinh tế và Cảng Ba Ngòi, một cảng biển thương mại quốc tế nằm trong Vịnh Cam Ranh, là đầu mối giao thông đường biển quan trọng cho khu vực Nam Khánh Hòa và các tỉnh lân cận.
Tại thị trấn Ba Ngòi, có 1 con đường đề đi ra cảng Cam Ranh và từ cảng Cam Ranh đi thêm một đoạn nữa là tới vịnh Cam Ranh.
Vịnh Cam Ranh
Vịnh Cam Ranh thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Theo nhiều nhà địa lý quốc tế, có 3 cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới lad San Francisco của Mỹ, Rio de Janéro của Brazil và Cam Ranh của Việt Nam.Vịnh Cam Ranh với vẻ đẹp nguyên sơ, đặc trưng duyên hải Trung Bộ, có diện tích gần 60km2. Chỗ hẹp nhất khoảng 10km, rộng nhất 20km, độ sâu trung bình từ 18 – 20m. Vịnh gần như khép kín bởi bán đảo Cam Ranh từ phía bắc chạy phủ kín cả phía đông, phía tây. Phía nam vịnh là đất liền, chỉ mở ra một cửa lớn – được ví như một cánh tay ôm lấy vịnh, tạo thành một vành đai nên mặt nước. có khả năng đón nhận nhiều hạm đội một lúc, nhiều tàu chiến tàu ngầm và các tàu có trọng tải trên 100.000 tấn có thể ra vào dễ dàng bất cứ lúc nào trong năm,
Ngoài ra đây là một Quân cảng cơ động nhất cho các tàu chiến, máy bay chiến đấu, tàu ngầm và nhiều phương tiện tác chiến khác cùng hoạt động do Vịnh có ưu điểm là chỉ cách đường hàng hải quốc tế 1 giờ tàu biển (cảng Hải Phòng cách 18 giờ). Thủy triều trong vịnh khá đều đặn, hằng ngày hai con nước lên xuống tương đối đúng giờ.
Sau khi đi tới ngã 3 Cam Đức, nếu rẽ phải và đi theo con đường mới đi Nha Trang, chúng ta sẽ thấy sân bay Cam Ranh.
Sân Bay Cam Ranh
Sân Bay Cam Ranh nằm ở phía bắc bán đảo Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, có đường cất hạ cánh kích thước 3.048m x 45m, đảm bảo khai thác các loại máy bay A320, A321, B767. Theo các chuyên gia hàng không, sân bay này có điều kiện tĩnh không, môi trường thuận lợi, năng lực khu bay lớn; cự ly vận chuyển hành khách, hàng hóa từ thành phố Nha Trang đến sân bay đảm bảo tiêu chuẩn. Tuy nhiên, đường cất hạ cánh của sân bay được sử dụng đã lâu; cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kỹ thuật chưa đáp ứng được việc khai thác trong điều kiện thời tiết xấu và bay đêm… Hiện tại, sân bay Cam Ranh mới có nhà ga tạm, công suất phục vụ 300 hành khách/giờ cao điểm. Tuy nhiên, do được khai trương trong mùa du lịch, nên Cảng hàng không Cam Ranh đã đưa đón gần 25.000 lượt khách/tháng, tăng hơn 25% so với số lượt khách qua Cảng hàng không Nha Trang trong những tháng trước đó.
Còn từ ngã 3 Cam Đức đi thẳng, nhìn bên trái quốc lộ là vườn xoài Cam Lâm.
Vườn Xoài Cam Lâm
Hiện nay diện tích trồng xoài của huyện Cam Lâm tỉnh Khánh Hòa đều trong tình trạng già cỗi nên ngành nông nghiệp huyện có chủ trương khôi phục và phát triển loại cây trồng nhiều tiềm năng này.
Cam Lâm là một trong những địa phương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam tỉnh Khánh Hòa. Theo số liệu thống kê hiện toàn huyện Cam Lâm (Khánh Hòa) có khoảng 3.000 ha xoài các loại.
Hơn thế nữa phát triển du lịch sinh thái tại các vườn xoài trên địa bàn cũng là phương hướng của Cam Lâm. Đây là một trong những chương trình phát triển kinh tế của huyện Cam Lâm, Khánh Hòa trong thời gian tới.
Cũng đoạn Vườn Xoài này, nhìn phía bên kia đường là nhà máy đường Cam Ranh.
Nhà Máy Đường Cam Ranh
Nhà máy đường Cam Ranh khởi công xây dựng từ tháng 9/ 1998, đến năm 2002 được đưa vòa hoạt động. Công suất tối đa của nhà máy lên đên 6000 tấn/ngày.
Nhà máy Đường Cam Ranh hoạt động nhờ vào dòng điện tự cung cấp do được lắp đặt hệ thống lò đốt bã mía để phát điện. Hệ thống từ lò đốt bã qua nồi hơi nước đến buồng quay tua-bin phát điện để vận hành cung cấp điện toàn bộ Nhà máy là một dây chuyền khép kín.
Tiếp theo chúng ta sẽ đến huyện Diên Khánh.
Diên Khánh
Diên Khánh là một huyện của tỉnh Khánh Hòa, và từng là trung tâm của phủ Diên Khánh xưa kia, sau năm 1945, tỉnh lỵ của Khánh Hòa mới chuyển về thành phố Nha Trang.
Huyện Diên Khánh phía Bắc giáp huyện Ninh Hòa, phía Đông giáp thành phố Nha Trang, phía Đông Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Nam giáp thị xã Cam Ranh, phía Tây Nam giáp huyện Khánh Sơn và phía Tây giáp huyện Khánh Vĩnh.
Khi tới huyện Diên Khánh, phía bên trái của quốc lộ là mộ của Bác sĩ Yersin.
Mộ Bác Sĩ Yersin
Mộ Bác Sĩ Yersin: Alexandre Yersin sinh năm 1863 tại Thụy Sỹ. Cha gốc Thụy Sĩ, mẹ gốc Pháp. Lúc nhỏ Yersin học ở Thụy Sĩ, lớn lên học tại Pháp, đậu bằng tiến sĩ y khoa ở Pháp và nhập quốc tịch Pháp. Tháng 7/1891, Yersin đến Nha Trang lần đầu tiên.
Đến cuối năm 1899, ông trở lại Nha Trang thành lập viện Pasteur. Gần 50 năm sống độc thân ở Nha Trang, ông đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp khoa học, nghiên cứu thành công việc sản xuất thuốc chữa bệnh dịch hạch. Ông sống giản dị, gần gũi với nhân dân xóm Cồn nên được mọi người quý mến. Ông còn tham gia nhiều cuộc thám hiểm và góp phần tìm ra vùng Đà Lạt. Ngày 1/3/1943, Yersin mất tại Nha Trang. Theo di chúc của ông, khi khâm liệm người ta đặt ông nằm sấp, đầu quay về biển, để ông mãi mãi ôm lấy mảnh đất quê hương thứ hai của mình.
Mộ phần của Yersin đặt trên một ngọn đồi nhỏ không tên tại khu vực suối Dầu, huyện Diên Khánh. Ngôi mộ hình chữ nhật xây bằng xi măng, sơn màu xanh mát dịu. Trên bề mặt có hàng chữ: Alexandre Yersin (1863 – 1943). Kế đó là ngôi chùa Long Tuyền, trên điện thờ ảnh Yersin, thờ ngang hàng với các bức tượng Bồ Tát. Yersin là của Pháp, của Thụy Sĩ và của Việt Nam.
Đi thêm một đoạn nữa là sẽ tới Thành Cổ Diên Khánh
Thành Cổ Diên Khánh
Năm 1793, sau khi đánh chiếm được Diên Khánh từ tay nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã cho xây dựng trên vùng đất khi ấy còn heo hút một căn cứ quân sự và khu dân cư được vây quanh bởi một tòa thành.
Thành Diên Khánh được xây dựng theo một hình mẫu phổ biến ở phương Tây vào thời kỳ đó. Tường thành có hình lục giác không đều, có chiều dài tổng cộng 2.693 mét, xung quanh là các hào sâu từ 3 đến 5 mét. Tòa thành uốn lượn chứ không thẳng, do đó có thể quan sát dễ dàng hai bên tường. Thành Diên Khánh có diện tích khoảng 36.000 m2, và có 6 cửa thành ở 6 mặt tường. Qua thời gian, hiện nay còn bốn cửa Đông, Tây, Nam và Bắc, tuy nhiên chỉ còn hai cửa, cửa Đông và cửa Tây là còn nguyên vẹn và hiện vẫn là hai cửa ngõ chính ra vào khu vực trung tâm thị trấn Diên Khánh. Theo các tư liệu cũ, bên trong thành có nhiều kiến trúc độc đáo như hoàng cung, cột cờ, dinh tuần vũ, dinh án sát, nhà kho… Thành Diên Khánh khi đó trung tâm của Phủ Diên Khánh và cũng là nơi hoạt động của nghĩa quân Cần Vương – Khánh Hòa và quân du kích của Khánh Hòa trong thời kỳ chiến tranh với Pháp và Mỹ.
Trước khi đến với tỉnh Phú Yên chúng ta sẽ đi qua huyện Vạn Ninh
Vạn Ninh
Một huyện của tỉnh Khánh Hòa. Ở đây có vịnh Văn Phong một trong những vịnh đẹp của Khánh Hòa, nơi đây còn có nghề đóng tàu truyền thống.
Cách thành phố Nha Trang 80km theo quốc lộ 1A về hướng bắc, qua cầu Cổ Mã rẽ phải là con đường mới uốn lượn ven biển dẫn vào vịnh Văn Phong.
Văn Phong
Văn Phong nằm ở phía bắc trên địa phận hai huyện Vạn Ninh và Ninh Hoà. Cách thành phố Nha Trang 50km, cách thị xã Tuy Hoà 35km, chạy từ chân núi Mã Cảnh đến chân phía bắc núi Phước Hà. Được bao bọc bởi bán đảo Hòn Gốm dài hơn 30km, Văn Phong có địa hình rất phong phú, đặc biệt là hệ thống đảo, bán đảo, vịnh sâu kín gió, bờ và bãi biển, cồn cát hấp dẫn và là khu vực có hệ sinh thái đa dạng như rừng nhiệt đới, rừng ngập mặn, động thực vật biển nông ven bờ… hấp dẫn cho rất nhiều loại hình kinh tế.
Văn Phong – Đại Lãnh nằm ở trung tâm vùng Đông Nam Á, với khoảng cách gần như nhau tới thủ đô của các nước trong khu vực. Đây cũng là một ưu thế phát triển du lịch vì chỉ sau 2 giờ bay du khách có thể tới được điểm nghỉ ngơi tuyệt vời với những cảnh quan và môi trường lý tưởng.
Đến Văn Phong không thể không đến bãi Xuân Đừng. Xuân Đừng độc đáo không chỉ vì làng trên bãi chỉ có 11 hộ dân sống gần như tách biệt với thế giới bên ngoài, mà còn vì sát với làn nước biển mặn là một nguồn nước ngọt ngầm trong bờ cát
Tiếp tục đi trên quốc lộ 1A, trước khi bước tới đèo Cả chúng ta sẽ qua biển Đại Lãnh
Biển Đại Lãnh
Địa danh Đại Lãnh nằm kề ranh giới giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, cách thành phố Nha Trang khoảng 80 km và cách thị xã Tuy Hòa khoảng 30 km.
Từ thị xã Tuy Hòa đi vào, vượt qua đèo Cả, một con đèo lớn là địa giới của hai tỉnh Khánh Hòa và Phú Yên với 12 km đường đèo quanh co, du khách sẽ thấy hiện ra ngay dưới chân mình một bãi biển khá rộng, dài với nước biển xanh biếc, lấp lánh ánh mặt trời, thuyền bè tấp nập qua lại.
Bãi tắm Đại Lãnh được cấu tạo thuần khiết bởi một thứ cát trắng mịn, nước biển trong xanh nhìn rõ tận đáy, lại có độ thoải lớn, có thể bơi lội xa bờ. Kế đó lại có ngay một nguồn nước ngọt chảy ra, hòa vào biển cả, quanh năm không cạn. Từ Đại Lãnh, du khách có thể đi thuyền máy thăm làng chài ở Khải Lương, Đầm Môn là dải đất liền phía cực đông của Việt Nam, hay cảng Vũng Rô kề ngay phía bắc, một địa danh nổi tiếng đã từng là bến cảng bí mật của những “con tàu không số” chở vũ khí, đạn dược từ miền Bắc vào miền Nam, tiếp viện cho chiến trường khu 5 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Phong cảnh Đại Lãnh từ xưa đã được liệt vào hàng những danh thắng của đất nước. Năm 1836, vua Minh Mạng cho thợ chạm hình phong cảnh Đại Lãnh vào một trong chín chiếc đỉnh đồng (Cửu Đỉnh) lớn trang trí trước sân Thế Miếu – Huế. Năm 1853, dưới triều vua Tự Đức, Đại Lãnh có tên trong từ điển quốc gia do triều đình biên soạn.
Bây giờ chúng ta sẽ đi qua đèo cả để đến với tỉnh Phú Yên
Đèo Cả
Với chiều dài chừng 10 kilomet, nhiều đoạn bám lượn quanh co trên vách biển Vũng Rô, Đèo Cả không hùng vĩ như Đèo Hải Vân. Tuy nhiên, những gì mà thiên thiên và lịch sử phô bày ở quần sơn Đèo Cả khiến có thể coi đây là “Đệ nhất hùng sơn” trên con đường thiên lý Bắc Nam.
Vùng núi Đèo Cả – tên chữ là Đại Lãnh – là ranh giới tự nhiên giữa hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa. Đây là một khối đá hoa cương khổng lồ có diện tích chừng 20 ngàn hecta, tạo ra một quần sơn với nhiều đỉnh cao từ 570 đến 2051m, riêng đỉnh Đèo Cả cao 407m.
Thực ra tên Đèo Cả mới có từ thời Pháp thuộc, khi quốc lộ 1A được mở. Trước đó, đường thiên lý Bắc Nam là một tuyến đường núi nhỏ hẹp, hiểm trở, khó đi, nằm về phía tây đường Đèo Cả bây giờ, được gọi là đường Gia Long. Khối núi Đại Lãnh hiểm trở đã góp phần làm dừng bước chân nam tiến của Vua Lê Thánh Tông năm 1471. Nhà vua phải lập một tiểu vương quốc ở vùng đất Phú Yên bây giờ gọi tên là nước Hoa Anh, làm vùng đệm giữa Đại Việt và Chiêm Thành để tránh đụng độ quân sự trực tiếp giữa hai nước
Qua khỏi đèo Cả là chúng ta đến với tỉnh Phú Yên.
Phú Yên
Phú Yên là một Tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ. Bắc giáp tỉnh Bình Định, Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, Tây giáp tỉnh Đắc Lắc và Gia Lai, Đông giáp Biển Đông; cách Hà Nội 1.160 km và Tp. Hồ Chí Minh 561 km. Tỉnh Phú Yên rất thuận tiện trong giao thông: có Quốc lộ 1A đi ngang qua, đường tỉnh lộ 645 và Quốc lộ 25 nối với các tỉnh Tây Nguyên; đường sắt Bắc-Nam và Sân bay Tuy Hòa… thuận lợi để phát triển du lịch biển và sinh thái rừng.
Diện tích tự nhiên: 5.045 km2
Dân số: 836.672 người
Có các tuyến QL 1A, QL 25, ĐT-645, đường Quốc lộ 1D (nối Sông Cầu với TP.Qui Nhơn), đường từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng Vũng Rô. Hệ thống đường liên thôn, liên xã thông suốt thuận lợi trong việc đi lại. Bên cạnh đó có hệ thống đường sắt Bắc-Nam; đường hàng không (Sân bay Tuy Hòa – hoạt động từ tháng 4/2003), Cảng Vũng Rô đã đưa vào khai thác phục vụ cho sự nghiệp phát triển của Tỉnh;
Tỉnh có các hệ thống Sông Ba, sông Bàn Thạch, sông Kỳ Lộ, Sông Cầu…
Chúng ta sẽ đi qua núi Đá Bia, núi này nằm ngay trên đèo Cả.
Núi Đá Bia
Núi Đá Bia nằm trên dãy đèo Cả, phía nam huyện Tuy Hòa. Núi cao 706m, phía đông liền với hòn Bà sát biển, chân núi phía tây là quốc lộ 1A, phía bắc liền với núi Đông Sơn, chân núi phía nam giáp Vũng Rô.
Sườn núi Đá Bia rất dốc với nhiều tảng đá chồng chất lên nhau, cây cối um tùm, đường lên đỉnh khá vất vả. Trên đó một khối đá cao lớn gọi là Đá Bia. Tùy mỗi góc nhìn có thể thấy Đá Bia với những dáng vóc khác nhau. Tại đỉnh núi có độ dốc cao, thấy Đá Bia giống như con sư tử nằm xuôi theo sườn. Ở ngã ba Hảo Sơn – Đập Hàn nhìn lên, Đá Bia hao hao như tháp Nhạn. Từ Bãi Xép – Bãi Bàng (xã Hòa Tâm) trông vào, Đá Bia giống như người ngồi. Tại trường Hòa Tâm nhìn Đá Bia giống như một ông Phật đứng, cũng có thể nói là nhà sư đang xuống núi.
Từ trên đèo Cả các bạn sẽ ngắm được toàn cảnh Vũng Rô. Từ trên cao nhìn xuống thì thật là đẹp.
Vũng Rô
Đã đến được Đại Lãnh mà không lên đèo Cả để nhìn toàn cảnh Vũng Rô và núi Đá Bia – Thạch Bi Sơn thì thật uổng công! Là một nhánh của dãy Trường Sơn, núi Đá Bia nhô hẳn ra biển Đông, kéo dài, tạo thành một bán đảo che chắn gió cho Vũng Rô. Bởi vậy, cảng Vũng Rô tuy rất sâu – nơi sâu nhất có thể tới 15, 16m – mà vẫn quanh năm sóng yên biển lặng. Trước năm 1975, đây từng là cảng quân sự, tiếp tế hậu cần cho hàng loạt căn cứ quân sự kéo dài tới 20km.
Không phải ngẫu nhiên mà Tổ chức Du lịch thế giới đã đánh giá Đại Lãnh, Vũng Rô (nằm trong cụm du lịch liên hoàn Văn Phong – Đại Lãnh – Vũng Rô) là một trong những thắng cảnh nghỉ ngơi đẹp nhất khu vực châu Á và Viễn Đông, vượt xa biển Phuket (Thái Lan) và có thể so sánh với những thắng cảnh tuyệt vời khác trên thế giới.
Tiếp tục chạy trên quốc lộ 1A chúng ta sẽ đến với thành phố Tuy Hòa.
Thành Phố Tuy Hòa
Thành phố Tuy Hòa nằm ở phía Đông tỉnh, phía Bắc giáp huyện Tuy An, phía Nam giáp huyện Tuy Hòa, phía Tây giáp huyện Phú Hòa, phía Đông giáp với biển Đông với chiều dài bờ biển trên 10 km. Thành phố Tuy Hòa là nơi tập trung các cơ quan đầu não của Tỉnh và rất nhiều các cơ sở công nghiệp, thương mại và dịch vụ, là đầu mối giao thông đường bộ, đường sắt và nơi tập trung dân cư đông nhất tỉnh Phú Yên
Diện tích: 65 km2
Dân số: 100.250 người – Mật độ: 1542 người/ km
Các danh lam thắng cảnh: Tháp Nhạn, Sông Ba – Cầu Đà Rằng.
Khu du lịch Gió Chiều, Các chùa Hồ Sơn, Hòa Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Tịnh, Bảo Lâm, Kim Cang, Khu du lịch Đá Bàn,Núi Chóp Chài (Nựu Sơn), Bãi biển thị xã.
Bây giờ xe của chúng ta sẽ đi qua cầu Đà Rằng, chiếc cầu bắc qua con sông Ba huyền thoại.
Cầu Đà Rằng
Nửa đầu thế kỷ XX, một cây cầu bê tông cốt sắt được bắc qua sông Đà Rằng (Phú Yên). Cầu 21 nhịp, dài 1101m. Thời kỳ ấy số lượng xe ô tô còn ít, nên lòng cầu hẹp chỉ vừa đủ cho một xe ô tô qua lại. Cứ mỗi một quãng ba nhịp lại có một nhịp làm rộng ra hai bên để xe ngược chiều tránh nhau. Xe cộ mỗi ngày một nhiều, giao thông thường bị tắc nghẽn. Chính quyền lúc bấy giờ cho thiết lập lại cây cầu với lối kiến trúc qui mô hơn, lòng cầu rộng đủ cho ô tô chạy ngược chiều thong thả, hai bên lề cầu có chắn song và có lối đi riêng cho khách bộ hành.
Cầu Đà Rằng nối liền thị xã Tuy Hòa và thị trấn Phú Lâm (cũ), là hai nơi dân cư đông đúc. Những đêm mát trời trăng tỏ, cầu là nơi dạo mát, trò chuyện vui đùa, yêu đương tình tự.
Sông Ba
Sông Ba còn có tên khác là Ea Ba, Krông Pa ở thượng lưu, và sông Đà Rằng (đoạn từ Đồng Cam huyện Phú Hòa tới cửa biển) ở hạ lưu. Toàn tuyến sông dài 360km, phát nguyên từ dãy núi Ngọc Rô (cao 1.500 mét) trên cao nguyên Kon Tum, chảy qua các tỉnh Kon Tum, Gia Lai rồi vào địa phận Phú Yên qua các huyện Sơn Hòa, Phú Hòa, Tây Hòa, Đông Hòa đổ ra biển qua cửa Đà Diễn tại thành phố Tuy Hòa.
Diện tích lưu vực ở thượng nguồn 13.220km2. Riêng địa phận Phú Yên, lưu vực chỉ có 2.420km2 và dài 90km. Sông Ba khi chảy đến Cheo Reo (Phú Bổn) nhận thêm nước của phụ lưu Ayun Pa; đến giữa địa giới Phú Yên-Gia Lai, nhận thêm nước của sông Krông Năng (dài 130km); đến địa phận huyện Sơn Hòa nhận nước của sông Hinh (dài 85km, phát nguyên từ núi Chư Mu, Dak Lak) và sông Cà Lúi, sông Thá.
Phù sa sông Ba tạo nên cánh đồng phì nhiêu với diện tích trên 20.000ha. Chẳng những thế trên sông Ba còn có hai công trình thủy điện quan trọng là Ayun Pa và thủy điện sông Ba Hạ.
Cách quốc lộ không xa là sân bay Đông Tác
Sân Bay Đông Tác
Sân Bay Đông Tác là một sân bay tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Hiện nay các chuyến bay này đều sử dụng loại máy bay tầm thấp do ATR (Âu Châu) sản xuất là ATR 72, với động cơ cánh quạt và có sức chứa 60 chỗ ngồi. Trước năm 1975, đây là căn cứ không quân quan trọng của Không lực Hoa Kỳ. Sân bay có 3 đường cất hạ cánh (2835 m, 844 m và 2900 m).
Theo quy hoạch phát triển của Cục Cảng hàng không dân dụng Việt Nam, đến năm 2015 sân bay Tuy Hòa sẽ trở thành một sân bay quan trọng, có thể đón được các loại máy bay tầm trung của Boeing hay Airbus A320.
Qua khỏi cây cầu Đà Rằng không xa, ngay bên đường là ngôi tháp Nhạn.
Tháp Nhạn

Tháp Nhạn
Tháp Nhạn được xây dựng uy nghi trên một khu đất tương đối bằng phẳng gần đỉnh núi Nhạn, bên bờ bắc sông Đà Rằng, gần quốc lộ 1, thị xã Tuy Hoà. Là nơi thờ phụng thần linh của người Chăm cổ từ thế kỷ thứ 2 trở về trước.
Tháp có hình tứ giác với 4 tầng, càng lên cao càng thu nhỏ lại so với tầng dưới, nhưng vẫn theo phong cách tầng dưới. Tháp cao gần 20 m, mỗi cạnh chân tháp dài 11 m. Trên mặt tường tháp không có hoa văn trang trí. Vòm cửa giữa hình cung nhọn có hình đầu quái vật trên đỉnh. Đây là một chóp tháp được kết hợp hài hòa giữa hai hình tượng chóp nón cùng với hình tượng Linga, một vật mà người Chăm thường thờ ở các tháp, nên chóp tháp ở đây tạc theo hình tượng Linga nhưng chưa có dạng hoàn chỉnh như những Linga ở Ponagar hoặc Đà Nẵng và Quảng Nam.
Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, chúng nã pháo làm cho đỉnh tháp và 3 góc tháp bị đổ về phía cửa tháp ở hướng đông. Do bị hư hại nhiều trong chiến tranh, vào cuối năm 1960 dưới chính quyền cũ, tỉnh Phú Yên cho tu bổ tháp, hàn gắn những chỗ bị nứt bên trong và ngoài tháp. Người ta dùng xi măng xây kín cả chân tháp.
Hiện nay trong tháp Nhạn không có bộ thờ và các tượng thờ. Phía sau tháp có một phiến đá lớn cao 1,30 m, mỗi cạnh rộng 0,90 m, dưới chân có chạm hình cánh sen. Dưới chân núi Nhạn về phía tây nam, ven bờ sông có một tảng đá khá bằng phẳng trên khắc 3 chữ cổ (dạng chữ Phạn) ta thường gặp ở các tấm bia trụ cột trong các tháp Chàm như ở Ponagar. Tảng đá cao 5m, rộng 5 m. Chữ khắc ở khoảng 1/3 tảng đá. Có lẽ đây là thư tịch duy nhất ở khu vực tháp còn lưu lại. Tháp Nhạn tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc của người Chăm ở vùng đất Phú Yên
Cách tháp Nhạn không xa, nhìn về bên trái xa xa là núi Chóp Chài.
Núi Chóp Chài
Nằm ở phía tây Quốc lộ 1A, cách trung tâm thị xã Tuy Hoà 4 km về phía Bắc thuộc xã Bình Kiến, Chóp Chài còn có tên là Nựu Sơn. Chóp Chài cao 391 m.
Chóp Chài có những dấu tích huyền thoại như Trai Thuỷ tục danh là Hang Dơi, hang này rộng khoảng 5m, chiều sâu hun hút. Trong hang có những tảng đá phẳng lì.
Đông, tây, nam, bắc đều có chùa: Hoà Sơn, Minh Sơn, Khánh Sơn, Bảo Lâm được xây dựng trên lưng sườn núi, nhìn xuống có “Liên trì dục nguyệt” (Trăng tắm ao sen) rộng khoảng 1,2 ha.
Nựu Sơn nằm giữa vùng thiên nhiên tuyệt đẹp, gắn với những giá trị nhân văn, đã đi vào lịch sử ký ức của nhân dân trong vùng, nơi đây sẽ là một điểm du lịch văn hoá, tham quan, ngắm cảnh lý tưởng.
Và tiếp theo chúng ta sẽ đi qua đèo Quan Cau.
Đèo Quán Cau
Ngày xưa, nơi chân đèo Quán Cau có một bà già không rõ nguồn gốc. Bà cất quán bán trầu cau, khách bộ hành qua đèo khá dài nên dừng chân giải khát, mua trầu cau ăn nghỉ rồi tiếp tục hành trình. Người đi ra Bắc đến chân đèo thì chờ người bạn đường, cũng mua trầu cau ăn rồi tiếp tục trèo đèo. Vì thế có tên đèo Quán cau.
Đứng trên đèo Quán Cau nhìn khu vực núi non chung quanh, ta có cảm tưởng như dáng con hạc xoè đôi cách chúc đầu xuống uống nước đầm Ô Loan và ngôi chùa sắc tứ Vĩnh Long nằm trên lưng con hạc ấy.
Đi hết con đèo đi qua Dốc Găng, nhìn bên phải là vùng đầm Ô Loan rộng lớn.
Đầm Ô Loan
Đầm Ô Loan nằm sát quốc lộ 1A, dưới chân đèo Quán Cau, cách thị xã Tuy Hòa khoảng 25km về phía Bắc. Đây là đầm nước lợ, có diện tích tự nhiên khoảng 1.570ha, tiếp giáp các xã An Cư, An Hòa, An Hải, An Hiệp và An Ninh Đông của huyện Tuy An. Đầm được bao bọc bởi núi Đồng Cháy núi Cẩm và cồn cát An Hải với một lạch nước thông ra biển về phía bắc. Giữa đầm có hai tảng đá lớn chồng lên nhau gọi là hòn Chồng.Giữa đầm có hai tảng đá lớn chồng lên nhau gọi là hòn Chồng. Đứng trên đèo Quán Cau nhìn xuống, đầm Ô Loan giống như con phượng hoàng đang sải cánh.
Du khách đến đây để tham quan, cảm nhận vẻ đẹp huyền ảo của thiên nhiên và thưởng thức nhiều lọai đặc sản như: Sò huyết, cua, tôm, sứa, điệp, hàu, rau câu…Đặc biệt, sò huyết ở đầm Ô Loan ngon nổi tiếng:
Hằng năm, vào ngày mồng Bảy tháng Giêng âm lịch, lễ hội đua thuyền truyền thống đầm Ô Loan được tổ chức, thể hiện nét đẹp văn hóa dân gian truyền thống của Phú Yên. Lễ hội đã thu hút hàng ngàn người từ khắp nơi đến tham dự nhân dịp xuân về.
Đầm Ô Loan đã được Bộ Văn hóa Thông tin quyết định công nhận là Di tích thắng
Đi thêm một đoạn nữa chúng ta sẽ đến thị trấn Sông Cầu.
Thị trấn Sông Cầu
Diện tích : 15.45 km2
Dân số : 19.800 người.
Phía bắc giáp Xã Xuân Phương, tây giáp Xã Xuân Lâm , nam giáp Xã Xuân Thọ I , đông giáp biển.
Nơi đây có vịnh Xuân Đài nổi tiếng với những thắng cảnh tuyệt đẹp.
Ngay đầu của thị trấn chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng một cảnh đẹp dưới bàn tay của tạo hóa đó là Ghành Đá Dĩa
Ghềnh Đá Dĩa
Ghềnh Đá Dĩa là một thắng cảnh nổi tiếng của tỉnh Phú Yên. Bãi đá ven biển có hình dạng như hàng ngàn chiếc dĩa xếp thành lớp.
Từ thị trấn Chí Thạnh đi về phía biển, tại xã An Ninh Đông, Tuy An, tỉnh Phú Yên có một ghềnh đá có cấu tạo kỳ lạ vừa được Bộ Văn hóa – thông tin xếp hạng là thắng cảnh quốc gia. Đây là một thắng cảnh kỳ thú hiếm thấy của thiên nhiên.
Nhìn từ xa, khu ghềnh Đá Đĩa rộng hơn 1km2 như một tổ ong khổng lồ. Đá ở đây đều tăm tắp được dựng thành từng cột liền khít nhau. Gồm nhiều tảng đá lớn có màu đen huyền hoặc màu vàng, nửa chìm nửa nổi lên trên biển, xếp đều đặn theo hình ngũ giác. Các cột đá có tiết diện hình lục giác hoặc hình vuông, hoặc có hình tròn như chiếc đĩa. Từ xa đứng nhìn, đá giáp liền liền với nhau, hòn nọ gắn với hòn kia đều đặn như một tổ ong. Lại gần, những đá có hình viên trụ chồng lên nhau như nhượng chồng chén, đĩa trong các lò sành sứ. Người ta gọi nơi đây là ghềnh Đá Đĩa.
Du khách đến đây có cảm giác như được chiêm ngưỡng một tác phẩm “trò chơi Lego”. Những viên đá hình tròn và đa giác xếp chồng, khít vào nhau trông thật lạ. Mỗi viên đá có độ cao chừng 60 – 80 cm. Có những chỗ đá xếp cao và thẳng. Có những chỗ đá lại xếp trải dài hoặc nghiêng nghiêng, trông như những chiếc đĩa đặt chồng lên nhau một cách cẩu thả.
Theo các nhà khoa học, đây là những khối đá bazan được hình thành trong quá trình núi lửa hoạt động cách đây hàng trăm triệu năm. Khi núi lửa phun, nham thạch trào ra từ miệng núi lửa bị đông cứng lại khi gặp nước lạnh, sau đó toàn bộ khối nham thạch này bị rạn nứt. Phần lớn đá nứt theo mạch dọc tạo thành những cột thẳng đứng hoặc xiên, nhưng cũng có một số cột đá bị những đường xiết cắt ngang, tạo thành những hình tròn, hình đa giác xếp chồng khít vào nhau như những chồng đĩa. Năm 1998, ghềnh Đá Đĩa đã được Bộ Văn hoá-Thông tin xếp hạng là thắng cảnh thiên nhiên.
Chỉ trừ mùa mưa và mùa biển động, còn quanh năm thắng cảnh ghềnh Đá Đĩa đều có thể rộng vòng tay đón khách bốn phương.
Và cũng bên tay phải của bạn là vịnh Xuân Đài.
Vịnh Xuân Đài
Vịnh Xuân Đài là một vịnh nhỏ nằm dưới chân dốc Găng thuộc địa phận các xã Xuân Thọ, Xuân Thịnh và thị trấn Sông Cầu của tỉnh Phú Yên.
Vịnh Xuân Đài có diện tích mặt nước 130,45 km², được tạo thành nhờ dãy núi Cổ Ngựa chạy dài ra biển độ 15 km tạo thành bán đảo Xuân Thịnh bao bọc lấy vịnh Xuân Đài và đầm Cù Mông trông giống hình đầu con kỳ lân. Khi đi đường bộ lên đến đỉnh dốc Găng nằm trên quốc lộ 1A, người ta có thể nhìn thấy quang cảnh của vịnh này với rừng dừa bao bọc khu vực bờ của vịnh và vòng cung núi bao bọc khu vực vịnh Xuân Đài. Tất cả tạo nên một bức tranh sơn thủy hài hòa và thơ mộng. Trong vịnh có nhiều vũng biển và bãi tắm dẹp như Vũng La, Vũng Sứ, Vũng Chào… và nhiều đảo, bán đảo như cù lao Ông Xá, hòn Nhất Tự Sơn, Mũi Đá Mài, mũi Tai Mã….
Trong thời kì mở đất, bản doanh của các tướng trấn thủ đất Phú Yên như Văn Phong, Nguyễn Phúc Vinh đều đóng ở đây. Bởi địa thế hiểm trở và lại là cửa khẩu mở ra biển nên nơi này là đầu mối giao lưu ra bên ngoài của Phú Yên, là tiền đồn ngăn chặn các cuộc quấy nhiễu của quân Chămpa.
Ngày nay, Xuân Đài là một trong những vịnh được các chuyên gia đánh giá là có tiềm năng du lịch lớn nhất nhì miền Trung với cảnh sắc hữu tình, có nhiều đảo, bãi tắm rất đẹp và hoang sơ. Nơi đây đang được quy hoạch đẻ phát triển các loại hình du lịch nghỉ dưỡng,du lịch thể thao nước, du lịch sinh thái biển.
Xuân Đài còn nổi tiếng vì có nhiều loại hải sản ngon, quý như ghẹ Sông Cầu, tôm hùm, cá mú…
Vịnh Xuân Đài có một vị trí chiến lược quan trọng về mặt quân sự, nên trong thế chiến thứ hai, Xuân Đài là một trong những địa điểm “nhân chứng” của cuộc chiến tàn khốc này. Toàn cảnh Xuân Đài rất nên thơ. Chẳng vì thế mà Tam Thai đã tức cảnh đề thơ vịnh phong cảnh Xuân Đài (vào năm 1948)
Tiếp theo chúng se đi qua cây cầu Bình Phú để đến với tỉnh bình Định.
Bình Ðịnh
Dân số l .46 l .0OO người ( 1999)
Diện tích tự nhiên 6.000km²
Phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phiá tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp biển Ðông với l 34km dọc bờ biển.
Bình Ðịnh là mảnh đất có bề dày lịch sử với nền văn hoá Sa Huỳnh , từng là cố đô của vương quốc Chămpa mà di sản còn lưu giữ là thành Ðồ Bàn và các tháp Chàm với nghệ thuật kiến trúc độc đáo; nơi xuất phát và là thủ phủ cuả phong trào nông dân thế kỷ l 8 với tên tuổi của người anh hùng Nguyễn Huệ- Quang Trung; là quê hương và nơi nuôi dưỡng tài năng các danh nhân Ðào Tấn, Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Yến Lan… Bình Ðịnh còn nổi tiếng bởi truyền thống thượng võ và có nền văn hoá đa dạng phong phú với các loại hình nghệ thuật tuồng, bài chòi…
Tại cầu Bình Phú có hai con đường, một là vẫn tiếp tục đi theo quốc lộ 1A và một là con đường mới để đi vào thành phố Quy Nhơn. Nếu chạy theo đường mới, đi khoảng 35 km chúng ta sẽ tới thành phố Quy Nhơn. Đi trên con đường dọc theo biển và đi lên một ngọn đồi là sẽ tới trại phong Quy Hòa. Và ngay bên đường về phía phải của con đường mới là Ghềnh Ráng Tiên Sa.
Ghềnh Ráng Tiên Sa
Nằm dưới chân núi Xuân Vân, Ghềnh Ráng là sự hợp thành của những bãi đá nối tiếp nhau, uốn lượn theo đường cong của eo núi. Sự xâm thực của thiên nhiên, sự mài mòn của sóng biển đã phô bày những khối đá khổng lồ nằm chồng chất lên nhau, tạo ra những hang hốc, hình thù cổ quái, sinh động. Hòn Chồng ở Ghềnh Ráng là một tác phẩm nghệ thuật thiên nhiên đặc sắc bởi chỉ gá vào nhau một cách chỏng chơ, tưởng chỉ một cơn gió thoảng đã ngã đổ, vậy mà cứ đứng sừng sững cùng phong ba, tuế nguyệt. Riêng bãi Đá Trứng với những viên đá tròn nhẵn như một sự xếp đặt lạ kỳ của thiên nhiên…
Sau khi chạy thêm khoảng 35 km thì sẽ tới thành phố Quy Nhơn.
Quy Nhơn
Quy Nhơn, còn viết là Qui Nhơn, là thành phố của tỉnh Bình Định. Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía đông nam của tỉnh Bình Định, phía đông là biển Đông, phía tây giáp huyện Tuy Phước, phía bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía nam giáp huyện Sông Cầu của tỉnh Phú Yên.
Cách Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 690 km về phía Nam và cách thành phố Pleiku (Tây Nguyên) 176 km.
Diện tích là 215 km², dân số khoảng 320.000 người
Quy Nhơn được hình thành từ rất sớm thuộc vùng đất đàng trong xứ Thuận Quảng: cách đây trên 400 năm đã xuất hiện phủ Quy Nhơn. Mảnh đất này đã có lịch sử hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa từ thế kỷ 11, dưới triều đại nhà Tây Sơn và cảng Thị Nại từ đầu thế kỷ 18.
Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập thị xã Quy Nhơn
Tiếp tục đi trên con đường mới này chúng ta sẽ đi dọc theo bãi biển của Quy Nhơn. Một bãi biển cũng khá đẹp. Sau đó nhìn về bên phải là bán đảo Phương Mai.
Bán Đảo Phương Mai
Bán đảo Phương Mai nằm ở phía Đông đầm Thị Nại là hệ thống núi đá xen kẽ những đồi cát chạy dài ra biển, tạo thành bức bình phong che chắn thành phố.
Độc đáo là gần đấy có một hang động sâu thăm thẳm luồn trong bán đảo, mà theo người dân nơi đây, từ trước đến giờ chưa có ai đủ can đảm khám phá hết hang. Điều thú vị nữa là ngay cửa hang là bãi đá cuội xinh xắn giống như vùng biển Cổ Thạch (Tuy Phong, Bình Thuận), du khách đến đây thường không quên nhặt vài viên về làm kỷ niệm.
Còn nếu tại cầu Bình Phú, không đi theo con đường mới cứ đi theo quốc lộ 1A qua đèo Cù Mông chúng ta cũng sẽ đến thành phố Quy Nhơn.
Đèo Cù Mông
Đèo Cù Mông nằm trên Quốc lộ 1A, là một trong những đèo núi hiểm trở nhất Việt Nam, đèo là ranh giới của 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên. Đèo dài 6 km, từ km 1.243 đến km 1.249, độ cao của đỉnh đèo là 245 m, độ dốc 9%. Đường dốc, có nhiều cua gấp, hai bên là núi cao, dễ gây ra tai nạn gia thông. Về địa lý, đèo là tuyến đường bộ đi qua một trong những nhánh đâm ra biển của dãy Trường Sơn Nam. Trước đây khi chưa có tuyến đường Quy Nhơn-Sông Cầu thì đèo là con đường chính để qua lại giữa Bình Định và Phú Yên.
Qua khỏi đèo Cù Mông, chúng ta sẽ đi qua ngã 3 Phú Tài và ga Diêu Trì đến ngã 3 Bà Di có quốc lộ 19 đi Pleiku. Trên đoạn đường này các bạn sẽ được thấy Hầm Hô và bảo tàng Tay Sơn.
Hầm Hô
Cách thị trấn Phú Phong (huyện Tây Sơn, Bình Định) chừng 7km về hướng tây nam, Hầm Hô là một dải liên hoàn bậc thang gồm suối, thác, hồ, sông, lạch trải dài hơn 2km. Toàn cảnh non xanh nước biếc Hầm Hô hiện ra còn nguyên nét hoang sơ kỳ ảo, mờ trong sương núi đôi bờ hạ lưu sông Kút – đứa con sinh đôi của dòng sông Kôn – một thời binh đao, xào xạc dâu xanh và cát trắng. Hầm Hô trở thành huyền thoại từ chính cái tên của mình.
Hầm Hô – một trong những căn cứ địa của nghĩa binh Tây Sơn, nơi đã gắn liền với tên tuổi người anh hùng áo vải cờ đào Quang Trung Nguyễn Huệ lãnh tụ kiệt xuất của phong trào nông dân cuối thế kỷ 18.
Từ ngã 3 Bà Di đi thẳng, bên trái là thành cổ Đồ Bàn.
Thành Cổ Đồ Bàn
Thành cổ Đồ Bàn nằm ở phía bắc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, tọa lạc trên đất các thôn Nam Tân, Bắc Thuận và Bá Canh của xã Nhơn Hậu và cách thành phố Quy Nhơn 27 km về hướng bắc.
Đồ Bàn là kinh đô của vương quốc Chămpa, vốn tên là Vijaya, được xây dựng từ năm 1000. Trong các sử liệu thường phiên âm là Đồ bàn, Xà Bàn, Trà Bàn hay Chà Bàn.
Thành do Chiêm vương Ngô Nhật Hoan đứng ra xây dựng, kiến trúc thật kiên cố. Bên trong có dựng tháp Bảo chướng, bên ngoài có dãy đồi Kim Sơn án ngữ mặt tây, có núi Long Cốt làm tiền án và gò Thập Tháp yểm hậu. Thành vị phế bỏ kể từ năm 1471 sau khi vua Lê Thánh Tông mang đại binh vào đánh chiếm kinh đô Đồ Bàn và cả châu Vijaya, sau khi đổi thành phủ Hoài Nhơn trực thuộc Quảng Nam thừa tuyên.
Năm 1776, Nguyễn Nhạc cho xây dựng lại và mở rộng thêm thành Đồ bàn làm sở chỉ huy của nghĩa quân. Sách “Lê Quý Dật sử” có chép: “Nhân đất cũ của Chiêm Thành, Nguyễn Nhạc cho sửa dắp lại thành Đồ Bàn, đào lấy đá ong xây thành lũy, mở cung điện”. Đến năm 1778, thành Đồ Bàn được đổi tên là thành Hoàng đế và giữ vai trò Đại bản doanh của Bộ chỉ huy quân đội Tây Sơn cho đến năm 1786.
Từ năm 1786 đến năm 1793, thành Hoàng đế là kinh đô của chính quyền trung ương hoàng đế Nguyễn Nhạc. Đứng về phương diện lịch sử, thành Hoàng đế chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, nhưng đó lại là một kiến trúc quân sự quan trọng gắn liền với quá trình phát triển thắng lợi của phong trào Tây Sơn trong giai đoạn đầu.
Căn cứ vào những di tích còn lại, thành Hoàng đế gồm ba vòng thành: thành nội, thành ngoại và tử cấm thành.
Theo “Đồ Bàn Thành ký” của Nguyễn Văn Hiển thì thành Hoàng đế được xây dựng trên nền đất cũ của thành Đồ bàn và chỉ mở rộng về phía đông, kéo dài chu vi đến 15 dặm.
Ở trong khu cổ thành, những kiến trúc còn lại hầu hết đều thuộc đời nhà Nguyễn Gia Long. Đó là lăng mộ và đền Song Trung thờ Võ Tánh và Ngô Tùng Châu. Đền chỉ thu hẹp thành một tiểu đình mỗi cạnh 2m20, là di tích lầu Bát Giác nơi Võ Tánh tự thiêu mình.
Trong Tử Cấm Thành hiện còn giữ 5 con nghê đá và hai con voi đá, là những di vât quý báu của nghệ thuật Chămpa còn sót lại.
Hiện nay, thành cổ Đồ bàn, còn gọi là thành Hoàng Đế hay là thành Bình Định đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia cần được bảo tồn và trở thành nơi tham quan du lịch và nghiên cứu đầy hấp dẫn của Bình Định.
Ngay gần với Thành Cổ là Tháp Cánh Tiên.
Tháp Cánh Tiên
Tháp Cánh Tiên nằm giữa thành Ðồ Bàn, thuộc làng Nam An, xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, cách thành phố Qui Nhơn 27km về hướng tây bắc.
Tháp xây trên một đỉnh đồi cao chừng vài chục thước, thờ bà Nữ Thần Y A Na.
Tháp Cánh Tiên có bề mặt vuông, nhiều tầng xây bằng gạch, cao gần 20m, trông xa giống như đôi cánh của nàng tiên đang bay lên trời.
Đây là một trong những ngôi tháp điển hình cho phong cách kiến trúc Bình Định. Kết cấu gồm tiền sảnh và điện thờ (tiền sảnh bị đổ sụp). Phía ngoài thân tháp, các mặt tường được trang trí những cột ốp và các khung dọc nhô ra. Khác với các tháp chàm khác, tháp Cánh Tiên được xây dựng một phần bằng sa thạch ở nửa phía ngoài các cột ốp tường và các góc diềm mái. Tại bốn góc ở mỗi tầng của tháp có các chi tiết bằng đá hình đuôi phượng nhô ra.
Đi thêm một đoạn nữa, nhìn bên tay phải là chùa Thập Tháp.
Chùa Thập Tháp Di Đà
Chùa nguyên do Thiền sư Nguyên Thiều sáng lập vào năm 1683, tính đến nay đã hơn 300 năm tuổi. Năm 1691, chùa được vua Lê Hiển Tông ban biển ngạch đề “Thập Tháp Di Đà tự” và mang tên đó cho tới bây giờ.
Ngôi chùa cổ kính này cách trung tâm TP Quy Nhơn khoảng 28km về phía bắc. Chùa nằm trên ngọn đồi mang tên Long Bích, thuộc thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Mặt trước chùa là hồ sen rộng 500m2 được xây bằng đá ong, quanh năm sen nở thơm ngát một vùng, bao bọc sau lưng và phía bắc chùa là sông Côn và sông Bàn Khê.
Trong tất cả các chùa chiền ở miền Trung được xây dựng vào thời Lê – Nguyễn thì chùa Thập Tháp ở Bình Định là ngôi chùa cổ nhất thuộc phái Lâm Tế. Qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo, dù cái cũ và cái mới đan xen nhưng chùa vẫn giữ được tổng thể hài hòa, trang nghiêm. Năm 1990, chùa Thập Tháp Di Đà được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích văn hóa – lịch sử cấp quốc gia.
Đến Quy Nhơn, có 1 thứ nổi tiếng khắp cả nước đó chính là rượu Bầu Đá, loại rượu này dược làm tại một xóm cũng mang tên xóm Bầu Đá.
Bàu đá
Bàu đá thuộc xã Cù Lâm – huyện An Nhơn – tỉnh Bình Định. Xóm Bàu đá nằm cạnh một nơi xưa kia là Bàu đá, là một ao nước nhỏ ở giữa có hòn đá lớn nên được gọi là Bàu đá. Theo thời gian, đất cát trôi xuống và do cả con người nữa nên ngày nay đã thành một ruộng lúa xanh tốt, ngay cả hòn đá cũng đi đâu mất không ai biết.
Rượu Bàu Đá
Rượu Bàu Đá còn gọi rượu Bầu Đá là tên một loại rượu đế, đặc sản nổi tiếng của tỉnh Bình Định. Rượu có nồng độ rất cao, hơn 50 độ. .
Tên gọi của rượu là do được nấu chủ yếu từ làng Bàu Đá xã Nhơn Lộc, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, Việt Nam.
Muốn có rượu ngon, người nấu phải tuân thủ các yêu cầu nghiêm ngặt về nguồn nước, gạo, men, dụng cụ nấu. cộng với kinh nghiệm gia truyền.
Rượu Bàu Đá được chưng cất tại làng Bàu Đá, khác với các loại rượu khác trên thị trường vì sự kết hợp giữa gạo lên men và nước thiên nhiên tiệt trùng lấy từ các nguồn suối ngầm dưới lòng đất tại làng này.
Theo những người sành rượu, rượu Bàu Đá có những nét riêng ít loại rượu nào có được. Đưa rượu lên rót nghe thánh thót trong veo, hơi rượu thơm nồng, nước rượu trong như pha lê. Rượu rót ra chén sủi bọt sủi tăm, uống vào không có cảm giác gắt, hay nóng cháy cổ khiến người ta giật mình, e ngại.
Đi qua xóm Bầu Đá một đoạn, nhìn bên phía trái quốc lộ là sân bay Phù Cát ori62 chúng ta đi qua đèo Nhông tới thị trấn Tam Quan. Tiếp tục đi theo quốc lộ 1A qua thêm đèo Bình Đô chúng ta sẽ đến với tỉnh Quảng Ngãi.
Quảng Ngãi
Tổng diện tích: 513.520 ha
Dân số: 1.271.370 người (2004).
Phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông. Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía nam và cách Thành phố Hồ Chí Minh 838 km về phía bắc.
Quảng Ngãi nằm ở miền Nam Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng và biển cả chia làm các miền riêng biệt.
Tỉnh có các khu công nghiệp:
• Khu công nghiệp Quảng Phú (Thành phố Quảng Ngãi)
• Khu công nghiệp Tịnh Phong (huyện Sơn Tịnh)
• Khu công nghiệp Phổ Phong (huyện Đức Phổ)
• Khu kinh tế Dung Quất (tiền thân là khu công nghiệp Dung Quất, huyện Bình Sơn) trong đó quan trọng nhất là Nhà máy lọc dầu Dung Quất
Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về Văn hóa Sa Huỳnh và nói đến Văn hóa Chăm Pa không thể không kể đến hệ thống thành lũy Chàm. Nói đến Quảng Ngãi người ta thường nghĩ ngay đến “núi Ấn sông Trà”, khu kinh tế số 1 Việt Nam Dung Quất với thành phố Vạn Tường tương lai. Quảng Ngãi là quê hương của Trương Định, Lê Trung Đình; nơi chôn nhau cắt rốn của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, của nguyên Chủ tịch Trần Đức Lương, cố Trưởng ban kiểm tra Trung ương Đảng Trần Kiên, Quyền Trưởng ban Kinh tế Trung ương Võ Đức Huy…; quê hương của những tướng Nguyễn Chánh, Phạm Kiệt, Trần Nam Trung, Trần Văn Trà, Nguyễn Đôn,…; nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ, nghệ sỹ tên tuổi: Bích Khê, Tế Hanh, NSND Trà Giang, Trương Quang Lục, Thế Bảo, Nhất Sinh…
Ở đây có các Lễ hội:
• Lễ hội nghinh cá Ông
• Lễ hội đâm trâu
• Lễ hội cầu ngư
• Lễ hội đua thuyền truyền thống.
Tới Quảng Ngãi, chúng ta sẽ đi qua huyện Đức Phổ.
Đức Phổ
Đức Phổ là huyện nằm về phía đông nam tỉnh Quảng Ngãi. Đức Phổ có diện tích là 381,86 km2 và dân số là 150.166 người. Huyện có 14 xã và thị trấn. Địa hình của huyện khá phức tạp do dãy Trường Sơn đâm ra sát biển. Phía bắc giáp huyện Mộ Đức, nam giáp huyện Tam Quan, tỉnh Bình Định, tây giáp huyện Ba Tơ và phía đông giáp biển Đông.
Đức Phổ có nhiều cụm công nghiệp, làng nghề, như làng muối Sa Huỳnh (đặc sản Quảng Ngãi) và khu công nghiệp Phổ Phong đang kêu gọi đầu tư.
Về đường bộ, huyện có quốc lộ 1A, cùng với tuyến đường ven biển Dung Quất-Sa Huỳnh đã được quyết định xây dựng bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ Việt Nam. Về đường biển, huyện có cảng Sa Huỳnh. Đường sắt thống nhất cũng chạy qua huyện.
Huyện Đức Phổ là nơi công tác, chiến đấu của Bác sĩ, liệt sĩ Đặng Thùy Trâm.
Huyện có thắng cảnh đẹp như bãi biển Sa Huỳnh. Đây cũng là nơi các dấu tích (như mộ chum, đồ tùy táng, gò Ma Vương) của nền văn hóa Sa Huỳnh ( Thông tin về Văn hóa Sa Huỳnh ) (cách đây khoảng 2000 đến 3000 năm) được tìm thấy. Phía đông nam Sa Huỳnh có đảo khỉ với đàn khỉ gần 500 con. Ở Sa Huỳnh cũng có bia đá khắc chữ Phạn ( Làng Thạch Bi ). Nơi đây đang được tỉnh Quảng Ngãi quy hoạch chi tiết và xây dựng thành khu du lịch Sa Huỳnh.
Tại Đức Phổ chúng ta sẽ đi ngang qua biển Sa Huỳnh.
Bãi Biển Sa Huỳnh
Nằm dọc theo Quốc lộ 1A, bãi biển Sa Huỳnh thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, từ lâu được biết đến như một điểm du lịch khá lý tưởng cho du khách trong và ngoài nước.
Vẻ đẹp quyến rũ của bãi biển Sa Huỳnh là bờ cát trắng mịn trải dài hàng cây số, trông xa giống như áng tóc xõa của người con gái đang tuổi xuân thì. Biển Sa Huỳnh nổi tiếng bởi làn nước trong xanh, lắm tôm, nhiều cá, những rặng san hô tuyệt đẹp cùng những đảo nhỏ với thiên hình vạn trạng khác nhau tạo nên một bức tranh sơn thủy hữu tình. Người dân địa phương dựa vào hình thể của từng hòn đảo nhỏ mà đặt tên: hòn Bẹp, hòn Dù, hòn Khu Ông, hòn Son…
Đến với Sa Huỳnh, du khách sẽ không chỉ được tận mục sở thị những lễ hội văn hóa dân gian của ngư dân nơi đây như: hát bả trạo, hát Bài chòi, lễ cầu an trước khi ra khơi bắt cá…, mà còn được tận tay sờ những tấm văn bia, những dòng chữ cổ có cách đây hàng chục vạn năm, để tự hào rằng mình đã được đến với một nền văn hóa cổ của dân tộc: văn hóa Sa Huỳnh.
Còn có biết bao điều kỳ diệu khác đang chờ bạn, nếu có dịp đi tham quan du lịch đến bãi biển Sa Huỳnh.
Tiếp tục đi thêm một đoạn nữa, bên trái của quốc lộ có trạm xá Phổ Cường.
Bệnh Xá Đặng Thùy Trâm
Bệnh xá Đặng Thùy Trâm nằm ở xã Phổ Cường (huyện Đức Phổ) cách thành phố Quảng Ngãi 50 km về hướng nam. Ở đây, kể từ ngày khởi công xây dựng hồi cuối tháng 3-2006, lúc nào cũng sôi động tiếng máy nổ, tiếng cười nói xôn xao của mấy chục công nhân. Tinh thần làm việc hăng say, quên mình của họ, gợi nhắc hình ảnh đẹp đẽ của liệt sĩ – bác sĩ Đặng Thùy Trâm ngày nào…
Công trình Bệnh xá Đặng Thùy Trâm do bạn đọc Báo Tuổi Trẻ tặng, xây dựng tại trung tâm xã Phổ Cường, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi với tổng kinh phí dự kiến 6,1 tỷ đồng, đã khởi công ngày 24-3, dự kiến cơ bản hoàn thành vào ngày 2-9, khánh thành vào ngày 22-12-2006. Công trình do Công ty Xây dựng Thanh Niên – Thành Đoàn Thành phố Hồ Chí Minh đảm nhận thi công.
Tới ngã 3 Thạch Trụ có quốc lộ 27 đi Kon Tum. Quốc lộ 24 dài 172Km bắt đầu từ QL1A tại Ngã ba Thạch Trụ, huyện Mộ Đức Quảng Ngãi đến Thị xã Kon Tum tỉnh Kon Tum.
Đi qua ngã 3 Thạch Trụ, tới thị trấn Mộ Đức các bạn sẽ thấy nhà lưu niệm Phạm Văn Đồng nằm bên phải của quốc lộ.
Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng
Khu lưu niệm cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vừa được khởi công xây dựng tại quê hương của Bác Đồng – xã Đức Tân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi vào đúng dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Bác (1.3.1906 – 1.3.2006). Với diện tích hơn 2 ha, khu lưu niệm sẽ là nơi lưu giữ những kỷ vật thuở sinh thời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, là nơi đón nhân dân và du khách đến tham quan.
Tiếp theo chúng ta sẽ đi qua thành phố Quảng Ngãi
Thành Phố Quảng Ngãi
Thành phố Quảng Ngãi có trên 3.700ha đất tự nhiên, gần 134.000 nhân khẩu và có 10 đơn vị hành chính trực thuộc.
Thành lập thành phố Quảng Ngãi thuộc tỉnh Quảng Ngãi trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Quảng Ngãi.
Thành phố Quảng Ngãi có 3.712 ha diện tích tự nhiên và 133.843 nhân khẩu.
Địa giới hành chính thành phố Quảng Ngãi: phía Bắc giáp huyện Sơn Tịnh; phía Nam, phía Đông và phía Tây giáp huyện Tư Nghĩa.
Sau khi qua cầu Trà Khúc nối huyện Sơn Tịnh với thị xã Quảng Ngãi, bên phải quốc lộ có con đường biển Mỹ Khê, qua đoạn dường này chúng ta sẽ đi ngang qua núi Thiên Ấn.
Thiên Ấn
Thiên Ấn là ngọn núi nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, thuộc xã Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Núi cao 100m, tựa hình một chiếc ấn, bốn phía sườn có hình thang cân. Giữa thiên nhiên thoáng đãng, ngọn núi như chiếc ấn của trời cao niêm cạnh dòng sông xanh nên người xưa gọi là Thiên Ấn Niêm Hà.
Thiên Ấn có tục danh là núi Hó, từ xưa đã được xem là “đệ nhất phong cảnh” của tỉnh Quảng Ngãi với mỹ danh “Thiên Ấn niêm hà”, tức ấn trời đóng trên sông. Sông ở đây là sông Trà Khúc, con sông lớn nhất tỉnh. Cùng với sông Trà, núi Thiên Ấn từ lâu đã trở thành biểu tượng của vùng đất Quảng Ngãi.
Trên đỉnh núi có ngôi chùa cổ nằm dưới bóng cây cổ thụ, được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch vào năm 1716. Cũng trên đỉnh núi còn có một khu bảo tháp gìn giữ thi hài các vị sư tổ trụ trì và mộ nhà yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876 – 1947).
Núi Thiên Ấn là đệ nhất thắng cảnh và là “núi thiêng” của người Quảng Ngãi. Năm 1990 núi Thiên Ấn – chùa Thiên Ấn – mộ cụ Huỳnh đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng di tích quốc gia
Từ núi Thiên Ấn đi thêm khảng 6 km nữa là tới biển Mỹ Khê.
Bãi Biển Mỹ Khê
Bãi biển Mỹ Khê nằm trên quốc lộ 24B cách thị xã Quảng Ngãi 15 km, cách cảng Dung Quất 16 km và gần cảng Sa Kỳ, thuộc địa phận thôn Cổ Luỹ, xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh. Mỹ Khê là bãi tắm lý tưởng của tỉnh Quảng Ngãi với không gian mênh mông, bãi cát mịn, độ dốc thoải, được che chắn kín đáo, chạy dài 7 km, phía sau là rừng dương xanh thẳm, bên cạnh là con sông Kinh mang vị ngọt của thượng nguồn đỏ về và vị mặn của biển đem lại nhiều đặc sản biển phong phú
Hàng năm khách đến bãi biển Mỹ Khê ngày càng đông. Ngoài việc nghỉ ngơi, tắm biển và hít thở bầu không khí trong lành, du khách còn có dịp thăm quan tưởng niệm khu chứng tích chiến tranh Sơn Mỹ. Tỉnh Quảng Ngãi đã có qui hoạch tổng thể khu du lịch Mỹ Khê với diện tích 342 ha để xây dựng các khu vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi như khách sạn Mỹ Khê, khu camping dành làm nơi cắm trại.
Tiếp tục đi trên quốc lộ 1A, tới thị trấn Châu ô, phía bên phải quốc lộ có con đường vào Dung Quất.
Dung Quất
Dung Quất là Khu Kinh tế Tổng hợp, phát triển đa ngành – đa lĩnh vực.
Phát triển công nghiệp nặng bao gồm công nghiệp lọc-hoá dầu, công nghiệp luyện cán thép, đóng tàu, sản xuất xi măng, chế tạo cơ khí, thiết bị nặng, sản xuất lắp ráp ô tô…
Phát triển công nghiệp nhẹ, chủ yếu là các ngành điện-điện tử, vật liệu công nghệ cao, dệt may, giày da, chế biến hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu…
Phát triển dịch vụ công nghiệp; dịch vụ tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; giáo dục đào tạo; nhà ở, vui chơi-giải trí, du lịch…(gắn liền với thành phố Vạn Tường hiện đại với tính chất là đô thị công nghiệp-dịch vụ).
Tổng diện tích: 10.300,0 ha
(Đến năm 2020, dự kiến sẽ mở rộng Khu Kinh tế Dung Quất; với tổng diện tích trên 20.000 ha)
Từ thị trấn Châu Ô đi thêm một đoạn nữa là tới tỉnh Quảng Nam.
Quảng Nam
Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi.
Hiện nay tỉnh Quảng Nam có 16 huyện, thị xã. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.406 km2, dự kiến dân số năm 2005 là 1,45 triệu người.
Vị trí địa lý kinh tế thuận lợi, nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung tạo cho Quảng Nam có nhiều lợi thế trong giao lưu kinh tế và thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Chính điều kiện tự nhiên và tài nguyên đa dạng thuận lợi cho khai thác ngay trong thời kỳ quy hoạch và là điều kiện để Quảng Nam hình thành một cơ cấu kinh tế lãnh thổ đa dạng.
Các di sản văn hoá gắn kết với tài nguyên du lịch biển trong tổng thể Trung tâm du lịch miền Trung: Huế – Đà Nẵng – Hội An đã tạo cho Quảng Nam khả năng phát triển mạnh du lịch và dịch vụ. Hai di sản văn hoá thế giới là phố cổ Hội An, di tích Mỹ Sơn và nhiều địa điểm di tích lịch sử và văn hoá (theo thống kê Quảng Nam có khoảng 61 điểm du lịch) cùng với nhiều loại hình văn hoá (như hát tuồng, hát đối) cùng với các quần thể kiến trúc khác như chứng tích Núi Thành,…tạo nên những điểm du lịch thu hút khách đến tham quan, tìm hiểu. Những làng nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống độc đáo (làng đúc Phước Kiều, làng ươm tơ dệt lụa Mã Châu, làng mộc Kim Bồng.) và những vùng ruộng, đồn, sông nước giữ nguyên nét điển hình của làng quê Việt Nam, hội đủ các yếu tố phát triển du lịch đồng quê, du lịch vườn, tạo thêm sức hấp dẫn đối với khách du lịch.
Đến Quảng Nam chúng ta sẽ đi qua huyện Núi thành.
Núi Thành
Núi Thành là một huyện ven biển thuộc phía nam của tỉnh Quảng Nam giáp với Thị xã Tam Kỳ về phía bắc và Quảng Ngãi về phía nam. Nó có diện tích là 528,2 kilômét vuông và dân số là 131.2000 người (1997). Là nơi đã diễn ra trận đụng độ đầu tiên giữa quân đội viễn chinh Mỹ và quân đội Việt Nam, thời chiến tranh.
Đồi núi ở phía tây và đồng bằng ở phía đông. Hai sông Trường Giang và Tam Kỳ chảy qua huyện này. Bờ biển ở huyện này dài 37 kilômét, có cảng Kỳ Hà và căn cứ Chu Lai, chạy dài hơn 10km, là khu quân sự của Mỹ hồi xưa, có phi trường. Ngày nay là sân bay phục vụ dân sự và khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất. Hồ Phú Ninh nằm thuộc tỉnh này, có diện tích mặt nước 4.500 hecta. Vùng đồi núi ở đây có vàng và chì. Quốc lộ 1A và đường sắt Thống Nhất chạy qua huyện này.
Ngay đầu huyện Núi Thành nhìn bên phải là sân bay Chu Lai.
Sân Bay Chu Lai.
Năm 1965, người Mỹ xây dựng sân bay Chu Lai nhằm mục đích phụ vụ các hoạt động quân sự ở miền Trung và Tây Nguyên. 40 năm sau, ngày 02 tháng 3 năm 2005, sân bay Chu Lai đón chuyến bay thương mại đầu tiên từ thành phố Hồ Chí Minh, đánh dấu một sự kiện lịch sử của tỉnh. Việc sân bay Chu Lai vào hoạt động thương mại sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển không chỉ của Quảng Nam (với khu công nghiệp Chu Lai) mà còn của tỉnh Quảng Ngãi (với khu công nghiệp Dung Quất). Hiện nay, mỗi tuần có hai chuyến bay đến từ thành phố Hồ Chí Minh. Trong tương lai, sẽ mở thêm đường bay đến Hà Nội. Xa hơn nữa, sân bay Chu Lai sẽ được phát triển thành sân bay quốc tế phục vụ cho việc trung chuyển hành khách và hàng hóa trong khu vực. Ngoài ra, việc đưa sân bay Chu Lai vào hoạt động sẽ giúp cho du khách đến với hai di sản văn hóa thế giới Hội An và Mỹ Sơn dễ dàng hơn.
Trong thời gian tới ngành hàng không sẽ tiếp tục mở tuyến bay Chu Lai – Hà Nội và các đường bay nội địa nối các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước với Chu Lai.
Vẫn đi trên quốc lộ 1A chúng ta sẽ tới thành phố Tam Kỳ.
Thành Phố Tam Kỳ
Theo sử liệu, Tam Kỳ ngày nay là cùng đất thuộc huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa của đạo Thừa Tuyên – Quảng Nam, được hình thành từ năm 1471 dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1906, đời vua Thành Thái, huyện Hà Đông được nâng lên thành phủ Hà Đông và sau đó đổi thành phủ Tam Kỳ.
Thành phố Tam Kỳ được thành lập ngày 29/9/2006 của Chính phủ, diện tích gần 93Km2, dân số gần 12 vạn người. Thành phố Tam Kỳ là một trung tâm hành chính, văn hoá – khoa học kỹ thuật của tỉnh Quảng Nam, nằm ở trung độ của cả nước và vùng trọng điểm kinh tế ven biển miền Trung. Thành phố Tam Kỳ ra đời đánh dấu một bước phát triển mới về chất, khẳng định sự trưởng thành vượt bậc của vùng đất và con người Hà Đông xưa, đang mở ra một thời kỳ phát triển mới đầy triển vọng của thành phố tương lai.
Đoạn qua thị trấn Duy Xuyên, phí bên trái quốc lộ có 1 con dường dẫn vào thánh địa Mỹ Sơn
Thánh Địa Mỹ Sơn
Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 69 km và cách thành cổ Trà Kiệu khoảng 20 km, là tổ hợp bao gồm nhiều đền đài Chăm Pa, trong một thung lũng đường kính khoảng 2 km, bao quanh bởi đồi núi. Đây từng là nơi tổ chức cúng tế của vương triều Chăm pa cũng như là lăng mộ của các vị vua Chăm pa hay hoàng thân, quốc thích. Thánh địa Mỹ Sơn được coi là một trong những trung tâm đền đài chính của Ấn Độ giáo ở khu vực Đông Nam Á và là di sản duy nhất của thể loại này tại Việt Nam.
Từ năm 1999, thánh địa Mỹ Sơn đã được UNESCO chọn là một trong các di sản thế giới tại phiên họp thứ 23 của Ủy ban di sản thế giới theo tiêu chuẩn C (II) như là một ví dụ điển hình về trao đổi văn hoá và theo tiêu chuẩn C (III) như là bằng chứng duy nhất của nền văn minh châu Á đã biến mất.
Mỹ Sơn có lẽ được bắt đầu xây dựng vào thế kỷ 4. Trong nhiều thế kỷ, thánh địa này được bổ sung thêm các ngọn tháp lớn nhỏ và đã trở thành khu di tích chính của văn hóa Chămpa tại Việt Nam. Ngoài chức năng hành lễ, giúp các vương triều tiếp cận với các thánh thần, Mỹ Sơn còn là trung tâm văn hóa và tín ngưỡng của các triều đại Chămpa và là nơi chôn cất các vị vua, thầy tu nhiều quyền lực. Những di vật đầu tiên được tìm thấy ghi dấu thời đại vua Bhadravarman I (Phạm Hồ Đạt) vị vua đã xây dựng một thánh đường để thờ cúng linga và Shiva. Mỹ Sơn chịu ảnh hưởng rất lớn của Ấn Độ cả về kiến trúc – thể hiện ở các đền tháp đang chìm đắm trong huy hoàng quá khứ, và về văn hóa – thể hiện ở các dòng bia ký bằng chữ Phạn cổ trên các tấm bia.
Sau khi vương quốc Chiêm Thành lụi tàn, thánh địa Mỹ Sơn đã chìm trong lãng quên hàng thế kỷ, đến năm 1885, nó mới được phát hiện. Mười năm sau, các nhà nghiên cứu bắt đầu thực hiện các cuộc phát quang, nghiên cứu khu di tích này.
Nghệ thuật và kiến trúc qua bố cục đền tháp mang ảnh hưởng lớn của phong cách Ấn Độ. Mặc dù chịu ảnh hưởng lớn từ Ấn Độ giáo, song biểu tượng của Phật giáo cũng tìm thấy ở Mỹ Sơn, vì đạo Phật Đại Thừa (Mahayana) đã trở thành tín ngưỡng chính của người Chăm vào thế kỷ 10. Một số đền đài đã được xây dựng trong thời gian này, tuy nhiên vào thế kỷ 17 nhiều tòa tháp ở Mỹ Sơn đã được tu sửa và xây dựng thêm.
Từ thị trấn Duy Xuyên chúng ta sẽ đi tới huyện Hòa Vang.
Hòa Vang
Hòa Vang là một huyện nằm bao bọc quanh phía tây thành phố Đà Nẵng. Diện tích 737.5 km². Dân số 106.746 – năm 2005. Huyện có diện tích bằng hơn 80% diện tích của thành phố Đà Nẵng (không kể đảo Hoàng Sa).
Hòa Vang giáp tỉnh Thừa Thiên – Huế (phía bắc), quận Liên Chiểu (đông bắc), quận Thanh Khê, quận Ngũ Hành Sơn (phía đông), tỉnh Quảng Nam (phía nam và phía tây).
Hòa Vang là địa danh nổi tiếng trong các cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ.Đây là địa phương có nhiều địa danh đẹp và thơ mộng như khu du lịch sinh thái rừng Bà Nà, Suối Mơ, hồ thủy lợi Hòa Trung, hồ thủy lợi Đồng Nghệ, sông Cu Đê mang tôm cá vùng biển lên với đồng bào thượng nguồn và sản vật vùng cao như gỗ, nông sản về đồng bằng.
Tới ngã 3 Điện Bàn, đi khảng 10 km là tới Hội An.
Hội An
Hội An là một thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam có nhiều khu phố cổ được xây từ thế kỷ 16 và vẫn còn tồn tại gần như nguyên vẹn đến nay. Trong các tài liệu cổ của phương Tây, Hội An được gọi Faifo. Hội An được công nhận là một di sản thế giới UNESCO từ năm 1999. Hiện nay chính quyền sở tại đang tích cực khôi phục các di tích, đồng thời phát triển thành một thành phố du lịch. Hội An đã đươc công nhận là đô thị loại III và đã được công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Nam.
Các di tích tiêu biểu của đô thị cổ Hội An : Chùa Cầu, Nhà cổ Tấn Ký, Nhà cổ Quân Thắng, Nhà cổ Phùng Hưng, Hội quán Phúc Kiến, Hội quán Triều Châu, Hội quán Quảng Đông, Chùa Ông, Quan âm Phật tự Minh Hương, Nhà thờ tộc Trần, Nhà thờ tộc Trương, Bảo tàng lịch sử văn hóa, Bảo tàng gốm sứ mậu dịch, Bảo tàng văn hóa Sa Huỳnh
Kết quả nhiều cuộc thăm dò, quan sát các di tích mộ táng: Bãi Ông; Hậu Xá I,II; An Bàng; Xuân Lâm và các di chỉ cư trú : Hậu Xá I; Đồng Nà; Cẩm Phô I; Trảng Sỏi; Lăng Bà; Thanh Chiêm đã cung cấp nhiều thông tin quý về thời Tiền sử và thời văn hoá Sa Huỳnh muộn. Ngoài di tích Bãi Ông có niên đại hơn 3000 năm, thuộc thời Tiền sử (Tiền Sa Huỳnh), các di tích còn lại đều trên dưới 2000 năm, tức là vào giai đoạn hậu kỳ Sa Huỳnh.
Những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ là các loại thuộc về công cụ sinh hoạt, lao động sản xuất, chiến đấu, trang sức, tín ngưỡng… bằng các chất liệu gốm, đồng, sắt, đá, thuỷ tinh. Đặc biệt còn có cả những tiền đồng Trung Quốc: Ngũ Thù; Vương Mãng cùng với các đồ trang sức mã não, thuỷ tinh có gốc gác từ Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông, chứng tỏ cách đây 2000 năm, dân cư ở đây đã có nghề trồng lúa nước, khai thác thuỷ sản và làm các nghề thủ công. Đồng thời cũng thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hoá trong nước cùng các hoạt động buôn bán với nước ngoài, lập nên một Cảng-Thị sơ khai, là nền móng cho các Cảng-Thị sau này.
Thế kỉ thứ 2 – Thế kỉ 15
Hai con mắt trên trong chùa Cầu (Lai Viễn Kiều). Rất nhiều nhà cổ ở Hội An có hai con mắt trên cửa như trong hình
Kế tiếp dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu thời kì vàng son cho một Cảng-Thị hưng thịnh. Những cái tên Chiêm Bất Lao (Cù Lao Chàm), Đại Chiêm Hải Khẩu (Cửa Đại), Cachiam cùng với những tượng đá, giếng gạch và dấu vết nền tháp, đặc biệt trong các di chỉ khảo cổ học với các hiện vật gốm sứ Champa, Ả Rập, Trung Quốc; các đồ trang sức từ Trung Đông, Ấn Độ và nhiều tài liêu, thư tịch cổ Trung Quốc, Ả Rập, Ấn Độ, Ba Tư xác nhận vùng Cửa Đại xưa kia là hải cảng chính của nước Champa. Vùng Lâm Ấp phố là nơi các chiến thuyền ngoại quốc thường ghé lấy nước ngọt từ những giếng Champa rất ngon và trong; trao đổi sản vật như trầm hương, quế, ngọc ngà, thuỷ tinh, tơ lụa, đồi mồi, xà cừ.
Thế kỉ 15 – Thế kỉ 19
Tiếp nối thời Champa, khoảng cuối thế kỉ 15, Hội An đã có dân cư Đại Việt tới sinh sống. Trong buổi đầu cùng với việc khai hoang, lập làng, người Việt còn sáng tạo ra một số ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội nơi đây. Từ cuối thế kỉ 16 – thế kỉ 17, có thêm nhiều người Hoa và người Nhật đến định cư, giúp thương nghiệp Hội An phát triển. Kết hợp với vị trí địa lý phù hợp, Hội An nhanh chóng trở thành một thương cảng phồn thịnh trong nhiều thế kỉ.
Đến giữa thế kỉ 19, nền kinh tế Hội An nhanh chóng suy thoái do nhiều nguy nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông chuyển dòng, chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến. Ngay gần đó, thương cảng Đà Nẵng hiện đại do người Pháp lập nên đã lấn át hết vai trò của Hội An.
Ngày 4 tháng 12 năm1999 taị kì họp thứ 23 tổ chức tại Marrakesh (Maroc), Uỷ ban Di Sản thế giới của UNESCO đã công nhận Hội An là di sản văn hoà thế giới.
Tới Hội An, thuê tàu hoặc mua vé tàu các bạn sẹ được chở ra Cù Lao Chàm.
Cù Lao Chàm
Cù lao Chàm là một cụm đảo xã đảo Tân Hiệp, thị xã Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km. Cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.
Cù lao Chàm là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của đô thị thương cảng Hội An. Bản đồ Tây-phương xưa thường ghi Cù lao Chàm với tên “Champello” lấy từ tiếng Nam-Ấn (Autronesian) “Pulau Champa”. Đây còn là một địa điểm du lịch có khí hậu quanh năm mát mẻ, hệ động thực vật phong phú, đặc biệt là nguồn hải sản và nguồn tài nguyên yến sào. Các rặng san hô ở khu vực biển cù lao Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ.
Vào đầu thể-kỷ 21, Khu Bảo Vệ Thiên Nhiên Cù Lao Chàm được thành lập để giữ gìn sinh vật hoang dã trên đảo. Thảm thực vật có độ bao phủ lớn chính là nơi cư trú của nhiều loại động vật. Hiện Cù lao Chàm có 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và 5 loài ếch nhái. Trong đó có 2 loài được ghi vào Sách đỏ động vật Việt Nam là chim yến và khỉ đuôi dài.
Chạy theo con đường Điện Bàn – Điện Ngọc, chúng ta sẽ đi ngang qua Ngũ Hành Sơn. Đây là con đường rất đẹp vì nó chạy dọc theo bờ biển.
ThắngCảnh Ngũ Hành Sơn
Ngũ Hành Sơn là một cụm 5 hòn núi ở cách thành phố Ðà Nẫng chừng 5 cây số về phía Ðông Nam trên một bãi cát mênh mông gần bờ biển, thuộc làng Hoà Khuê, ấp Sơn Thủy, huyện Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam. Cụm núi này có 5 hòn mang tên: hòn Kim, hòn Mộc, hòn Thủy, hòn Hỏa, hòn Thổ. Từ trước đến nay, người ta đặt cho nhóm núi này nhiều tên. Người Việt đặt tên nó là Ngũ Chỉ là năm ngón tay vì từ trên không nhìn xuống thì thấy như năm ngón tay ấn xuống đất, người dân Quảng Nam thì gọi nó là Núi Non Nước, và người Pháp ghi trên bản đồ địa dư và đặt tên nó là Núi Cẩm Thạch, và danh từ Ngũ Hành Sơn là do Vua Minh Mạng đặt cho nó.
Người Chàm lúc còn cai trị phần đất Quảng Nam đã giải thích 5 hòn núi này là do vỏ trứng của Thần Kim Quy (rùa vàng) sinh ra do một ẩn sĩ sống giữa bãi cát mênh mông thuật lại. Một hôm thấy Nữ Thần Naga mang cho một cái trứng, để thần Kim Quy cất giữ từ phía sông Ðà Nẵng để trừ khử sự quấy nhiễu của ma quái rồi Thần Kim Quy cho ẩn sĩ một cái móng rùa thì trứng này trở thành to lớn một cách kỳ dị.
Nơi đây, các dấu ấn văn hoá lịch sử còn in đậm trên mỗi công trình chùa, tháp đầu thế kỷ XIX, trên mỗi tác phẩm điêu khắc Chàm của thế kỷ XIV, XV. Những bút tích thi ca thời Lê, Trần còn in dấu trên các vách đá rêu phong trong các hang động. Những di tích văn hoá lịch sử như mộ mẹ tướng quân Trần Quang Diệu, đền thờ công chúa Ngọc Lan (em gái vua Minh Mạng), bút tích sắc phong quốc tự còn lưu giữ tại chùa Tam Thai của triều Nguyễn, đến các di tích lịch sử đấu tranh cách mạng như Địa đạo núi đá Phủ,… Tất cả chứng minh hùng hồn về Chồng, hang Bà Tho, núi Kim Sơn, hang Âm một Ngũ Hành Sơn huyền thoại, về một vùng đất địa linh nhân kiệt đầy chất sử thi.
Từ Ngũ Hành Sơn các bạn sẽ thấy biển Non Nước.
Bãi Biển Non Nước
Như một vòng cung xanh nằm dọc chân núi Ngũ Hành Sơn, bên thềm cát trắng, bãi tắm Non Nước trải dài 5km thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn.
Bãi tắm Non Nước, với các tố chất có được từ độ sóng, khí hậu, thời tiết, độ mặn… phù hợp với các loại hình thể thao trên biển, nhất là môn trượt sóng (surfing). Vào năm 1993, đã diễn ra tại đây cuộc thi trượt sóng quốc tế với sự tham dự của gần 40 vận động viên đến từ nhiều nước trên thế giới.
Đến với Non Nước, ngoài việc nghỉ ngơi, tắm biển, du khách còn có thể kết hợp viếng thăm thắng tích Ngũ Hành Sơn, nơi có những ngôi chùa cổ, các hang động, thâm nghiêm, hoành tráng; dạo quanh làng đá mỹ nghệ ngay dưới chân núi hoặc làm một cuộc du thuyền trên sông Cổ Cò để thả hồn cùng non nước Ngũ Hành Sơn.
Sau đó chúng ta sẽ đi vào thành phố Đà Nẵng.
Đà Nẵng
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương. Thành phố Đà Nẵng hiện là một trong những đô thị loại 1 của Việt Nam.
Thành phố có diện tích 1.256,53 km
Phía bắc giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp biển Đông. Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội 764 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía Nam, cách thủ đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc.
Đầu thế kỷ 18, vị trí tiền cảng của Đà Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu ở Châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng.
Năm 1835, khi vua Minh Mạng có dụ: “Tàu Tây chỉ được đậu tại Cửa Hàn, còn các cửa biển khác không được tới buôn bán” thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn bậc nhất miền Trung. Đầu thế kỷ 20, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương. Năm 1950, Pháp trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại.Tháng 3 năm 1965 các đơn vị thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm 1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự, văn hóa cho vùng I và II chiến thuật.
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc trung ương. Ngày 15 tháng 7 năm 2003, Đà Nẵng được công nhận là đô thị loại 1.
Đà Nẵng nằm vào trung độ của Việt Nam, trên trục giao thông huyết mạch Bắc – Nam về cả đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không, là cửa ngõ giao thông quan trọng của cả miền Trung và Tây Nguyên. Thành phố còn là điểm cuối trên Hành lang kinh tế Đông – Tây đi qua các nước Myanma, Thái Lan, Lào.
Thành phố Đà Nẵng nằm bên dòng sông Hàn; phía Đông vươn ra biển Đông với những bãi biển dài tăm tắp và bán đảo Sơn Trà còn rất hoang sơ; phía Bắc và phía Tây được bao bọc bởi đèo núi cao. Đèo Hải Vân cheo leo hiểm trở là ranh giới tự nhiên giữa thành phố và tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Ngoài sự ưu đãi của thiên nhiên cho Đà Nẵng, thành phố còn được bao bọc bởi 3 di sản văn hóa thế giới: Huế, Hội An, Mỹ Sơn. Xa hơn một chút nữa là di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Vì thế Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên con đường di sản miền Trung.
Mì Quảng: là một món ăn rất phổ biến của người miền Trung. Ngày nay khi nói đến Mì Quảng không nhất thiết là nói đến món ăn đặc sản của Quảng Nam – Đà Nẵng mà là nói đến một món ăn đặc trưng của người miền Trung nói chung. Đến với Đà Nẵng thì co rất nhiều đặc sản như: Bánh tráng cuốn thịt heo, Bánh xèo, Thịt bê thui, Bún chả cá, Bún mắm, Bánh khô mè, Nước mắm Nam Ô.
Tiếp tục đi trên con đường Điện Bàn-Điện Ngọc chúng ta sẽ tới Bảo Tàng nghệ thuật Chăm.
Bảo Tàng Nghệ Thuật Điêu Khắc Chăm
Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm Đà Nẵng là bảo tàng trưng bày hiện vật Chăm quy mô nhất ở Việt Nam, trực thuộc Bảo tàng Đà Nẵng. Đây là bảo tàng do người Pháp xây dựng, chuyên sưu tập, cất giữ và trưng bày các di vật về nghệ thuật điêu khắc của vương quốc Chăm Pa tìm thấy ở các tháp, thành lũy Chăm tại các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ từ Hà Tĩnh tới Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên.
Tọa lạc tại số 2, đường 2/9, quận Hải Châu, Đà Nẵng, nằm ngay ngã ba giao lộ Trưng Nữ Vương, Bạch Đằng và 2/9, đối diện với Trung tâm truyền hình Việt Nam tại thành phố Đà Nẵng, Bảo tàng được chính thức khởi công xây dựng tháng 7 năm 1915 với sự giúp đỡ của Viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội. Năm 1936, công việc xây dựng được hoàn thành. Năm 2002, bảo tàng được cải tạo và mở rộng thêm. Hiện nay, bảo tàng có tổng diện tích là 6.673 m², trong đó phần diện tích trưng bày là 2.000 m².
Tổng số hiện vật nghệ thuật trưng bày tại bảo tàng lên tới khoảng 500 và được phân theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện gồm phòng Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫn và các hành lang Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định.

Tiếp tục chúng ta sẽ tới bán đảo Sơn Trà.
Sơn Trà
Sơn Trà là một đặc ân mà thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Đà Nẵng. Đứng bất cứ ở đâu trên đất Đà Nẵng đều có thể nhìn thấy ngọn núi này. Trong dáng nhoài người vươn ra biển, Sơn Trà là một bức bình phong khổng lồ che chắn bão giông cho thành phố.
Nằm cách trung tâm thành phố 10 km về phía Đông Bắc, bán đảo Sơn Trà với độ cao 693 m so với mực nước biển; giống hình một cây nấm, đầu nấm là núi Sơn Trà và thân nấm là bãi cát bồi, lắng đọng, tạo nên những bãi cát vàng đẹp đẽ, trong lành. Đây còn là một khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú, được bảo vệ theo chế độ rừng cấm quốc gia, nổi tiếng là nơi có thảm thực vật đặc sắc với nhiều loại thú rừng quí hiếm như hươu, nai, khỉ, vượn, đười ươi, voọc chà vá, gà mặt đỏ… cảnh vật thiên nhiên nơi đây rất quyến rũ; dân gian đồn rằng các vị tiên từ trên trời thường chọn bãi cát nơi đây để giáng trần, ca múa, đánh cờ với nhau… nên còn có tên là Tiên Sa.
Và ngay dưới chân núi, với những bãi san hô tuyệt đẹp, đầy màu sắc sẽ là nơi lý tưởng để phát triển các loại hình du lịch lặn.
Từ thành phố Đà Nẵng, chạy ra ngã 3 Huế và đi về thị trấn Liên Chiểu chúng ta sẽ đến với khu du lịch Bà Nà. Đi qua cầu Nam Ô, nhìn về bên phải là biển Xuân Thiều.
Bãi Biển Xuân Thiều
Cách bãi biển Nam Ô chừng 3 km về phía Nam là bãi tắm Xuân Thiều – một địa danh gắn liền với sự kiện lịch sử – tháng 3 năm 1965, lữ đoàn số 9 Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đã đổ bộ vào đây, mở đầu cho chiến lược ‘Chiến tranh cục bộ” của Mỹ tại Việt Nam.
Bãi tắm này trước năm 1975 chỉ dành riêng cho binh lính Mỹ vì đây là khu quân sự, có sân bay dã chiến và kho quân nhu của Mỹ, cùng hệ thống bố phòng bảo vệ thành phố Đà Nẵng từ phía Bắc. Binh lính Mỹ gọi bãi tắm Xuân Thiều là ‘Red Beach” (tức Biển Đỏ – có lẽ do cảm giác trực quan khi nhìn bình minh lên và cả lúc mặt trời lặn, mặt nước biển phản chiếu có màu đỏ).
Từ năm 1992, khu du lịch Xuân Thiều được thành lập. Hệ thống dịch vụ tương đối liên hoàn, đầy đủ bao gồm khách sạn, nhà hàng, một số dịch vụ vui chơi giải trí, phục vụ tắm biển… có thể đáp ứng nhu cầu của khách.
Từ đây chúng ta sẽ tới đèo Hải Vân
Đường Hầm Xuyên Hải Vân
Hầm Hải Vân là hầm đường bộ dài nhất Đông Nam Á, xuyên qua đèo Hải Vân, nối liền tỉnh Thừa Thiên-Huế với thành phố Đà Nẵng ở miền Trung Việt Nam. Được khánh thành vào năm 2005
Đường hầm chính: dài 6.280 m, rộng 10 m, độ cao xe cho phép đi qua là 7,5 m.
Đường hầm thoát hiểm: dài 6.280 m, rộng 4,7 m, cao 3,8 m.
Đường hầm thông gió: dài 1.810 m, rộng 8,2 m, cao 5,3 m.
Để bảo đảm an toàn giao thông và ứng phó với các tình huống khẩn cấp, trong hầm được trang bị các hệ thống: đèn chiếu sáng, thông gió, báo cháy và chữa cháy, điện thoại khẩn cấp, phát thanh radio, camera quan sát (52 cái) cũng như hệ thống giám sát và điều khiển giao thông.
Công trình còn chứa hầm lọc bụi tĩnh điện dài 153 m, rộng 10,2 m, cao 6,7 m.
Thể tích đất đá phải đào khi xây hầm là 600.000 m³.
Qua hết đèo Hải Vân là chúng ta đã đến địa phận của tỉnh Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên-Huế
Thừa Thiên-Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng
Diện tích của tỉnh là 5.053,99 km², dân số năm 2005 là 1.134.480 người.
Thừa Thiên-Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía bắc, biển Đông về phía đông, thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam về phía nam, Trường Sơn và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về phía tây. Thừa Thiên-Huế cách Hà Nội 654 km, Nha Trang 627 km và Thành phố Hồ Chí Minh 1.071 km.
Thời Nguyễn, Thừa Thiên là phủ. Thời thuộc Pháp được đổi làm tỉnh. Năm 1976, tỉnh sát nhập với Quảng Bình và Quảng Trị thành tỉnh Bình Trị Thiên. Theo Quyết định ngày 30 tháng 6 năm 1989 tại kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khóa VIII nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ba tỉnh này lại được tách ra như cũ, riêng tỉnh Thừa Thiên sau khi tách thì mang tên gọi mới: Thừa Thiên-Huế.
Khi tới Huế, theo quốc lộ 1A chúng ta sẽ đi qua huyện Phú Lộc. Phía bên phải quốc lộ 1A là Lăng Cô
Lăng Cô
Khu du lịch Lăng Cô là một trong bốn vùng du lịch trọng điểm quốc gia. Với diện tích gần 14.000 m2, địa điểm này kết hợp được vẻ hoang sơ của rừng núi và không gian thoáng đãng của biển cả.
Nằm gần khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Bạch Mã, Lăng Cô kết hợp được không khí hoang sơ của rừng núi và đặc trưng ồn ào, nhộn nhịp của vùng biển nhiều tàu thuyền qua lại. Du khách đến với Lăng Cô theo nhiều nhóm khác nhau, người đến để câu cá, lặn biển, người khác muốn leo núi, thăm rừng. Cũng có cả những du khách lớn tuổi ghé Lăng Cô đơn giản là để tĩnh dưỡng. Con người hiền hòa, khí hậu lúc mưa không mưa nhiều, khi nắng không nắng quá, cảnh quan trật tự, ngăn nắp. Khu nghỉ dưỡng Lăng Cô có khoảng 70 phòng, trong đó 45 phòng là dạng biệt thự có kiến trúc theo kiểu nhà vườn Huế. Cây xanh xen lẫn cảnh vật, nơi đây đầy đủ tiêu chuẩn của khu nghỉ mát 4 sao. Với những du khách mới đến, từng nhịp cầu cong đặt bên những chiếc ô che kiểu Hawaii, tán thông xanh mơ màng ngay cạnh những gốc cau cảnh… mang một vẻ đẹp rạng ngời, giống y như màu nắng và màu cát trắng nơi đây.
Ở Lăng Cô, ẩm thực của Huế và Đà Nẵng hòa hợp với nhau nhịp nhàngvà ăn ý. Món bánh canh ngọt lịm vị chả cua, đĩa ghẹ luộc nguyên con đỏ au mời gọi, bát bún riêu có thêm miếng càng cua đã bóc vỏ trắng muốt ăn cho vui miệng… Ăn xong thì hiểu thế nào là miếng ngon nhớ đời
Ngay phía bên phải quốc lộ là đầm Lăng Cô.
Đầm Lăng Cô
Đầm Lăng Cô là một vùng nước rất độc đáo. Với diện tích 1.800ha nước lợ, đầm Lăng Cô còn là một nguồn tài nguyên quí giá với đủ các loài thủy sản nước ngọt lẫn nước mặn, như: hải sâm, sò huyết, cá ngựa, cá mú, cá hồng; các loài tôm (sú, rằn, bạc, he, đất); các loài rắn biển, lươn, lụy, lịch; cua, ghẹ… Nhiều dự án du lịch trên đầm Lăng Cô đang chờ ngày khởi động.
Trước khi vào thị trấn Phú Lộc chúng ta phải đi qua đèo Phước Tượng, quý khách nhìn bên trái là dãy núi Bạch Mã.
Núi Bạch Mã
Núi Bạch Mã hay Dãy Bạch Mã là một dãy núi đẹp, là ranh giới tự nhiên giữa tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nẵng. Dãy núi này nằm trong vườn quốc gia Bạch Mã.
Núi là một phần của Dãy Trường Sơn chạy cắt ra sát biển. Nằm giữa tỉnh Thừa Thiên-Huế và thành phố Đà Nẵng, nơi đây có đèo Hải Vân nổi tiếng nằm cách Huế 60 km về phía Nam.
Núi Bạch Mã có đỉnh cao 1.450 m. Trên đỉnh núi hùng vĩ bốn mùa xanh tươi với thác nước, suối, rừng, … Núi Bạch Mã còn là nơi quy tụ nhiều loại động vật và thực vật quý hiếm ở miền nhiệt đới. Bạch Mã nằm cách biển chỉ có 18 km nên hòa với không khí của rừng núi là chút hương vị của biển.
Vào những năm từ 1916 đến 1925, Bạch Mã lúc này chỉ là một khu rừng núi hoang sơ, chưa ai khai phá nhưng đến cuối năm 1925, các kế hoạch về bảo tồn và thành lập
Đoạn đường ngay thị trấn Phú Lộc, bên phải quốc lộ là đầm Cầu Hai.
Phá Tam Giang- đầm Cầu Hai
Một nét đặc sắc trong tổng thể địa hình ở Thừa Thiên – Huế là sự hiện diện của đầm phá nước lợ mênh mông bên cạnh rừng núi, đồng bằng và biển Đông. Đầm phá Thừa Thiên -Huế phân bố trên một chiều dài 68km chạy từ cửa sông Ô Lâu ở phía bắc đến chân núi Vĩnh Phong.
Ở phía nam qua địa phận của 31 xã thuộc 5 huyện ven biển, với tổng diện tích mặt nước là 248,7km2, chiếm một nửa diện tích đầm phá ven bờ biển của cả nước ta. Những đầm phá có thể nhắc đến đó là: Phá Tam Giang, đầm Sam, đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai…
Phá Tam Giang rộng 52km2, dài 24km, kéo từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương, rộng trung bình 2,5km, sâu chừng 1,6m, dốc dần về phía cửa sông Hương. Đầm Sam và đầm Thủy Tú dài khoảng 33km, chạy từ cửa sông Hương đến thủy vực đầm Cầu Hai, rộng trung bình 1km, như một lạch triền dốc về phía nam, sâu từ 1,5m đến 2m, diện tích mặt nước chiếm 60km². Đầm Cầu Hai rộng lớn với diện tích 104km², dài chừng 13km, đáy hơi gồ ghề nhưng có dáng của một lòng chảo hình bán nguyệt, kéo từ cửa sông Truồi đến chân núi Vĩnh Phong, sâu từ 1 đến 1,5m về phía Đá Bạc có nơi sâu đến 3m.
Ngoài những giá trị về kinh tế khai thác và điều hòa hệ sinh thái vùng duyên hải, đầm phá Thừa Thiên – Huế còn là một khu du lịch, giải trí với nhiều nét độc đáo.
Ngao du trên mặt nước đầm phá, du khách có thể làm quen với vô vàn cách thức đánh bắt thủy sản rất hấp dẫn của cư dân sông nước, được tha hồ thưởng thức hương vị đậm đà thơm ngon của những loài cá tôm nước lợ đặc trưng. Những bãi ngầm, những đồng cỏ hoang tập trung nhiều đàn cò, vạc, sâm cầm, ngỗng trời, vịt trời… bơi trắng mặt nước, dễ khiến cho các nhà sinh thái, du khách khoa học phải ngẩn ngơ thích thú. Những bờ cát đẹp, mặt nước mênh mông cũng chính là điều kiện cho du khách tắm biển, nghỉ mát và chơi các trò chơi giải trí như câu cá, bơi thuyền, lướt ván… trên đầm phá.
Qua khỏi đầm Cầu Hai một đoạn, cũng về phía bên trái phải là sân bay Phú bài.
Sân Bay Quốc Tế Phú Bài
Sân bay quốc tế Phú Bài được xây dựng từ thời còn thực dân Pháp, người Pháp xây dựng sân bay này nhằm phục vụ kinh thành Huế. Nó được sửa chữa nâng cấp nhiều lần như kéo dài đường băng để tiếp nhận các máy bay lớn; hệ thống đường lăn, sân đỗ, hệ thống thoát nước, hệ thống đèn dẫn đường.
Cách 15 km về phía nam thành phố Huế, (thuộc thị trấn Phú Bài, huyện Hương Thuỷ – tỉnh Thừa Thiên-Huế), Việt Nam. Sân bay quốc tế Phú Bài hiện có đường băng dài 2800 m, rộng 45 m, có đèn chiếu sáng phục vụ các chuyên bay đêm.
Sân bay này có thể tiếp nhận các máy bay tầm trung như Airbus A320, Boeing 747. Năm 2007, sân bay này tiếp nhận 800.000 hành khách. Dự kiến năm 2010, số lượng khách thông qua sân bay này sẽ vượt quá 1 triệu người. Sân bay này xếp thứ 4 tại Việt Nam về số lượng khách (sân bay xếp thứ 5 là Sân bay quốc tế Cam Ranh với lượng khách xấp xỉ 500.000 trong năm 2007 và có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn).
Đi qua sân bay một đoạn chúng ta se tới thành phố Huế.
Huế
Huế là một thành phố ở miền Trung và là tỉnh lị của tỉnh Thừa Thiên-Huế. Là kinh đô một thời của Việt Nam, Huế nổi tiếng với những đền chùa, thành quách, lăng tẩm, kiến trúc gắn liền với cảnh quan thiên nhiên.
Sự xuất hiện của địa danh “Huế”
Hiện chưa có nguồn thông tin nào khẳng định địa danh “Huế” chính thức xuất hiện lúc nào,
Đến với Huế, một mãnh đất gắn liền với lịch sử. Triều Nguyễn đã để lại cho nơi đây rất nhiều các công trình kiến trúc cổ, có giá trị tiêu biểu là kinh thành Huế, Lăng Minh Mạng, Lăng Khỉa Định, chùa Thiên Mụ…. Bên cạnh đó, được thiên nhiên ban tặng cho những thắng cảnh tự nhiên rất đẹp. Và dưới đây là các điểm tham qua tiêu biểu của Huế.
Lăng Minh Mạng
Lăng Minh Mạng còn gọi là Hiếu lăng (do vua Thiệu Trị cho xây dựng), nằm trên núi Cẩm Khê, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách cố đô Huế 12 km. Lăng Minh Mạng được xây dựng từ năm 1840 đến năm 1843 thì hoàn thành, huy động tới mười nghìn thợ và lính.
Tháng 2 năm 1820, vua Gia Long băng hà, hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm được đưa lên ngai vàng, lấy niên hiệu là Minh Mạng. Vua Minh Mạng là người có nhiều đóng góp đối với công việc mở mang đất nước, đưa nước Đại Nam lên hàng mạnh nhất trong các quốc gia Đông Nam Á lúc bấy giờ. Làm vua được 7 năm, Minh Mạng cho người đi tìm đất để xây dựng Sơn lăng cho mình. Tháng 4 năm 1840, công cuộc kiến thiết Hiếu Lăng bắt đầu công việc xây lăng mãi đến đầu năm 1843 mới hoàn tất.
Trong khoảng diện tích được giới hạn bởi vòng La thành dài 1.750 m là một quần thể kiến trúc gồm cung điện, lâu đài, đình tạ được bố trí đăng đối trên một trục dọc theo đường Thần đạo dài 700 m, bắt đầu từ Đại Hồng Môn đến chân La thành sau mộ vua. Hình thể lăng tựa dáng một người nằm nghỉ trong tư thế vô cùng thoải mái, đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông ở trước mặt, hai nửa hồ Trừng Minh như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên.
Lăng Khải Định
Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là lăng mộ của vua Khải Định (1885-1925), vị vua thứ 12 của triều Nguyễn, toạ lạc trên triền núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê) bên ngoài kinh thành Huế.
Khải Định lên ngôi năm 1916 ở tuổi 31. Ngay sau khi lên ngôi, ông đã cho xây dựng nhiều cung điện, dinh thự, lăng tẩm cho bản thân và hoàng tộc như điện Kiến Trung, cung An Định, cửa Trường An, cửa Hiển Nhơn, cửa Chương Đức, đặc biệt là Ứng Lăng.
Để xây dựng sinh phần cho mình, Khải Định đã tham khảo nhiều tấu trình của các thầy địa lý cuối cùng đã chọn triền núi Châu Chữ làm vị trí để xây cất lăng mộ. Ở vị trí này, lăng Khải Định lấy một quả đồi thấp ở phía trước làm tiền án; lấy núi Chóp Vung và Kim Sơn chầu trước mặt làm “Tả thanh long” và “Hữu bạch hổ”; có khe Châu Ê chảy từ trái qua phải làm “thủy tụ”, gọi là “minh đường”. Nhà vua đổi tên núi Châu Chữ – vừa là hậu chẩm, vừa là “mặt bằng” của lăng – thành Ứng Sơn và gọi tên lăng theo tên núi là Ứng Lăng.
Lăng khởi công ngày 4-9-1920 do Tiền quân Đô thống phủ Lê Văn Bá là người chỉ huy và kéo dài suốt 11 năm mới hoàn tất. Tham gia xây dựng lăng có rất nhiều thợ nghề và nghệ nhân nổi tiếng khắp cả nước như Phan Văn Tánh, Nguyễn Văn Khả, Ký Duyệt, Cửu Sừng… Để có kinh phí xây dựng lăng, vua Khải Định đã xin chính phủ bảo hộ cho phép ông tăng thuế điền 30% trên cả nước và lấy số tiền đó để làm lăng. Hành động nay của Khải Định đã bị lịch sử lên án gay gắt.
So với lăng của các vua tiền nhiệm, lăng Khải Định có diện tích rất khiêm tốn hơn: 117 m x 48,5 m nhưng cực kỳ công phu và tốn nhiều thời gian. Để xây lăng, Khải Định cho người sang Pháp mua sắt, thép, xi măng, ngói Ardoise…, cho thuyền sang Trung Hoa, Nhật Bản mua đồ sứ, thủy tinh màu… để kiến thiết công trình.
Về kiến trúc lăng Khải Định được người đời sau thường đặt ra ngoài dòng kiến trúc truyền thống thời Nguyễn bởi cái mới, cái lạ, cái độc đáo, cái ngông nghênh, lạc lõng… tạo ra từ phong cách kiến trúc.
Về tổng thể, lăng là một khối hình chữ nhật vươn lên cao có 127 bậc cấp. Sự xâm nhập của nhiều trường phái kiến trúc như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique… đã để lại dấu ấn trên những công.
Lăng Tự Đức
Lăng Tự Đức là một quần thể công trình kiến trúc, trong đó có nơi chôn cất vua Tự Đức tọa lạc trong một thung lũng hẹp thuộc làng Dương Xuân Thượng, tổng Cư Chánh (cũ), nay là thôn Thượng Ba, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
Lúc mới xây dựng, lăng có tên là Vạn Niên Cơ, sau cuộc nổi loạn Chày Vôi, Tự Đức bèn đổi tên thành Khiêm Cung. Sau khi Tự Đức mất, lăng được đổi tên thành Khiêm Lăng.
Lăng Tự Đức có kiến trúc cầu kỳ, phong cảnh sơn thủy hữu tình, và là một trong những lăng tẩm đẹp nhất của vua chúa nhà Nguyễn.
Gần 50 công trình trong lăng ở cả hai khu vực tẩm điện và lăng mộ đều có chữ Khiêm trong tên gọi.
Giữa kiến trúc lăng và thiên nhiên có sự gần gũi, bổ trợ. Ðường nét kiến trúc thật phóng khoáng, hài hòa cùng thiên nhiên có sẵn, hoặc cải tạo lại cho phù hợp với nghệ thuật kiến trúc phong cảnh. Chính vì thế, Lăng Tự Đức thật sự là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình.

Chùa Thiên Mụ
Nói đến Huế, ngoài những lăng tẩm cung điện của triều Nguyễn phải kể đến những ngôi chùa nổi tiếng nhất trong số hàng trăm ngôi chùa cổ hiện nay ở cố đô Huế, đó là chùa Thiên Mụ. Đã hơn bốn trăm năm qua, trải qua bao vật đổi sao dời, chùa Thiên Mụ vẫn uy nghiêm bên dòng sông Hương thơ mộng. Tiếng chuông chùa Thiên Mụ từ bao đời nay đã được coi như một âm hưởng đặc trưng của xứ Huế.
Xưa kia nơi đây là một quả đồi hoang thuộc làng An Ninh, huyện Hương Trà, nay là phường Kim Long, thành phố Huế. Đầu thế kỷ XVII để tránh sự kìm hãm của Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa để gây dựng cơ đồ riêng. Lúc đó trong dân gian đang lưu truyền một huyền thoại rằng trên đồi thường xuất hiện một bà già tóc bạc, áo đỏ, quần xanh nói rằng: “Rồi đây sẽ có một vị chân chúa đến đây lập chùa thờ Phật để tụ linh khí”. Nguyễn Hoàng thấy mình đang được lòng dân nên tự nhận là chân chúa và cho xây chùa, đặt tên là chùa Thiên Mụ, đến đời Tự Đức đổi thành Linh Mụ nhưng tên gọi gốc thì vẫn được tiếp tục phổ biến cho đến bấy giờ.
Dưới con mắt của các nhà phong thủy thì vị trí của chùa Thiên Mụ quả là nơi đắc địa hiếm có. Chùa nằm trên ngọn đồi có nhiều cây cối xanh tốt, phía sau là những dãy gò đống nối dài, trước mặt là dòng sông Hương như dải lụa ôm sát chân đồi tạo nên sự hài hòa thơ mộng giữa kiến trúc với thiên nhiên. Chùa có khuôn viên rộng tới gần 4 ha, được bao bọc bởi tường gạch chu vi hơn 800m, phía trước là tháp đình, phía sau là điện miếu, tất cả đều toát lên vẻ trang nghiêm, huyền ảo. Tháp Phước Duyên trước sân chùa, được coi là biểu tượng của chùa Thiên Mụ, xây năm 1844, có hình bát giác, cao hơn 21m gồm 7 tầng với những kiến trúc hoa văn độc đáo, mỗi tầng thờ một vị Phật ngồi trông ra cửa hướng Nam. Tầng cuối cùng có 3 pho tượng Phật bằng vàng nhưng năm 1942 đã bị quân Pháp lấy mất, phải thay bằng 3 tượng đồng.
Lúc thanh bình, chùa là nơi để du khách vãng cảnh, thư giãn tinh thần, đáp ứng tâm linh. Khi thiên nhiên nổi giận, nước lũ trào dâng cao, với địa thế riêng của mình, chùa lại là nơi trú ngụ của chúng sanh, cứu vớt họ qua cơn hoạn nạn. Chùa Thiên Mụ xứng đáng được coi là danh lam thắng cảnh vào bậc nhất nhì trong nước.
Chùa Từ Hiếu
Chùa Từ Hiếu hay Tổ đình Từ Hiếu là tên một ngôi chùa ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Chùa là một trong những ngôi cổ tự lớn và là một danh lam có tính văn hoá và lịch sử của cố đô Huế.
Năm 1843, sau khi từ chức “Tăng Cang Giác Hoàng Quốc Tự” và trao quyền điều hành chùa Bảo Quốc cho pháp đệ là Nhất Niệm, Hoà thượng Nhất Ðịnh đã đến đây khai sơn, dựng “Thảo Am An Dưỡng” để tịnh tu và nuôi dưỡng mẹ già.
Hoà thượng Nhất Ðịnh nổi tiếng là người con có hiếu, tương truyền có lần mẹ già bị bệnh rất nặng, hàng ngày ông lo thuốc thang nhưng bà vẫn không khỏi. Có người ái ngại khuyên ông nên mua thêm thịt cá để tẩm bổ cho mẹ, có làm được điều đó mới mong bà chóng hồi sức. Nghe xong, mặc thiên hạ đàm tiếu chê bai, thiền sư vẫn chống gậy băng rừng lội bộ xuống chợ cách đó hơn 5 km để mua cá mang về nấu cháo cho mẹ già ăn. Câu chuyện vang đến tai Tự Đức vốn là vị vua rất hiếu thảo với mẹ, vua rất cảm phục trước tấm lòng của sư Nhất Định nên ban cho “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự”. Chùa được mang tên Từ Hiếu từ đó. Trong tấm bia ghi lại quá trình xây dựng chùa giải thích:
• Từ: là đức lớn của Phật, nếu không từ thì lấy gì tiếp độ tứ sanh cứu giúp vạn loại.
• Hiếu: là đầu hạnh của Phật, nếu không hiếu thì lấy gì để đạt thông cõi nhiệm bao phủ đất trời.
Chùa Từ Hiếu nằm khuất trong một rừng thông trên một vùng đồi của xã Thủy Xuân. Khuôn viên chùa rộng chừng 8 mẫu, phía trước có khe nước uốn quanh, phong cảnh thơ mộng.
Cấu trúc chùa theo kiểu ba căn hai chái, trước là chính điện thờ Phật, sau là Quảng Hiếu Đường. Ở khu nhà hậu có án thờ Tả quân đô thống Lê Văn Duyệt cùng con ngựa gỗ và thanh đại đao của ông.
Hai bên sân chùa có hai lầu bia để ghi lịch sử xây dựng chùa. Chùa được xây theo kiểu chữ khẩu chính điện ba căn, hai chái, phía trước thờ Phật, phía sau thờ Tổ. Nhà hậu là Quảng Hiếu đường, ở giữa thờ đức thánh quan, bên trái thờ hương linh phật tử tại gia, bên phải thờ các vị Thái giám…, bên tả sân hậu là Tả Lạc Thiên (nhà tăng) và bên hữu là Hữu Ái Nhật (nhà khách).
Xung quanh ngôi chùa Từ Hiếu còn có khá nhiều lăng mộ các vị phi tần của các chúa Nguyễn

Văn Miếu Huế
Văn Miếu lâu đời và tiêu biểu nhất, thu hút đông đảo khách thăm trong nước và thế giới, là văn miếu ở thủ đô Hà Nội. Ở Huế, lâu nay khách du lịch sau khi thăm các lăng tẩm, Ðại Nội, cũng chỉ lên tới chùa Thiên Mụ rồi quay lui. Ngay cả một đoàn khách Viện Hán Nôm – những người thông thạo và rất quan tâm đến các văn bia, mà tôi có dịp gặp, cũng không được đưa đến Văn Miếu xứ này. Vì đã bao năm, Văn Miếu Huế trong cảnh hoang tàn.
Khu Văn Miếu Huế (còn gọi là Văn Thánh) chỉ cách Thiên Mụ khoảng nửa cây số, nằm ngay bên bờ sông Hương, được xây dựng khá quy mô từ đầu triều Nguyễn. Năm 1805 bắt đầu xây kinh thành Huế và năm 1808 xây Văn Miếu. Các đời vua sau như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, Thành Thái đều cho tu bổ và xây dựng thêm nhiều công trình trong khu vực. Theo nhà nghiên cứu Phan Thuận An, khu Văn Miếu Huế có đến hơn 50 công trình kiến trúc và điêu khắc lớn nhỏ nằm trong hai vòng tường bao. Vòng bên trong (96 m x79 m) có cửa tam quan trổ ra hướng nam là Ðại Thành Môn, cao 3 tầng. Từ đây nhìn vào là Chính điện Văn Miếu – công trình kiến trúc lớn nhất trong khu vực, xây trên mặt bằng 32m x 25m, trong đó gian chính giữa thờ Khổng Tử…
Các tấm bia dựng trên lưng rùa xếp thành 2 hàng, mỗi hàng 16 cái: Bia lớn nhất cao 1,15m, rộng 0,85m; Rùa đá con lớn nhất dài 1,35m, rộng 0,77m, cao 0,60m. Trong số các vị tiến sĩ lưu danh ở đây, có những tên tuổi như Phan Ðình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, Ðinh Văn Chất, Nguyễn Thượng Hiền, Ngô Ðức Kế, Huỳnh Thúc Kháng…
Có thể nói, sau Văn Miếu Hà Nội, Văn Miếu Huế là di tích lịch sử văn hóa có giá trị, là một bằng chứng về nền văn hiến của dân tộc, là nơi tôn vinh các nhân tài của đất nước. Chính vì lẽ đó, sau khi quần thể di tích Huế được ghi tên vào Di sản văn hóa thế giới, cùng với việc trùng tu các di tích quan trọng khác ở Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Huế đã bước đầu trùng tu một số công trình ở Văn Miếu, với sự tài trợ của Hội Người yêu Huế tại Paris giá 325,5 triệu đồng. Ngoài cổng Văn Miếu được xây dựng lại, công trình đáng kể là 2 nhà che 32 tấm bia tiến sĩ. Những tấm bia bị nghiêng lún trước đây đều được kê kích, đệm móng và dựng lại ngay ngắn. “Trăm năm bia đá thì mòn…”, nhưng có nhà che, 2 dãy bia ở Văn Miếu Huế trải mưa nắng gần 2 thế kỷ, từ nay sẽ không bị bào mòn thêm nữa. Giá như cơ quan quản lý di tích bổ sung thêm bản sơ đồ 32 tấm bia kèm bản dịch nội dung của từng tấm bia (khoa thi, tên tuổi, quê quán… các vị tiến sĩ) thì sẽ giúp ích nhiều cho khách thăm, nhất là những người muốn tìm hiểu lịch sử thời Nguyễn.
Quốc Học Huế
Trường Quốc Học là một ngôi trường nổi tiếng ở Huế. Trường được thành lập vào ngày 23 tháng 10 năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái và được Toàn quyền Đông Dương ký quyết định ngày 18 tháng 11 năm 1896.
Trường đã đổi tên qua nhiều thời kỳ: Quốc Học (1896-1936), Trung học Khải Định (1936-1954), Trung học Ngô Đình Diệm (1955-1956) và được trở về với tên gốc vào năm 1956 cho đến nay. Tên lúc mới thành lập là “Pháp Tự Quốc Học Trường”, đến nay vẫn còn bảng ghi tên đó được lưu tại Phòng Truyền thống của trường.
Quốc Học Huế là ngôi trường đào tạo rất nhiều học sinh ưu tú và sau này là những lãnh tụ nổi tiếng của Việt Nam như: Nguyễn Sinh Cung, Ngô Đình Diệm, Trần Phú, Phạm Văn Đồng…
Đàn Nam Giao Triều Nguyễn
Đàn Nam Giao triều Nguyễn là nơi các vua Nguyễn tế trời.
Đàn Nam Giao được xây dựng vào năm 1803, đặt tại làng An Ninh, thời vua Gia Long. Năm 1806, đàn được dời về phía nam của kinh thành Huế, trên một quả đồi lớn thuộc làng Dương Xuân, nay thuộc địa phận phường Trường An, thành phố Huế.
Đàn gồm 3 tầng, xây chồng lên nhau, tượng trưng cho “tam tài”: thiên, địa, nhân; xung quanh là các bó gạch xếp chắc chắn.
Theo quan niệm xưa “Vua là Thiên tử” (con trời) nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế trời đất (cha mẹ của vua), cầu cho mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, tạ ơn trời đất. Lễ Tế Giao đầu tiên dưới thời Nguyễn được tổ chức năm 1807 và từ đó trở đi được tổ chức vào mùa xuân hàng năm cho đến thời Thành Thái, vào năm 1907, thì đổi lại 3 năm một lần.
Làng Kim Long
Làng Kim Long xưa, nằm ở bờ Bắc sông Hương (Thừa Thiên – Huế), được coi là sản phẩm du lịch nhà vườn Huế độc đáo. Người dân nơi đây giữ nếp văn hoá ứng xử thanh lịch, cởi mở với du khách.
Năm 1636, một năm sau khi lên ngôi, vị chúa thứ ba xứ Đàng Trong Nguyễn Phúc Lan dời phủ về làng Kim Long. Theo nhà nghiên cứu văn hoá Huế Phan Thuận An, cố đạo Alexandre de Rhodes đã mô tả Kim Long như là một thành phố lớn. Ông cho rằng phủ chúa lúc ấy rất khang trang, nhà cửa xinh xắn, phần lớn làm bằng gỗ với cột kèo chạm trổ tinh vi, nhà nào chung quanh cũng có vườn.
Núi Ngự Bình
Núi Ngự Bình thuộc thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế, cách kinh thành Huế khoảng 3km. Ngự Bình có dạng hình thang, đỉnh bằng phẳng, có thế bình phong che chở cho kinh thành Huế.
Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn viết “Phía Đông bắc Hương Thuỷ, nổi vọt lên ở quãng đất bằng” như hình bức bình phong làm lớp án thứ nhất trước kinh thành Huế, tục gọi là núi Bằng, đời Gia Long đặt cho tên hiện nay (Ngự Bình), đỉnh núi bằng phẳng, khắp nơi trồng thông”
Núi Ngự Bình cao 105m, dáng cân đối, uy nghi. Hai bên Bằng Sơn có hai ngọn núi nhỏ chầu vào gọi là Tả Bật Sơn và Hữu Bật Sơn. Vương triều Nguyễn được thành lập, quyết định xây dựng kinh thành Huế, thấy Bằng Sơn như một bức bình phong án ngữ trước mặt, Gia Long chấp nhận đồ án của các thầy địa lý: chọn núi này làm tiền án của hệ thống phòng thành đồ sộ, kiên cố và đổi tên cho ngọn núi này là Ngự Bình.
Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hoá, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thuỷ hữu tình của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đã trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương núi Ngự, miền Hương Ngự cũng vì vậy.
Sông Hương như một dải lụa mềm uốn quanh dưới chân đồi… Du khách có dịp đến đây vào buổi bình minh sương tan hay lúc hoàng hôn, mới hiểu hết và thấm thía vẻ đẹp nên thơ, nên họa của một ngọn đồi, một khúc sông, một góc trời xứ Huế.
Cầu Trường Tiền
Cầu Trường Tiền cầu qua sông Hương, đi từ ngã tư Lê Lợi- Hùng Vương ở bờ nam sang đường Trần Hưng Đạo ở bờ bắc. Cầu do công ty Eiffel của Pháp xây từ năm Thành Thái thứ chín (1897) đến năm Thành Thái thứ 11 (1899). Cầu dài 400 mét, rộng 6,2 mét gồm sáu vài (sáu gian), có bộ khung hình vòng cung. Cầu thoạt tiên mang tên vua Thành Thái. Nhưng sau khi vua Thành Thái bị Pháp đày sang đảo Réunion thì người Pháp đặt tên cầu là Clémnceau, theo tên của một Thủ tướng Pháp thời Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Năm 1945, cầu được đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng. Dân gian thì gọi là Trường Tiền vì gần đó, bên bờ bắc, có xưởng đúc tiền của quân Trịnh khi quân Đàng Ngoài vào chiếm đóng Thuận Hóa từ năm 1774 đến năm 1786. Sau này vào năm 1899 vua Thành Thái lại cho lập phố ở đây cũng lấy tên là phố Trường Tiền. Chiếc cầu cũng trải qua những cơn sóng gió: bị bão năm Thìn (1904) làm sập bốn nhịp, sửa chữa năm 1906 rồi sau đó bị đánh mình sập hai lần nữa vào vào năm 1946 trong chiến tranh với Pháp và 1968 trong chiến dịch Mậu Thân. Năm 1995, công ty Cầu Thăng Long trùng tu, xây lại hai nhịp cầu, nhưng lại đổi màu sơn truyền thống màu dụ bạc lấp lánh thành màu lam. Tất cả các bao lơn hình bán nguyệt trên mỗi nhịp cầu dành cho khách bộ hành đứng ngắm cảnh bị phá đi. Nhưng dù sao thì vẫn còn đó chiếc cầu nhìn xa xa trông giống như cái lược cài trên mái tóc sông Hương.
Cầu Bạch Hổ
Cầu Bạch Hổ: cầu dành cho đường sắt bắc qua sông Hương vào năm 1908 tại góc tây nam kinh doanh, bờ nam thuộc địa phận Phường Đúc. Cầu sơn màu đen cho nên dân gian cũng gọi là cầu Đen, nhưng ngày nay đã đổi thành màu trắng. Tên chữ của cầu là Dã Viên vì nó đi ngang qua cồn Dã Viên, nơi trước đây có đình tạ, vườn hoa, để làm nơi giải trí của các vua chúa. Các nhà nghiên cứu cho rằng tên Bạch Hổ thuộc về cây cầu Kim Long bắc qua Hộ Thành Hà.
Cầu Phú Xuân
Cầu Phú Xuân: cầu bắc qua sông Hương từ đường Lê Thánh Tôn (nay là đường Hà Nội) qua đường Trần Hưng Đạo ở vị trí bến xe Nguyễn Hoàng, được hãng Eiffel xây vào năm 1970-1971. Đường Quốc lộ 1 trước chạy qua cầu Dã Viên bấy giờ chuyển qua cầu này. Dân gian thường gọi là cầu mới.
Sông Hương, núi Ngự
Dù chưa một lần đến Huế, du khách hẳn cũng không lạ gì với địa danh sông Hương-núi Ngự đã đi vào điệu hò xứ Huế. Khách phương xa mơ về Huế và lưu luyến mảnh đất cố đô này cũng bởi ở đó có dòng Hương xanh biếc lững lờ trôi, có núi Ngự Bình mơ màng trăng gió…
Sông Hương, một tập hợp của hàng trăm con suối nhỏ xuất phát từ dãy Trường Sơn hùng vĩ, trùng điệp theo nhau về xuôi rồi lại hợp nhau thành hai nhánh chính: Tả Trạch và Hữu Trạch, đến Bằng Lãng thì cùng hợp dòng uốn lượn quanh co giữa một vùng rừng núi bạt ngàn xanh ngắt, rồi đổi hướng rẽ về đông lững lờ trôi ngang qua kinh thành Huế, rồi nhập vào phá Tam Giang đổ về biển xanh.
Cùng với sông Hương, núi Ngự Bình là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu tình của Huế. Núi Ngự Bình cao hơn 100 mét, hình dáng giống cái bình phong. Nhìn ngọn Ngự Bình cùng hai ngọn Tả Phù-Hữu Bật trông giống như con phượng hoàng đang xòe cánh che chở cho kinh thành
Kinh thành Huế
Kinh thành Huế nằm ở bờ bắc sông Hương và thuộc địa phận Tp. Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế.
Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc của phương Tây kết hợp một cách tài tình với kiến trúc thành quách phương Đông.
Huế từ xa xưa đã được các chúa Nguyễn chọn làm thủ phủ của xứ “Ðàng Trong” và chính thức trở thành kinh đô dưới triều Tây Sơn. Trong gần 4 thế kỷ, Huế đã trở thành một quần thể di tích kiến trúc và thắng cảnh vĩ đại, tổng thể di tích này đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới.
Kinh thành Huế – tổng thể kiến trúc của Cố đô Huế được xây dựng trên một mặt bằng diện tích hơn 500ha và được giới hạn bởi 3 vòng thành theo thứ tự ngoài lớn, trong nhỏ: Kinh Thành, Hoàng Thành và Tử Cấm Thành.
Tổng thể kiến trúc này dùng núi Ngự Bình làm tiền án và dùng hai hòn đảo nhỏ trên sông Hương là Cồn Hến và Dã Viên làm 2 yếu tố phong thuỷ rồng chầu hổ phục (Tả Thanh Long, Hữu Bạch Hổ) để bảo vệ Cố đô.
Kinh Thành Huế: Do vua Gia Long xây dựng từ năm 1805 và sau này được vua Minh Mạng tiếp tục hoàn thành vào năm 1832. Tại đó các vua triều Nguyễn đã cho xây dựng khá nhiều thành quách, cung điện và các công trình của hoàng gia. Trải qua gần 200 năm khu kinh thành hiện nay còn hầu như nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựng lớn nhỏ.
Kinh thành hình vuông với chu vi 10km, cao 6,6m, dày 21m, gồm có 10 cửa để ra vào. Xung quanh và ngay trên thành có thiết lập 24 pháo đài để phòng thủ. Ngoài ra còn có một cửa phụ thông với Trấn Bình Ðài gọi là Thái Bình Môn.
Cố đô Huế với sông Hương, núi Ngự và các cung điện lâu đài, lăng tẩm, đền, miếu, chùa chiền đã có hàng mấy trăm năm lịch sử giờ đây đang được nhân dân Việt Nam cùng cộng đồng Quốc tế đóng góp công sức và tiền của để tôn tạo tu bổ giữ cho kiến trúc cố đô Huế mãi mãi là di sản văn hoá của nhân loại.
Chợ Đông Ba
Nhắc đến chợ Huế, chắc ai cũng biết đến chợ Đông Ba. Một khu chợ sầm uất. Hàng ngày có không biết bao nhiêu người đến đây mua sắm, không chỉ bà con nơi đây mà lượng khách du lịch cũng rất đông.
Ðầu thế kỷ 20, chợ Ðông Ba được tu sửa nhiều lần nhưng vẫn giữ cốt cách cũ. Ðến năm 1967, chính quyền Sài Gòn cho triệt hạ chợ cũ và xây lại chợ mới. Công trình đang dang dở thì bị bom pháo Mỹ trong chiến dịch Huế Xuân 1968 bắn phá tan tành. Sau đó chính quyền Sài Gòn cho sửa chữa tạm để buôn bán. Ðến năm 1987, chợ Ðông Ba được đại trùng tu. Ngoài lầu chuông ở trung tâm, chợ Ðông Ba mới có 9 dãy nhà bao quanh cùng 4 khu hàng mới, như chợ cá, khu hàng tự sản, tự tiêu, khu hàng dịch vụ… với tổng diện tích mặt bằng xây dựng 15.597m². Ngoài ra ban quản lý chợ còn quản lý khu Hoa Viên Chương Dương, các bến bãi đỗ xe ôtô, xe lam, nơi giữ xe đạp, xe máy… nâng tổng diện tích mặt bằng thuộc chợ lên trên 47.614m² với 2.543 hộ kinh doanh cố định, 141 lô bạ, 500 – 700 hộ buôn bán rong. Bình quân mỗi ngày có từ 5.000 đến 7.000 khách đến chợ. Vào những dịp lễ tết, chợ đông hơn, có trên 1,2 vạn người.
Phong Điền
Phong Điền là tên của một huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Thừa Thiên-Huế, giáp với tỉnh Quảng Trị và huyện Hương Trà. Huyện có 15 xã (Điền Hương, Điền Môn, Phong Bình, Phong Chương, Điền Lộc, Phong Hoà, Điền Hoà, Phong Hải, Điền Hải, Phong Mỹ, Phong Thu, Phong Hiền, Phong An, Phong Xuân, Phong Sơn), 1 thị trấn (Phong Điền), diện tích tự nhiên là 953,8 km2, dân số trên 105.000 (1999); địa hình đa dạng, có cả núi đồi, đồng bằng, ven biển và đầm phá. Phong Điền là quê hương của các danh nhân Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Đình Chiểu… Huyện được đặt năm Minh Mạng thứ 15 (1834) thuộc phủ Triệu Phong, trấn Thuận Hoá; từ 11.3.1977, hợp nhất với các huyện Hương Trà, Quảng Điền thành huyện Hương Điền thuộc tỉnh Bình Trị Thiên (1976 – 89); từ 29.9.1990, chia huyện Hương Điền trở lại 3 huyện cũ thuộc tỉnh Thừa Thiên -Huế.

Tam Giang
Vực nước hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai được hợp thành từ 3 phần khác nhau: phá Tam Giang rộng 52km2, kéo dài 24km từ cửa sông Ô Lâu đến cửa sông Hương; đầm Sam và đầm Thuỷ Tú rộng 60km2, kéo dài khoảng 33km từ cửa sông Hương đến cửa sông Truồi; đầm Cầu Hai tiếp nối như một lòng chảo lớn hình bán nguyệt rộng 104km2, kéo dài khoảng 13km từ cửa sông Truồi đến chân núi Vĩnh Phong. Vùng đất ngập nước đầm phá Tam Giang – Cầu Hai phân bố trên chiều dài gần 70km, có tổng diện tích 248,7km2, chiếm khoảng một nửa tổng diện tích đầm phá ven bờ Việt Nam (480,5km2). Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai có tính đa dạng sinh học rất cao, bởi vậy nó xứng đáng là một bảo tàng nước.Thành phần nguồn gen của Tam Giang – Cầu Hai khá phong phú, hiện có 714 loài. Trong đó, 171 loài thực vật phù du, 37 loài động vật phù du, 54 loài thực vật nhỏ bám đáy, 43 loài rong tảo, 15 loài cỏ nước, 31 loài thực vật cạn, 63 loài động vật đáy… Chim trời cá nước ở đây cực kỳ phong phú và có nhiều loài quý hiếm. Hàng năm, trên các đầm lầy cỏ và thảm cỏ biển rất đặc thù, có đến 34 loài chim di cư trú ngụ, tại đây cũng có 36 loài chim định cư, trong đó có 21 loài được ghi vào danh mục bảo vệ nghiêm ngặt của cộng đồng châu Âu, 1 loài được ghi vào Sách đỏ Việt Nam. Chim nước tập trung mật độ cao ở 3 khu vực: cửa sông Ô Lâu, cửa sông Ðại Giang và đầm Sam. Mùa đông chim thường từ nơi phương xa bay về, có năm tới 2 vạn con, nhiều người đã từng gặp những đàn ngỗng trời trên 500 con, đàn le le trên 1000 con, có cả những đàn sâm cầm từ 2000-3000 con…Cá là nhóm có thành phần loài đông đúc nhất: 230 loài. Với các nhà khoa học, con cá dầy Tam Giang được coi là loài đặc hữu, có giá trị thương phẩm cao.
Qua khỏi phá Tam Giang chúng ta sẽ đến với tỉnh Quảng Trị
Quảng Trị
Quảng Trị là tỉnh ven biển thuộc vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam. Phía bắc giáp tỉnh Quảng Bình, phía nam giáp tỉnh Thừa Thiên-Huế, phía tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông. Trung tâm hành chính của tỉnh là thị xã Đông Hà nằm cách 598 km về phía nam thủ đô Hà Nội và 1.112 km về phía bắc thành phố Hồ Chí Minh . Nơi đây có sông Bến Hải – cầu Hiền Lương, giới tuyến chia cắt hai miền Nam – Bắc Việt Nam trong suốt 20 năm (1954 – 1975).
Quảng Trị nằm ở phía nam của Bắc Trung Bộ, trọn vẹn trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, là vùng chuyển tiếp giữa hai 2 miền khí hậu. Miền khí hậu phía bắc có mùa đông lạnh và phía nam nóng ẩm quanh năm. ở vùng này khí hậu khắc nghiệt, chịu hậu quả nặng nề của gió tây nam khô nóng, bão, mưa lớn, khí hậu biến động mạnh, thời tiết diễn biến thất thường, vì vậy trong sản xuất và đời sống nhân dân gặp không ít khó khăn.
Trong những năm Chiến tranh Việt Nam, Quảng Trị là một trong những nơi bị thả bom nhiều nhất. Ngày nay Quảng Trị là nơi có nhiều địa danh, di tích lịch sử.
• Qua cầu treo Đakrông là đến đường mòn Hồ Chí Minh.
• Thành cổ Quảng Trị là một nơi gắn liền với chiến dịch mùa hè 1972.
• Tại tỉnh này còn có một số địa danh khác như nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, địa đạo Vịnh Mốc, chiến trường Khe Sanh, căn cứ Cồn Tiên – Dốc Miếu, hàng rào điện tử McNamara…
• Quảng Trị còn có bãi tắm Cửa Tùng được các sĩ quan Hải quân Pháp mệnh danh là “hoàng hậu của các bãi tắm” Đông Dương.
Tỉnh có đường sắt Bắc Nam, đường quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh chạy qua. Đặc biệt có đường 9 nối với đường liên Á qua cửa khẩu quốc tế Lao Bảo sang Lào.
Tai đây chúng ta sẽ đi qua huyện Triệu Phong. Ngay đầu huyện là cầu Mỹ Chánh.
Triệu Phong
Triệu Phong là một huyện của tỉnh Quảng Trị, Việt Nam.
Triệu Phong là một huyện gồm chủ yếu là đồng bằng ven biển, với một ít gò đồi thấp thuộc các xã Triệu Thượng và Triệu Ái ở phía Tây, địa hình phía Đông huyện là cồn cát, đụn cát trắng. Diện tích tự nhiên của Triệu Phong là 354,9 km². Đoạn cuối của sông Thạch Hãn chảy ra cửa biển Cửa Việt, nằm trên địa bàn huyện.
Dân số huyện là 107.200 người (theo số liệu thống kê năm 2003).
Vào triều Lê sơ Triệu Phong là phủ thuộc trấn Thuận Hóa. Tới năm 1831, thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, Triệu Phong thuộc tỉnh Quảng Trị.
Tiếp theo chúng ta sẽ đi qua Hải Lăng, nơi có con đường mang tên Đại Lộ Kinh
Đại Lộ Kinh Hoàng
Đại Lộ Kinh Hoàng là tên không chính thức cho một đoạn đường dài khoảng 9 km tại tỉnh Quảng Trị, nơi mà Quân đội Nhân dân Việt Nam đã nã pháo vào đoàn quân Việt Nam Cộng hòa cùng dân chúng đang tháo chạy về phía Nam trong Chiến dịch Xuân-Hè 1972 thời kỳ Chiến tranh Việt Nam trận chiến đã làm hàng chục nghìn người chết, con đường quốc lộ đoạn qua Hải Lăng bấy giờ được gọi là “đại lộ kinh hoàng”, người chết la liệt.
Ngày 23 tháng 7 năm 2005 Giáo hội Phật giáo Việt Nam làm lễ cầu siêu cho các liệt sĩ tại Nghĩa trang Trường Sơn. Tháng 8/1973 đã diễn ra một lễ đại cầu siêu kéo dài 7 ngày 7 đêm. Hơn 3.000 tăng ni và hàng nghìn phật tử đã về đó tìm xác, chôn cất người chết. Chỉ riêng số xác tìm được phải trên 5-6 nghìn. Tất cả đều được chôn cất đàng hoàng và được làm lễ cầu an sinh linh. Bây giờ đi trên quốc lộ 1A, qua đó vẫn thấy Đài Địa Tạng lưu giữ dấu ấn về đại lễ cầu siêu năm đó”
Ngày 28 tháng 4 đến ngày 2 tháng 5 năm 2002, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972 tại Quảng Trị.
Trước khi vào thị xã Quảng Trị, ngay thị xã là thánh đường La Vang.
Thánh Đường La Vang
Thánh đường La Vang được biết với tuổi thọ đã 200 năm tuổi. Cũng giống như thánh địa Mecca của những người theo đạo Hồi, La Vang rất được du khách mộ đạo tìm đến cầu nguyện.
Kiến trúc cổ xưa của ngôi thánh đường theo thời gian giờ chỉ còn lưu lại tháp chuông, đài cầu nguyện Đức Mẹ.
Nhà nguyện cũ đã được trùng tu lại bằng vật liệu tạm để đón khách hành hương.
Du khách vẫn thích tìm đến La Vang để chiêm ngưỡng một trong những kiến trúc cổ xưa còn sót lại trên vùng đất này.
Vào tới thị xã Quảng Trị, phía bên phải là trường Bồ Đề và Thành Cổ Quảng Trị
Thành Cổ Quảng Trị
Thành cổ Quảng Trị thuộc phường 2, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, cách quốc lộ 1A 2km về phía đông.
Thành được xây từ năm thứ 4 đời vua Minh Mạng (1824). Nơi đây đã từng đương đầu với khối lượng bom đạn khổng lồ của quân Mỹ vào năm 1972.
Thành có chu vi gần 2km, cao chừng 4m, dày khoảng 1 đến 2m. Thành có 4 cửa theo bốn hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc. Bên ngoài chân tường có hào rộng chừng 18m.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, năm 1972 tại thành cổ Quảng Trị, quân Giải phóng Việt Nam đã phải đương đầu với khối lượng bom đạn khổng lồ của Mỹ – Nguỵ trút xuống thành cổ, với sức công phá tương đương 8 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã thả xuống Hirosima (Nhật Bản) năm 1945. Các chiến sĩ quân Giải phóng Việt Nam vẫn kiên cường bám trụ bảo vệ thành cổ suốt 81 ngày đêm tới khi có lệnh rút quân, tạo thế thắng trên bàn đàm phán của quân và dân ta tại Hội nghị Pari.
Những cái tên: Thành cổ, địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, hàng rào điện tử McNamara, căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu… trở thành điểm đến của khách du lịch trong nước và quốc tế.
Thành cổ Quảng trị được xếp vào danh mục những di tích quốc gia và còn là điểm thu hút hấp dẫn khách tham quan nhất là khách quốc tế. Thành cổ Quảng Trị nổi tiếng bởi cách đây 35 năm đã diễn ra trận chiến ác liệt diễn ra suốt 81 ngày đêm giữa lực lượng Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam và lực lượng Việt Nam Cộng hoà, có sự yểm trợ với vũ khí tối tân của quân đội Mỹ hòng chiếm lại thành cổ. Mỗi tấc đất ở thành cổ đều có bom đạn và xác người. Người dân đã coi thành cổ là vùng đất tâm linh.
Sau giải phóng, tượng đài tưởng niệm liệt sĩ hy sinh ở thành cổ được xây dựng. Tượng đài hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Tượng đài tạo ra một thế lưỡng nghi, trên là phần dương, dưới là phần âm. Phần dương có một lỗ thông từ dương đến âm và hai nửa vầng trăng khuyết, thể hiện dương có âm và âm có dương.
Hàng năm, cứ đến ngày 30.4 hay ngày 27.7, nhân dân ở đây lại thả những bó hoa xuống dòng sông để tưởng nhớ các liệt sĩ.
Tiếp tục chúng ta sẽ đi qua cầu Thạch Hãn rồi qua Ái Tử. Nơi đây Nguyễn Hoàng chạy lánh nạn và bắt đầu xây bánh trướng nhà Nguyễn ở xứ đàng trong.
Khi vào tới thị xã Đông Hà, nhìn bên trái là đường 9 đi Lao Bảo
Cửa Khẩu Lao Bảo
Cửa khẩu Lao Bảo là một cửa khẩu của Việt Nam trên đường biên giới giữa Việt Nam và Lào, thuộc huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đối diện với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo ở bên kia đường biên giới là cửa khẩu Den Savanh của Lào. Cửa khẩu Lao Bảo nằm trên quốc lộ 9 từ Đông Hà sang Lào, cách thị xã Đông Hà khoảng 80 km, và ngay cạnh sông Sepon.
Trung tâm Thương mại Lao Bảo cách cửa khẩu biên giới 2 km. Nhiều hàng hóa của Thái Lan mang từ Lào sang được buôn bán ở đây. Tại Trung tâm Thương mại này tương đối sầm uất, hàng hóa phong phú, chủ yếu hàng hóa có xuất xứ từ Thái Lan, Khách tham quan du lịch có thể mua chế độ miễn thuế 500.000 đồng/người. Lao Bảo cách Thái Lan 250 km. Từ 1993, Lao Bảo trở thành một cửa khẩu quốc tế quan trọng và du lịch giữa Lào, Thái Lan với các tỉnh miền Trung Việt Nam.
Đi trên quốc lộ 1A, chúng ta sẽ đi qua chợ Đông Hà rồi đi qua cầu Đông Hà bắc qua sông Cam Lộ, nhìn bên phải là con đường đi Cửa Việt. Tiếp tục chạy thêm một đoạn nữa, phía bên trái có con đường đi vào nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn.
Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trường Sơn
Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn là nơi quy tập phần mộ các liệt sĩ trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm chiến tranh thống nhất đất nước.
Nghĩa trang được xây dựng tại khu vực Bến Tắt, cạnh đường quốc lộ 15, thuộc địa phận xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh; cách thị xã Đông Hà, tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị khoảng 38km về phía tây bắc, cách quốc lộ 1A (đoạn thị trấn huyện lỵ Gio Linh) chừng hơn 20km về phía tây bắc. Nghĩa trang có diện tích 140.000m², nằm trên 3 quả đồi ở cạnh thượng nguồn sông Bến Hải, ranh giới cắt chia hai miền Bắc – Nam thời kháng chiến chống Mỹ. Đây là nơi Bộ tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn đã chọn. Đây là một trong 72 nghĩa trang liệt sỹ của tỉnh Quảng Trị.
Mộ bắt đầu được quy tập từ đây từ cuối năm 1974. Nghĩa trang được xây từ cuối năm 1974 đến năm 1977 thì hoàn thành, đây là nghĩa trang có quy mô lớn nhất Việt Nam, có kiến trúc, bố cục độc đáo, không giống đa phần nghĩa trang liệt sĩ khác ở Việt Nam.
Tại thời điểm tháng 4 năm 2006 ở đây có 10.263 phần mộ; được chia thành 10 khu vực theo địa phương: Hà Nội, Bình Trị Thiên, Hà Nam Ninh, Hà Sơn Bình, Hải Hưng, Thái Bình, Hà Bắc, Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Ninh, Vĩnh Phú, Hải Phòng, Cao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Hà Tiên… nơi liệt sĩ sinh ra và một khu dành cho 68 liệt sĩ khuyết danh. Các phần mộ được xây kiên cố, có sơ đồ mộ chí, được 21 quản trang trông nom, giữ gìn chu đáo.
Sau đó đi them một đoạn nữa thì sẽ đi qua Dốc Miếu
Căn cứ quân sự Dốc Miếu
Căn cứ quân sự Dốc Miếu nằm ở phía Đông Quốc lộ 1A thuộc địa phận thôn Gia Phong cách thị trấn Gio Linh 3 km về phía Bắc.
Dốc Miếu là đồi đất đỏ bazan, nơi đây, từ năm 1947 thực dân Pháp đã đóng chốt quân sự để án ngữ Quốc lộ 1A, được gọi là đồn Ba Dốc.
Dốc Miếu được coi là cứ điểm quan trọng nhất của phòng tuyến McNamara. Ở đây địch xây dựng những hệ thống hầm nhà ván, hệ thống lô cốt di động bằng bê tông, có trận địa pháo mặt đất thường bắn phá ra bờ Bắc sông Bến Hải, có trận địa phòng không 37, trung tâm điều khiển bảo vệ hàng rào, chi đội thiết giáp tuần tra cùng nhiều đại đội hỗn hợp Mỹ – ngụy. Xung quanh căn cứ, ngoài các hàng rào kẽm gai ken dày bom mìn là hệ thống máy móc báo động chống xâm nhập.
Và tiếp theo chúng ta sẽ đi tới vĩ tuyến 17 nơi có con sông Bến Hải và cây cầu
Cầu Hiền Lương
Cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải, tại Hiền Lương, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị. Cầu nằm tại km735 Quốc lộ 1, nơi vĩ tuyến 17 đi qua.
Theo hiệp định Giơnevơ 1954 về Việt Nam, Việt Nam tạm thời bị chia làm hai miền Bắc-Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, điểm giữa cầu nằm trên ranh giới này. Năm 1972 cầu Hiền Lương bị bom của Quân đội Hoa Kỳ phá hủy hoàn toàn. Năm 1976 cầu Hiền Lương mới được xây cách cầu cũ 35m về phía hạ lưu. Năm 2003 cầu Hiền Lương cũ cùng cụm di tích cột cờ và đồn biên phòng được khôi phục lại đúng vị trí cũ.
Vĩ tuyến 17
Vĩ tuyến làm ranh giới quân sự tạm thời để tách lực lượng vũ trang Việt, Pháp về hai phía theo Hiệp định Giơnevơ về Việt Nam 1954. Hội nghị Trung Giã (Thái Nguyên) và Phước Môn (Quảng Trị) đã lấy sông Bến Hải làm ranh giới thực tế, mỗi bờ lấy từ mép nước về phía mình 5 km là khu phi quân sự. Trong tuyên bố chung của Hội nghị Giơnevơ 1954 ghi rõ: “Đường ranh giới về quân sự chỉ có tính chất tạm thời, không thể coi như là một biên giới chính trị hoặc lãnh thổ”. Trong thực tế, các chính quyền Sài Gòn kế tiếp nhau và Mĩ đều coi VT 17 là biên giới quốc gia để chia cắt lâu dài Việt Nam.
Qua sông Bến Hải là tới huyện Gio Linh
Gio Linh
Gio Linh là một huyện nhỏ của tỉnh Quảng Trị, phía bắc giáp huyện Vĩnh Linh, phía đông giáp biển Đông, phía nam giáp Thị xã Đông Hà, huyện Triệu phong và huyện Cam Lộ, phía tây giáp huyện Hướng Hóa và huyện Dakrong. Nơi đây từng là bờ Nam của vĩ tuyến 17, chia đôi hai miền Việt Nam.
Diện tích 473 km²
Dân số 72.100 người
Từ sông Bến Hải đi thêm một đoạn nữa, nhìn bên trai có con đường đi ra Cửa Tùng.
Cửa Tùng
Sau những di tích lịch sử cách mạng nổi tiếng ở Quảng Trị mà du khách tham gia lễ hội nhịp cầu xuyên Á sẽ viếng thăm, danh thắng nhiều người muốn đến nhất có lẻ là Cửa Tùng.
Cửa Tùng xưa được gọi là biển Thừa Lương bởi khi vua Duy Tân lên ngôi (năm 1907), nhà vua mới 8 tuổi, mọi việc trong triều đều giao cho Phụ chánh đại thần Trương Như Cương, vua Duy Tân không chịu ở tù túng trong cung cấm, thích đi đây đó, người Pháp bấy giờ chiều ý vua nên đã nhường nhà nghỉ mát Cửa Tùng của Khâm sứ Brière cho vua ngự, nhà nghỉ mát này được gọi là Thừa Lương Cửa Tùng.
Nhiều giai thoại về vị vua nhà Nguyễn yêu nước này đã gắn với Cửa Tùng như chuyện một lần vua bốc cát chơi, nhớp cả hai tay, quan hầu cận bưng nước cho vua rửa tay, vua không rửa ngay mà hỏi: Tay nhớp lấy nước mà rửa, nước nhớp lấy chi mà rửa? Năm 16 tuổi vua Duy Tân đã bị người Pháp đày qua đảo Reunion vì vua đã đồng ý cùng nhiều nhà cách mạng khởi nghĩa chống Pháp! Nhà Thừa Lương ấy bây giờ vẫn chưa ai xác định được vị trí nhưng lòng yêu nước của vua Duy Tân thì nhiều người dân nơi miền đất này đã tiếp nối bằng những huyền thoại mà giờ đây huyền thoại ấy vẫn còn lưu dấu trên những chứng tích lịch sử:
Nhưng không chỉ anh hùng, đất Vĩnh Giang này còn có những mảnh làng sinh ra toàn nghệ sĩ nổi tiếng, nhiều người đã vang danh một thời như giọng ngâm thơ của các nghệ sĩ Châu Loan, Châu Dinh, Châu Phụng; những nghệ sĩ như Trần Duyến, Ái Chủng; nghệ sĩ ưu tú Kim Quý, Kim Phú, Sĩ Cừ…Cả Vĩnh Giang có hơn 30 nghệ sĩ trứ danh và hậu duệ của họ cũng đang là thế hệ nghệ sĩ trẻ đầy triển vọng ở nhiều đoàn nghệ thuật.
Cùng với cây cầu, dự án mở một tuyến đường ven biển dài 14 km nối 2 khu du lịch biển sẽ thực sự tạo thành một hệ thống du lịch biển liên hoàn thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội của vùng duyên hải Quảng Trị.
Từ cửa Tùng chúng ta só thể thuê tàu để ra đảo Cồn Cỏ
Cồn Cỏ
Cồn Cỏ (còn gọi là Hòn Cỏ, Con Cọp, Hòn Mệ…) là một đảo nhỏ ở biển Đông, thuộc tỉnh Quảng Trị, miền Trung Việt Nam. Diện tích của đảo trước đây gần 4 km², nay khoảng 2,2 km². Về mặt hành chính, đảo Cồn Cỏ đồng thời là huyện Cồn Cỏ.
Cồn Cỏ cách Mũi Lay 27 km về phía đông. Trước khi thành lập huyện đảo Cồn Cỏ, đảo thuộc xã Vĩnh Quang, huyện Vĩnh Linh và do Tỉnh đội Quảng Trị quản lý.
Theo các nhà khảo cổ học với những phát hiện mới nhất, ở khu vực Bến Nghè của đảo đã tìm thấy nhiều công cụ đá của con người thời đá cũ cách đây hàng vạn năm. Trong thời gian của những thế kỷ đầu Công nguyênđi, Cồn Cỏ đã từng là địa bàn cư dân Chămpa đặt chân đến.
Trong khoảng thế kỷ 17 – thế kỷ 18, trên con đường giao lưu buôn bán, cư dân Đại Việt cũng đã coi Cồn Cỏ là một điểm dừng. Những phát hiện khảo cổ học ở khu vực Bến Tranh trong tháng 7 năm 1994 đã ghi nhận điều đó.
Tương truyền rằng, dưới thời nhà Nguyễn, Cồn Cỏ là nơi đầy ải của những người có tội. Ở đây, bộ đội đảo khi khơi một giếng cũ (không rõ được đào từ thời nào) đã tình cờ phát hiện một bộ hài cốt cùng với xích cùm bằng sắt
Tiếp tục đi theo quốc lộ 1A, cũng về bên phải cũng có 1 con đường đi vào địa đạo Vĩnh Mốc.
Vĩnh Mốc
Thuộc xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một làng chài khiêm nhường có gần 100 nóc nhà nằm trên bờ biển phía Đông nam thị trấn Hồ Xá chừng 13km, cách bãi tắm Cửa Tùng 7km về phía Bắc, cách đảo Cồn Cỏ anh hùng 30km về phía Tây. Trong kháng chiến chống Mỹ, ngoài đặc điểm chung của Vĩnh Linh là “tuyến đầu của miền Bắc, hậu phương trực tiếp của miền Nam” Vịnh Mốc có một vị thế vô cùng quan trọng cho việc tập kết và vận chuyển lương thực, vũ khí cho đảo Cồn Cỏ.
Toàn bộ địa đạo được đào trong lòng quả đồi đất đỏ có độ cao chừng 30m, rộng hơn 7ha. Hệ thống đường hầm cấu trúc hình vòm có kích thước khoảng 0,9m x 1,75m với độ dài 2034m bao gồm nhiều nhánh nối thông với nhau qua trục chính dài 780m, có 13 cửa ra vào, được chống đỡ bằng cột nhà, gỗ và ngụy trang khá kín đáo, tất cả đều đào chếch theo hướng gió, đảm bảo chức năng thông hơi cho đường hầm. Địa đạo gồm 3 tầng có độ sâu và chức năng khách nhau. Tầng 1 cách mặt đất 8 – 10 mét dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn tạm thời; tầng 2 sâu 12 – 15 mét là nơi sống và sinh hoạt của dân làng, tầng 3 có độ sâu hơn 30 mét là nơi trung chuyển hàng hoá, vũ khí ra thuyền lên đảo Cồn Cỏ.
Để đảm bảo cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta khoét vào rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho 3 – 4 người ở. Ngoài ra trong
Đường hầm còn có hội trường (sức chứa hơn 50 người dùng làm nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim), 3 giếng nước, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm phẩu thuật, trạm gác, máy điện thoại … đặc biệt có nhà hộ sinh, nơi ra đời của 17 đứa trẻ suốt trong hai năm 1967 – 1978.
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá – Thông tin đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Cũng từ đó, di tích này luôn được Đảng, Chính phủ và các ngành chức năng hết sức quan tâm đầu tư tôn tạo để gìn giữ di sản quý báu này. Hiện nay, địa đạo Vịnh Mốc làm thu hút mọi du khách đông nhất trong tuyến du lịch nổi tiếng và độc đáo: DMZ
Đi hết huyện Gio Linh chúng ta sẽ đến với tỉnh Quảng Bình.
Quảng Bình
Quảng Bình là một tỉnh duyên hải thuộc vùng Bắc Trung Bộ. Quảng Bình nằm ở nơi hẹp nhất của dải đất hình chữ S của Việt Nam.
Diện tích tự nhiên của Quảng Bình là 8051,86 km², Dân số Quảng Bình năm 2004 có 829.800 người
Phía bắc giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía nam giáp tỉnh Quảng Trị, phía tây giáp nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía đông giáp biển Đông.
Trên địa bàn tỉnh có 5 sông lớn là sông Gianh, sông Ròn, sông Nhật Lệ (là hợp lưu của sông Kiến Giang và sông Long Đại), sông Lý Hoà và sông Dinh với tổng lưu lượng 4 tỷ m³/năm. Các sông này do nhiều lưu vực hợp thành và đều bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển.
Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn – nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha – Kẻ Bàng.
Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông với 5 cửa sông, trong đó có hai cửa sông lớn, có cảng Nhật Lệ, cảng Gianh, cảng Hòn La, Vịnh Hòn La có diện tích mặt nước 4 km2, có độ sâu trên 15 mét và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La, Hòn Cọ, Hòn Chùa có thể cho phép tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét. Trên đất liền có diện tích khá rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu
Tỉnh có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, có cảng Hòn La, Quốc lộ I A và đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang Tây qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào.
Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v… sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ.
Dải đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa bãi biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng được công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới đây cũng được công nhận là khu du lịch quốc gia Việt Nam.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hoá Hoà Bình và Đông Sơn, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, thành quách của thời Trịnh – Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v… Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hoá nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn- Hà- Cảnh – Thổ- Văn- Võ- Cổ – Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă – xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp…
Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, Quảng Bình thuộc bộ Việt Thường(cần thú thích).
Thời Hán, Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam. Sau khi Champa dành được độc lập và lập nước Lâm Ấp (thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định ngày nay)các triều vua Champa thường vượt đèo Hải Vân tiến ra cướp phá đất Nhật Nam và Cửu Chân và họ đã làm chủ vùng đát từ đèo Ngang trở vào khi nhà Tấn (Trung Quốc) suy yếu. Từ đó Quảng Bình là vùng đất địa đầu của Champa đối với các triều đại Trung Hoa cũng như các triều đại Việt khi người Việt đã dành được độc lập
Năm 1069, Lý Thánh Tông – vua của Đại Việt đánh Champa bắt được vua Champa đưa về Thăng Long, để được tha vua Champa đã dâng đất (Địa Ly, Bố Chính, Ma Linh) tương ứng với tỉnh Quảng Bình và các huyện Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, bắc Hướng Hóa của Quảng Trị ngày nay cho Đại Việt và Quảng Bình chính thức thuộc về Đại Việt từ năm 1069
Đời Lê Trung Hưng có tên là Tiên Bình. Năm 1604 đổi tên là Quảng Bình.
Chúa Nguyễn Phúc Khoát chia Quảng Bình thành 3 dinh: dinh Bố Chính (trước là dinh Ngói), dinh Mười (hay dinh Lưu Đồn), dinh Quảng Bình (hay dinh Trạm).
Tỉnh được thành lập năm 1831, đặt phủ Quảng Ninh, sau đặt thêm phủ Quảng Trạch.
Năm 1976 ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên, đến năm 1990 lại tách ra như cũ.
Năm 2006, Quảng Bình đóng góp vào ngân sách nhà nước 450 tỷ đồng, chi ngân sách địa phương 823,73 tỷ đồng. Dự toán thu ngân sách năm 2006 của các tỉnh thành Việt Nam. GDP đầu người năm 2006 đạt 450 USD.
Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Gia đình của Ngô Đình Diệm, Nhà thơ Hàn Mạc Tử, Nhà thơ Lưu Trọng Lư, Trương Xán
Quảng Bình là vùng giao thoa của hai nền văn hoá cổ Việt – Chămpa, thể hiện ở những di chỉ có niên đại 5 nghìn năm đã khai quật được ở Bàu Tró, phía bắc Đồng Hới.
Quảng Bình nổi tiếng với di sản thiên nhiên thế giới Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
Động cách Đồng Hới 50 km và là một dải kỳ quan nằm sâu trong lòng núi, cách đỉnh núi 800 – 900 m. Dài 7729 m, động có 14 hang do dòng sông ngầm dài 13.969 m hoà tan đá vôi tạo thành.
Chúng ta sẽ đi qua huyện Lệ Thủy, phía bên phải của quốc lộ là Ao Sen. Qua Ao Sen một đoạn sẽ đi qua cầu Qán Hàu bắc qua sông Nhạt Lệ.
Sông Nhật Lệ
Sông Nhật Lệ chảy qua địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ núi U Bò, Co Roi (Trường Sơn) chảy ra Biển Đông tại cửa Nhật Lệ.
Sông có chiều dài 85 km với hai nhánh chính: sông Long Đại (hay Đại Giang) chảy qua huyện Quảng Ninh và sông Kiến Giang chảy qua huyện Lệ Thủy, gặp nhau ở Trung Quán.
Sông Nhật Lệ cùng sông Gianh, Hoành Sơn, Đèo Ngang là những địa danh nổi tiếng của tỉnh Quảng Bình trong dòng chảy lịch sử ,văn hoá của dân tộc Việt. Sông Nhật Lệ còn có tên là Đại Uyên được đổi thành sông Nhật Lệ khoảng năm 1069-1075.
Nhật Lệ là dòng sông tuyệt đẹp của vùng đất miền Trung. Tên sông có nghĩa là “sự rực rỡ của ánh sáng mặt trời.
Qua cầu là vào tới thành phố Đồng Hới. Đoạn qua thành phố thì bên tay trái có Quảng Bình Quan còn bên phải là tượng đài mẹ suốt. Một người mẹ bất khuất trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc ta. Sau khi đi qua nhà thờ Tam Tòa, nhìn bên tay trái có con đường đi khoảng 40 km là tới Phong Nha – Kẻ Bàng.
Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng
Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng là một vườn quốc gia tại huyện Bố Trạch, và Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình, cách thành phố Đồng Hới khoảng 50 km về phía Tây Bắc, cách thủ đô Hà Nội khoảng 500 km về phía nam[1][2]. Vườn quốc gia này giáp khu bảo tồn thiên nhiên Hin Namno ở tỉnh Khammouan, Lào về phía tây, cách Biển Đông 42 km về phía đông kể từ biên giới của hai quốc gia.
Phong Nha-Kẻ Bàng nằm ở một khu vực núi đá vôi rộng khoảng 200.000 ha thuộc lãnh thổ Việt Nam, khu vực lãnh thổ Lào tiếp giáp vườn quốc gia này cũng có diện tích núi đá vôi khoảng 200.000 ha. Diện tích vùng lõi của vườn quốc gia là 85.754 ha và một vùng đệm rộng 195.400 ha[3]. Vườn quốc gia này được thiết lập để bảo vệ một trong hai vùng carxtơ lớn nhất thế giới với khoảng 300 hang động và bảo tồn hệ sinh thái bắc Trường Sơn ở khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam[4][5]. Đặc trưng của vườn quốc gia này là các kiến tạo đá vôi, 300 hang động, các sông ngầm và hệ động thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và Sách đỏ thế giới. Các hang động ở đây có tổng chiều dài khoảng hơn 80 km nhưng các nhà thám hiểm hang động Anh và Việt Nam mới chỉ thám hiểm 20 km, trong đó 17 km ở khu vực Phong Nha và 3 km ở khu vực Kẻ Bàng.
Động Phong Nha là động giữ nhiều kỷ lục: Hang nước dài nhất; Cửa hang cao và rộng nhất; Bãi cát, đá rộng và đẹp nhất; Hồ ngầm đẹp nhất; Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất; Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam; Hang khô rộng và đẹp nhất thế giới.
Kiến tạo carxtơ của Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được hình thành từ 400 triệu năm trước, từ thời kỳ Đại Cổ Sinh do đó là carxtơ cổ nhất ở châu Á.
Trải qua nhiều thay đổi lớn về địa tầng và địa mạo, địa hình khu vực này hết sức phức tạp. Phong Nha-Kẻ Bàng phô diễn các bằng chứng ấn tượng về lịch sử Trái Đất, giúp nghiên cứu lịch sử hiểu được lịch sử địa chất và địa hình của khu vực. Khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng có lẽ là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp nhất về sự kiến tạo carxtơ phức tạp ở Đông Nam Á. Được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm 2003, Phong Nha-Kẻ Bàng đang hướng tới mục tiêu được UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học vào năm 2008.
Và đèo Ngang là ranh giới cuối cùng kết thúc tour miền trung của chúng ta.
Đèo Ngang
Đèo Ngang là tên một con đèo nằm ở ranh giới của hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Đây là một thắng cảnh nổi tiếng của miền Trung Việt Nam.
Đèo Ngang nằm trên quốc lộ 1A, trên dãy Hoành Sơn đoạn dãy Trường Sơn chạy ngang ra biển Đông. Đèo dài 2.560 m, đỉnh cao khoảng 250 m (750 ft), phần đất phía Quảng Bình thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, phần đất phía Hà Tĩnh thuộc xã Kỳ Nam, huyện Kỳ Anh. Đèo Ngang cách thị trấn Ba Đồn 24 km, sông Gianh 27 km, thị xã Đồng Hới 80 km về phía Nam, cách thị xã Hà Tĩnh 75 km về phía Bắc. Đây là ranh giới cũ giữa Đại Việt và Chiêm Thành sau khi người Việt giành được độc lập (939) và trước thời kỳ Nam Tiến của người Việt (1069). Thời Pháp thuộc đèo có tên trên bản đồ là Porte d’Annam.
Trên đỉnh đèo Ngang hiện còn “Cổng Trời” di tích của cửa ải Hoành Sơn Quan bằng gạch đá được xây vào năm 1833 thời vua Minh Mạng để kiểm soát việc qua đèo. Đứng trên đỉnh Ngoạn Mục để ngắm biển thì tuyệt đẹp, núi non kỳ vĩ, biển trời mênh mông.
Gần đèo Ngang về phía Quảng Bình có đền thờ bà Liễu Hạnh di tích kiến trúc – nghệ thuật – tôn giáo, các bãi tắm Hòn La, Quảng Đông, Cảnh Dương với rừng dương xanh mướt, cát vàng óng ánh và các đảo ở ngoài khơi như Hòn La, Hòn Vụng Chùa, Hòn Cỏ, Hòn Gió, đảo Yến tạo thành những thắng cảnh tuyệt đẹp. Gần đèo Ngang về phía Hà Tĩnh có bãi tắm đèo Con sạch đẹp, thoải và kín gió. Đền thờ bà Bích Châu hay còn gọi là đền thờ bà Hải gần núi Cao Vọng, núi Ô Tôn, núi Bàn Độ, vũng Áng, là quần thể danh thắng du lịch bắc đèo Ngang.
Ngày nay, khách qua đèo Ngang thường đi bằng đường hầm xuyên núi. Công trình này có chiều dài 2.849m gồm cả phần hầm và đoạn tuyến hai đầu do Tổng Công ty Sông Đà đầu tư, thi công và khánh thành thông xe ngày 21/8/2004.

Miền Trung có may mắn được Sở hữu những bờ biển đẹp nhất VN, có 5/7 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới của Việt Nam, có hệ sinh thái gồm biển đảo – đầm phá – rừng nhiệt đới…, miền Trung được xem là “vùng đất thiên đường” để phát triển du lịch. Nhưng thiên đường ấy chưa được hình thành ở miền Trung.
Thống kê sơ bộ, dọc duyên hải miền Trung từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận có không dưới 200 dự án resort, khách sạn biển cao cấp đã và đang được xây dựng. Tất cả đều lấy chung một slogan rất kêu là “Thiên đường trong mơ”.
Miền Trung là một vùng bờ biển tuyệt đẹp kéo dài hơn 1.000km với nước xanh cát trắng, vô số vịnh và hải đảo vẫn còn hoang sơ. Đó là chưa kể dải Trường Sơn chạy song song bờ biển, chứa trong mình biết bao nguồn lợi về sinh thái, tạo cho miền Trung một thiên nhiên hết sức đa dạng.
Đến với miền Trung quý khách sẽ được ngắm nhìn nhựng cảnh đẹp của thiên nhiên, của con người tạo ra với sự đa dạng và độc đáo của các nền văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Óc Eo- Chăm Pa như tháp chăm, lăng tẩm, đền chùa…
Bên cạnh đó đến nơi đây quý khách còn được thưởng thức những món ăn đặc sản cực kỳ hấp dẫn của từng địa phương mà bạn đi qua.

I/NỘI DUNG TUYẾN ĐIỂM MIỀN BẮC
1) ĐỊA LÝ
Diện tích:
Dân số:
Bao gồm các tỉnh: Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Lạng Sơn, Hà Giang, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Yên Bái, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình.
Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ. Phía Tây giáp Lào và Trung Quốc. Phí Bắc giáp Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Tây). Phía Nam giáp Quảng Bình.
Địa hình được bao bọc bởi 3 dãy núi chính là: cánh cung Đông Triều, Hoàng Liên Sơn, dãy núi Đá vôi Tam Điệp – Ninh Bình và Thanh Hóa. Các núi này thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam nên sông suối cũng chảy theo hướng này. 2/3 diện tích là núi đồi. Có đỉnh núi cao nhất là Phanxipăng cao 3.143m được coi là “Ngọc ngà Đông Dương”. Vùng đồng bằng sông Hồng rộng 25.000km², cao trung bình dưới 5m so với mực nước biển.
Khí hậu: một năm có 4 mùa rõ rệt. Riêng khu vực miền núi nơi có độ cao trên 1.000m vào mùa đông nhiệt độ ở đây có thể xuống 0ºC, có nơi có tuyết rơi (Mẫu Sơn – Lạng Sơn, Phanxipăng, Sa Pa).
Sông ngòi: Có hệ thống sông Hồng lớn nhất, bồi lắng tạo nên đồng bằng sông Hồng lớn thứ 2 cả nước, là cái nôi hình thành văn minh Nông nghiệp trồng lúa nước, tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Ngoài ra, có hệ thống sông Thái Bình, bồi lắng các tỉnh Bắc Ninh, Hải Dương, Thái Bình; hệ thống sông Mã (Thanh Hóa), sông Lam (Hà Tĩnh). Sông thường khô hạn vào mùa khô, lũ lụt vào mùa mưa bão, nên từ sâu trong tâm trí người Việt đã có sự tích Sơn Tinh – Thủy Tinh. Sông suối ở miển núi nhiều thác ghềnh thuận lợi làm thủy điện. Có các thủy điện như: thủy điện Hòa Bình trên sông Đà, thủy điện Sơn La ở thượng nguồn sông Đà, thủy điện Thác Bà trên sông Lô.
Giao thông vận tải: Có sân bay quốc tế Nội Bài là trung tâm của vùng, ngoài ra còn có các sân bay Điện Biên, sân bay Vinh, sân bay Hải Phòng, sân bay quân sự Gia Lâm. Đường thủy có cảng Hải Phòng lớn nhất miền Bắc dùng để giao thương quốc tế. Ngoài ra trên các con sông lớn ghe thuyền có thể vận chuyển liên tỉnh, liên huyện trong vùng đồng bằng Bắc Bộ. Đường sắt: Từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) có thể đi Hải Phòng, Lạng Sơn, Lào Cai, Thái Nguyên, Hà Tĩnh vào Sài Gòn; nó được nối tiếp đến Bắc Kinh, Mátxcơva, và Châu Âu. Đường bộ có Quốc lộ 1A xuyên suốt từ Hà Tĩnh đến Lạng Sơn qua Hà Nội. Quốc lộ 5: Hà Nội đi Hải Phòng. Quốc lộ 18: Hà Nội đi Quảng Ninh. Quốc lộ 3: Hà Nội đi Thái Nguyên. Quốc lộ 2: Hà Nội đi Hà Giang. Quốc lộ 6: Hà Nội đi Hòa Bình, Sơn La,…
Động thực vật: Có 2 hệ sinh thái tiêu biểu:Ở những vùng núi cao trên 1.000m, động thực vật mang yếu tố cận ôn đới với loài thông đặc thù, tiêu biểu là đỉnh Phanxipăng; Các vùng cao dưới 1.000m là rừng nhiệt đới tiêu biểu là vườn quốc gia Cúc Phương, Bến En, Cát Bà, Tam Đảo, khu bảo tồn thiên nhiên Ba Bể,…
Tài nguyên du lịch: Có 3 loại Tài nguyên chính: Tài nguyên du lịch miền biển có: Vịnh Hạ Long, Đồ Sơn – Hải Phòng, Sầm Sơn – Thanh Hóa, Cửa Lò – Nghệ An. Vùng đồng bằng sông Hồng là cái nôi của lịch sử văn hóa Việt Nam nên nhiều đền đài, di tích, chùa chiền,… hàng ngàn năm tuổi mang đậm bản sắc Việt Nam. Bao gồm các lễ hội dân gian với các loại hình Nghệ thuật độc đáo như chèo, ả đào, ca trù, múa rối nước, hát xoan,… Khu vực miền núi với nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống như: Thái, Mường, Dao, Nùng, Lô Lô, Sán Dìu, Xá Phó, Tày Mường, phù hợp loại hình du lịch văn hóa kết hợp chợ phiên. Ngoài ra do địa hình thắc trở nhiều thác ghềnh, phong cảnh đẹp, ruộng bậc thang nên phù hợp du lịch mạo hiểm khám phá.
2) LỊCH SỬ
Cách đây 4.000 năm, người Việt cổ tách ra từ cộng đồng Bắc Việt (phía Nam sông Dương Tử – miền trung Trung Quốc) xuôi theo dòng sông Hồng về miền Phú Thọ lập nên 18 đời vua Hùng từ từ bỏ qua thời kỳ đồ đá, bước vào thời kỳ đồ sắt lập ra Nhà nước Văn Lang đóng đô ở Phong Châu.
Đến thế kỷ IX trước Công nguyên, cư dân Văn Lang tiến về đồng bằng sông Hồng khai phá, bắt đầu trồng cây lúa nước, đóng đô ở Cổ Loa. Từ đó, nước ta bị đô hộ bởi phương Bắc. Nước Âu Lạc trở thành quận Giao Chỉ của Trung Quốc. Dân Giao Chỉ đứng lên đấu tranh theo Hai Bà Trưng ở Mê Linh.
Đến thế kỷ thứ VI có khởi nghĩa Lý Bí. Và đến năm 1938 sau chiến thắng Bạch Đằng, nhà Đinh, nhà Lê đóng quân ở Ninh Bình. Năm 1010, Lý Thái Tổ quyết định dời kinh đô về Thăng Long mở ra 8 đời vua nhà Lý.
Năm 1070, xây dựng Chùa một cột, đây là Phật giáo cực thịnh ở thời Lý, Trần trong việc triều chính áp dụng mô hình của Khổng Giáo đến xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giáo. Đến thời Nhà Hồ có nhiều cải cách độc đáo (tiền giấy, cân, đo, xây thành, cải cách hành chính). Đến cuối đời Lê, trong triều xuất hiện hai thế lực chú Trịnh và chúa Nguyễn. năm 1558, Nguyễn Hoàng theo lời Nguyễn Bỉnh Khiêm vào Đàng Trong mở ra 9 đời chúa, 13 đời vua (ở Ải Thuận Hóa). Từ đó nổ ra cuộc nội chiến Trịnh Nguyễn phân tranh kéo dài 200 năm. Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi đóng đô ở Phú Xuân, ba miền Bắc – Trung – Nam trở về một khối. Năm 1832, vua Minh Mạng lập thành Hà Nội thay thế Thăng Long xưa.
Năm 1883, sau hiệp ước Pa-trơ-nốt, miền Bắc trở thành xứ thuộc địa.
Năm 1930, Đảng Cộng Sản được thành lập ở Hương Cảng đã về đến Hà Nội và khắp 3 miền. Phong trào đầu tiên chống Pháp là Xô Viết Nghệ Tĩnh năm 1930 – 1931.
Từ năm 1936 – 1939 là thời kỳ hoạt động của Cách mạng Dân Chủ,
Năm 1941, tại Pắc Pó – Cao Bằng, sau 30 năm Bác Hồ trở lại lãnh đạo cuộc kháng chiến.
Năm 1944, hội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân ra đời.
Năm 1945, Cách mạng tháng 8 giành thắng lợi.
2-9-1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ở quảng trường Ba Đình.
Năm 1946, Pháp quay lại đánh chiếm Hà Nội, Bác Hồ ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, bắt đầu cuộc kháng chiến 9 năm (Việt Bắc, Biên Giới, Điện Biên Phủ),…
Sau khi chiến thắng trận Điện Biên Phủ, miền Bắc đứng lên xây dựng Xã hội Chủ Nghĩa và chi viện cho miền Nam.
Năm 1965, Mỹ sau sự kiện Bắc Bộ bắt đầu ném bom Hà Nội. Cao điểm là năm 1972.
Năm 1976, phiên họp đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất diễn ra tại Hà Nội, quyết định lập ra nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, chọn Hà Nội là thủ đô. Sau đó miền Bắc bước vào hàn gắn vết thương chiến tranh.
Trong thời bao cấp đã có sự sai lầm trong chính sách chế độ ruộng dất và tem phiếu.
Năm 1986, bí thư Thành Uỷ thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Linh đã kiến nghị trước cuộc họp hội đồng đại biểu nhân dân và chính sách “mở cửa” ra đời.
3) NHÂN VĂN
Do có lịch sữ 4.00 năm nên có rất nhiều danh nhân. Ở vùng còn giữ rất nhiều thuần phong mỹ tục của người Việt như: giọng nói, lễ cưới, lễ tang, cúng đình, nề nếp gia phong,…
4) CÁC VẤN ĐỀ KHÁC
Các chuyên đề về đồng bằng sông Hồng, Phố cổ Hà Nội, phố cũ Hà Nội. chuyên đề về ẩm thực: phở, chả cá, bánh tôm Tây Hồ, bánh cốm, bánh đậu xanh, vải thiều Lục Ngạn, nhãn Hưng Yên, nem Thanh Hóa, tương bần,…
Các chuyên đề về lễ hội dan gian, về Đền Hùng, Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, chọi trâu, chùa Hương, rối nước, hát quan họ,…
Chuyên đề về các làng nghề thủ công: gốm sứ Bát Tràng, Đông Triều, lụa Hà Đông (Vạn Phúc), tranh Đông Hồ, điêu khắc gỗ Hải Dương, làng đào Nhật Tân.

II/ TUYẾN ĐIỂM CỤ THỂ
1. HÀ NỘI CITY TOUR
SƠ ĐỒ TUYẾN HÀ NỘI CITY TOUR

Hà Nội
Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam, đồng thời cũng là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại và du lịch quan trọng của Việt Nam. Hà Nội là thủ đô lâu đời của Việt Nam và tính đến tháng 10 năm 2010 Hà Nội kỉ niệm 1000 năm.
Hà Nội nằm ở bờ phải của con sông Hồng, cách thành phố Hồ Chí Minh 1760 km. Hà Nội nằm trong vùng châu thổ sông Hồng thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, giáp với 6 tỉnh: Thái Nguyên ở phía bắc, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên ở phía đông và đông nam, Hà Tây và Vĩnh Phúc ở phía nam và phía tây.
Hà Nội trở thành thủ đô của toàn Việt Nam sau ngày Bắc Nam thống nhất 2 tháng 7 năm 1976.
Hà Nội còn có nhiều các tên gọi không chính thức khác, chủ yếu xuất hiện trong văn thơ và dân gian: Trường An hay Tràng An (lấy theo tên gọi của kinh đô của Trung Quốc thời kỳ nhà Hán và nhà Đường); Phượng Thành hay Phụng Thành (trong bài phú của Nguyễn Giản Thanh); Long Thành, Long Biên, Kẻ Chợ (trong dân gian); Thượng Kinh, Kinh Kỳ, Hà Thành, Hoàng Diệu, ngay sau Cách mạng tháng Tám – 1945, đôi khi trong các báo chí của Việt Nam sử dụng tên này để chỉ Hà Nội.
Vùng đất quanh Hà Nội hiện đại hiện nay được biết đến ít nhất 3000 TCN. Một trong những điều đầu tiên được biết đến là thành Cổ Loa được tìm thấy khoảng 200 TCN.
Hệ thống giao thông Hà Nội rất đa dạng, bao gồm giao thông công cộng như xe buýt, taxi, giao thông cá nhân như xe máy (đa số), ô tô. Đặc biệt ở Hà Nội có loại hinh xích lô thường dùng để phục vụ du lịch. Ngoài ra Hà Nội cũng là đầu mối đường sắt và đường hàng không lớn nhất miền Bắc.
Hà Nội có hệ thống sông ngòi khá lớn, đặc biệt có sông Hồng chảy giữa thành phố, thuận lợi cho việc vận tải bằng đường sông. Trong vài năm trở lại đây đã xuất hiện thêm cả loại hình du lịch bằng tàu trên sông Hồng.
Hà Nội là một trong hai trung tâm văn hóa – giải trí lớn nhất của Việt Nam (cùng với Thành phố Hồ Chí Minh).
Hà Nội từ xưa đã được coi là một trung tâm văn hóa lớn của Việt Nam. Rất nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật lớn đã ra đời trên địa bàn thành phố, cũng như rất nhiều danh nhân văn hóa của Việt Nam đã có thời gian hoạt động ở Hà Nội. Nhiều môn nghệ thuật từ thời phong kiến vẫn còn tồn tại đến ngày nay trên địa bàn thủ đô như ca trù, múa rối nước, tạo nên nét độc đáo riêng cho văn hóa Hà Nội. Một điểm đặc biệt của văn hóa Hà Nội là đã có rất nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật được sáng tác với chủ đề về chính Hà Nội và con người Hà Nội.
Tham quan và giải trí
Đền Ngọc Sơn và Cầu Thê Húc, Công viên Thống Nhất, Công viên Thủ Lệ trước là vườn bách thú, Vườn Bách Thảo, Công viên Tuổi Trẻ, Công viên nước Hồ Tây, Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Thiền Quang, Hồ Trúc Bạch, Phủ Chủ Tịch, Lăng Hồ Chí Minh, Thành cổ Hà Nội, Thành Cổ Loa, Thăng long tứ trấn, Phủ Tây Hồ, Văn miếu, Chùa Một Cột, Chùa Quán Sứ, Khu phố cổ Hà Nội .
Ẩm thực Hà Nội
Bánh cuốn Thanh Trì, Phở Hà Nội, chả cá Lã Vọng, bánh cốm, bánh cuốn Thanh Trì, bánh tôm Hồ Tây, nem tai…
Khách sạn
Có nhiều khách sạn sang trọng ở Hà nội: đó là Sofitel Metropole, Hilton Hanoi Opera. Sofitel Metropole là khách sạn có từ thời kỳ là thuộc địa của Pháp. Khách sạn được bình chọn là khách sạn đẹp đứng thứ 2 ở châu Á bởi tạp chí du lịch Condé Nast nhờ vào vẻ đẹp cổ của nó (2007)
Từ thành phố Hồ Chí Minh bay ra Hà Nội, chúng ta sẽ đáp xuống sân bay quốc tế Nội Bài.
Sân Bay Quốc tế Nội Bài
Sân bay quốc tế Nội Bài là cảng hàng không quốc tế ở miền Bắc. Sân bay này là cửa ngõ giao thông quan trọng không chỉ của thủ đô Hà Nội mà còn của cả miền Bắc. Đây là sân bay lớn thứ hai của Việt Nam hiện nay, sau sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất ở Sài Gòn. Sân bay quốc tế Nội Bài thuộc huyện Sóc Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 45 km về phía Tây Bắc. Tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Nội Bài (tiếng Anh: Noi Bai International Airport). Sân bay này do Cụm cảng hàng không miền Bắc (NAA), một cơ quan của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam, quản lý.
Sân bay quốc tế Nội Bài, nguyên là một căn cứ không quân của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam, đã được cải tạo để phục vụ cả mục đích dân sự và quân sự.
Cầu Thăng Long
Cầu Thăng Long bắc qua sông Hồng tại vị trí km6+300 trên quốc lộ Nam Thăng Long, con đường nối sân bay quốc tế Nội Bài với Hà Nội, thủ đô của Việt Nam.
Chiều dài: 3.500m. Cầu đường bộ và đường sắt đi chung, gồm 2 tầng. Cầu có 25 nhịp phần cầu chính và 46 nhịp cầu đường dẫn của đường sắt và đường xe thô sơ.
Phường Nhật Tân
cách trung tâm thủ đô Hà Nội 7Km về phía tây bắc, Phường nằm ven Hồ Tây, có đường Âu Cơ đi Chèm (Thụy Phương) và đường Lạc Long Quân, thuộc quân Tây Hồ thành phố Hà Nội. Phía đông giáp phường Tứ Liên, phía đông nam giáp phường Quảng An, phía tây nam giáp phường Xuân La, phía tây và tây bắc giáp phường Phú Thượng, đông bắc giáp với sông Hồng và bên bờ bắc là xã Tàm Xá huyện Đông Anh.
Phường Nhật Tân trải dài hai bên bờ phía đông bắc và phía tây Hồ Tây. Bên bờ phía đông bắc Sông Hồng có thôn Bắc ở phía ngoài bãi và thôn Đông, bên bờ phía tây của Hồ Tây có thôn Tây và thôn Nam. Xã Nhật Tân trước năm 1945 có diện tích tự nhiên 341,2 Ha với khoảng trên 2000 nhân khẩu nhưng chỉ có 141,7 Ha đất canh tác. Phường Nhật Tân hiện nay với 365,2 Ha diện tích 341,2 Ha đất canh tác với trên 8000 người.
Tương truyền nghề trồng đào có ở Nhật Tân từ xuân Kỷ Dậu năm 1789. Lúc đó vua Quang Trung sau khi đại thắng quân Thanh đã sai người đến Nhật Chiêu (Nhật Tân ngày nay) lấy một cành đào đưa hỏa tốc đến Phú Xuân tặng Ngọc Hân công chúa báo tin thắng trận. Làng đào từ đó phát triển dần và định hình ở đây. Đến đầu thế kỷ XX Nhật Tân bắt đầu trồng loại hoa đào mới, hoa đào bích. Kỹ thuật trồng hoa đào ở Nhật Tân đạt đến trình độ điêu luyện không nơi nào theo kịp.
Sông Hồng
Sông Hồng có tổng chiều dài là 1.149 km bắt nguồn từ Trung Quốc chảy qua Việt Nam và đổ ra biển Đông. Đoạn chảy trên đất Việt Nam dài 510 km.
Sông Hồng còn có các tên gọi khác như Hồng Hà hay sông Cái. Đoạn chảy trên lãnh thổ Trung Quốc được gọi là Nguyên Giang , đoạn đầu nguồn có tên là Lễ Xã Giang. Đoạn từ Lào Cai đến Việt Trì gọi là Sông Thao, đoạn qua Hà Nội còn gọi là Nhĩ Hà hoặc Nhị Hà.
Sông Hồng bắt nguồn từ dãy núi Ngụy Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở độ cao 1.776 m. Chủ yếu nó chảy theo hướng tây bắc-đông nam, qua huyện tự trị Nguyên Giang của người Thái, Di, Cáp Nê, ở Việt Nam gọi là người Hà Nhì) trước khi sang Việt Nam ở thị trấn Hà Khẩu (Trung Quốc), giáp giới với thành phố Lào Cai của Việt Nam, rồi chảy qua phía đông thủ đô Hà Nội trước khi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt (ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và Nam Định).
Ở Lào Cai sông Hồng cao hơn mực nước biển 73 m. Đến Yên Bái cách Lào Cai 145 km thì sông chỉ còn ở cao độ 55 m. Giữa hai thị trấn đó là 26 ghềnh thác, nước chảy xiết. Đến Việt Trì thì triền dốc sông không còn mấy nên lưu lượng chậm hẳn lại. Đồng bằng sông Hồng nằm ở hạ lưu con sông này.
Các sông nhánh chính của sông Hồng có thể kể đến là sông Đà, sông Lô (với phụ lưu là sông Chảy và sông Gâm). Sông Hồng có phân lưu phía tả ngạn là sông Đuống chảy từ Hà Nội đến Phả Lại thuộc Hải Dương và sông Luộc chảy từ Hưng Yên đến huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Hai sông này nối sông Hồng với hệ thống sông Thái Bình. Phân lưu phía hữu ngạn là sông Đáy và sông Đài (còn gọi là Lạch Giang hay Ninh Cơ), nối sông Hồng và sông Đáy là hai sông Phủ Lý và sông Nam Định. Ở Trung Quốc, các sông như sông Lý Tiên (tức sông Đà), sông Đăng Điều (tức sông Nậm Na), sông Bàn Long (tức sông Lô) và sông Phổ Mai (tức sông Nho Quế) cùng một số sông nhỏ khác như sông Mễ Phúc, sông Nam Khê chảy qua biên giới hai nước vào Việt Nam.
Nước sông Hồng về mùa lũ có màu đỏ-hồng do phù sa mà nó mang theo, đây cũng là nguồn gốc tên gọi của nó. Lượng phù sa của sông Hồng rất lớn, trung bình khoảng 100 triệu tấn trên nǎm tức là gần 1,5 kg phù sa trên một mét khối nước.
Cầu Long Biên
Cầu Long Biên là cây cầu thép đầu tiên bắc qua sông Hồng tại Hà Nội, do Pháp xây dựng (1899-1902) và đặt tên là cầu Doumer, đọc như Đu-me (tên của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer). Dân gian còn gọi là cầu sông Cái. Hiện trên đầu cầu vẫn còn tấm biển kim loại có khắc chữ “1899 -1902 – Daydé & Pillé – Paris”.
Chiều dài toàn cầu 1.862 m, gồm 19 nhịp dầm thép và đường dẫn xây bằng đá. Cầu dành cho đường sắt đơn chạy ở giữa. Hai bên là đường dành cho xe cơ giới và đường đi bộ. Đường cho các loại xe là 2,6m và luồng đi bộ là 0,4m. Luồng giao thông của cầu theo hướng đi xuôi ở phía trái cầu chứ không phải ở bên phải như các cầu thông thường khác.
Trong chiến tranh phá hoại miền Bắc Việt Nam của không lực Hoa Kỳ (1965-1972) cầu Long Biên bị ném bom 14 lần. Để bảo vệ cầu, bộ đội công binh và phòng không Việt Nam xây dựng hai trận địa pháo phòng không cao 11,5 m trên bãi cát nổi giữa sông Hồng (còn gọi là bãi giữa), để vẫn có thể bắn máy bay Hoa Kỳ khi có lũ cao nhất.
Lịch sử sử dụng cầu Long Biên đã chứng kiến các điểm cao trên thành cầu trở thành ụ pháo cao xạ chống máy bay Mỹ trong thời gian chiến tranh.
Sang thời bình, do giao thông ngày một tăng trong thập kỷ 90, cầu Long Biên được sử dụng chỉ cho tàu hỏa, xe đạp và người đi bộ. Việt Nam xây dựng thêm cầu Chương Dương nằm trong mục tiêu đáp ứng nhu cầu đi lại và để phát triển kinh tế, xã hội đô thị ở hai bờ sông Hồng Hà Nội. Cuối năm 2005 xe máy được phép đi qua cầu Long Biên để giảm việc ùn tắc giao thông cho cầu Chương Dương.
Cầu Chương Dương
Cầu Chương Dương bắc qua sông Hồng, trên quốc lộ 1A tại km170+200, địa phận Hà Nội. Đây là cây cầu lớn lần đầu tiên được thiết kế và thi công tại Việt Nam không cần có sự trợ giúp kỹ thuật của các kỹ sư nước ngoài. Tại cây cầu này các kỹ sư cầu đường của Việt Nam tự thử sức mình để có thể tự thiết kế và thi công các cây cầu lớn khác.
Đây là cây cầu nối quận Hoàn Kiếm với quận Long Biên của Hà Nội.
Cầu được xây năm 1983, đưa vào sử dụng năm 1986.
Từ 2002 cầu được sửa chữa, gia cố. Cầu có chiều dài: 1.230m. Gồm 21 nhịp: 11 nhịp thép; 10 nhịp bê tông trong đó 7 nhịp ở phía Hà Nội và phía Gia Lâm có 3 nhịp.
Chùa Trấn Quốc
Chùa tọa lạc phía Nam hồ Tây, đường Thanh Niên, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993) giới thiệu chùa nguyên là chùa Khai Quốc, dựng từ thời Tiền Lý Nam Đế (541-547) tại thôn Yên Hoa, gần bờ sông Hồng. Đến đời Lê Trung Hưng (1615), chùa được dời vào trong đê Yên Phụ, dựng trên nền cũ cung Thúy Hoa (thời Lý) và điện Hàn Nguyên (thời Trần). Trong các năm 1624, 1628 và 1639, chùa được tiếp tục trùng tu, mở rộng. Trạng nguyên Nguyễn Xuân Chính đã soạn bài văn bia dựng ở chùa vào năm 1637 về công việc tôn tạo này. Đầu đời Nguyễn, chùa lại được trùng tu, đúc chuông, đắp tượng. Năm 1821, Vua Minh Mạng đến thăm chùa, ban 20 lạng bạc để tu sửa. Năm 1824, Vua Thiệu Trị đến thăm chùa, ban 1 đồng tiền vàng lớn và 200 quan tiền, cho đổi tên chùa là Trấn Bắc. Nhưng tên chùa Trấn Quốc từ đời Vua Lê Hy Tông đã được nhân dân quen gọi cho đến ngày nay.,Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
Chùa Trấn Quốc là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, nằm cạnh Hồ Tây, ở cuối đường Thanh Niên, quận Ba Đình, Hà Nội. Chùa được xây từ thời Lý Nam Đế (541-547) ở gần sông Hồng, đến năm 1615, được dời vào vị trí ngày nay. Chùa có vườn tháp cổ u tịch, có nhiều tượng Phật giá trị, đặc biệt là tượng Thích Ca nhập Niết Bàn. Chùa là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.
Chùa Trấn Quốc nằm trên bán đảo phía đông của Hồ Tây, nên thuộc đất làng Yên Phụ, nơi có ngôi đình thờ thánh. Vào mùa xuân hằng năm dân làng tổ chức đám rước từ đình sang chùa rồi từ chùa về làng bằng cả một đoàn thuyền nối nhau cờ reo trống thúc tưng bừng.
Hồ Tây
Hồ Tây – hay còn có tên hồ Mù Sương (Dâm Đàm), hồ Trâu Vàng (Kim Ngưu hồ), Đầm Xác Cáo – là một hồ lớn nhất ở nội thành Hà Nội (với diện tích hơn 500 ha). Con đường đi vòng quanh hồ dài tới 17 km. Hồ nằm ở phía tây bắc Hà Nội. Có giả thuyết cho rằng hồ là một đoạn sông Hồng cũ còn sót lại sau khi sông đã đổi dòng.
Theo truyện “Hồ Tinh” thì hồ có tên là hồ (hoặc đầm) Xác Cáo vì truyện kể là có con cáo chín đuôi ẩn nấp ở đây làm hại dân. Long Quân dâng nước lên phá hang cáo, cáo chết nôn ra nước thành hồ tây bây giờ.
Theo truyện “Khổng Lồ đúc chuông” thì hồ lại có tên là Trâu Vàng. Truyện kể rằng ông Khổng Lồ có tài thu hết đồng đen của phương Bắc đem đúc thành chuông. Chuông đánh lên tiếng vang sang bên Bắc. Vì đồng đen là mẹ vàng nên con trâu vàng phương Bắc nghe tiếng chuông liền chạy đi tìm mẹ. Tới đây nó quần thảo mãi khiến chân bị chảy máu thành hồ tây
Theo sách xưa ghi chép thì thế kỷ 11, hồ này mang tên hồ Dâm Đàm (đầm Mù Sương). Tới thế kỷ 18 thì đã gọi là Tây Hồ.
Hồ Tây từ xa xưa đã là thắng cảnh nổi tiếng. Từ thời Lý-Trần, các vua chúa đã lập quanh hồ nhiều cung điện làm nơi nghỉ mát, giải trí như cung Thuý Hoa đời nhà Lý, tức điện Hàm Nguyên đời nhà Trần nay là khu chùa Trấn Quốc; cung Từ Hoa đời nhà Lý nay là khu chùa Kim Liên; điện Thuỵ Chương đời nhà Lê nay là khu Trường Chu Văn An.
Đền Quán Thánh
Nằm trên góc đường Cổ Ngư (nay là đường Thanh Niên) và phố Quán Thánh (trông ra Hồ Tây), đền Quan Thánh là nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ – thần trấn cửa Bắc thành Thăng Long.
Đền Quán Thánh còn gọi là Trấn Vũ Quán là nơi thờ thánh Trấn Vũ tại Hà Nội. Tên đền có khi bị gọi nhầm là Quan Thánh.
Cứ như ba chữ tạc trên nóc cổng ra vào thì đây là Trấn Vũ Quán. Thực ra cái tên Đền Quán Thánh này mới có từ năm 1980. Trước kia tên gọi chính là Trấn Vũ Quán, và dân chúng gọi nôm na là Đền Quán Thánh. Quán là Đạo Quán và là nơi thờ tự của Đạo Giáo, cũng như chùa là của Phật Giáo. Thánh Trấn Vũ là một hình tượng kết hợp nhân vật thần thoại Việt Nam (ông Thánh đã giúp An Dương Vương trừ ma trong khi xây dựng thành Cổ Loa) và nhân vật thần thoại Trung Quốc (Thánh coi giữ phương Bắc).
Tương truyền đền có từ đời Lý Thái Tổ (1010-1028). Nhưng diện mạo đã được tu sửa vào năm 1838. Kiến trúc đền thuộc loại đẹp. Các mảng chạm, khắc trên gỗ có giá trị nghệ thuật rất cao. Bố cục không gian rất thoáng và hài hòa. Hồ Tây trước mặt tạo cho đền luôn có không khí mát mẻ quanh năm.
Trong đền có bức tượng Trấn Vũ đúc bằng đồng đen năm 1667, cao 3,69 m, nặng khoảng 4 tấn. Tượng có hình dáng một người ngồi, y phục gọn gàng nhưng tóc lại bỏ xõa, chân không mang giày, tay trái bắt quyết, tay phải chống gươm thần có rắn quấn quanh và chống lên lưng rùa. Đó là một Đạo sĩ. Tượng Trấn Vũ là một công trình nghệ thuật độc đáo duy nhất tại Việt Nam, khẳng định nghệ thuật đúc đồng và tạc tượng của người Hà Nội cách đây ba thế kỷ.
Khu Phố Cổ Hà Nội
Khu Phố cổ Hoàn Kiếm là nơi hội tụ 36 phố phường có bề dày gần một ngàn năm lịch sử của một khu đô thị buôn bán sầm uất.
Khu phố mang đậm trong mình những dấu vết lịch sử. Các phố mang tên các mặt hàng được sản xuất hoặc bày bán ở đó: phố Hàng Bông, phố Hàng Gai, phố Lò Rèn, phố Hàng Đường, …
Mạng lưới đô thị phản ánh cơ cấu tổ chức thành thị cổ xưa gồm 36 phường nghề . Cơ cấu này về mặt không gian và xã hội là hiện thân của một di sản phi vật chất đặc biệt, duy trì các nghề cổ và giới thiệu nhiều hoạt động mang tính chất truyền thống tại các khu phố.
Không những vậy, vẫn còn một di sản giàu kiến trúc đang tồn tại. Nhiều ngôi nhà cổ như những ngôi nhà ở có nhiều giá trị, đình, đền thờ và nhiều ngôi chùa đã minh chứng cho điều đó. Kiến trúc của khu phố cổ được thể hiện đặc biệt qua 3 phong cách: cách xây dựng theo kiểu truyền thống của Việt Nam hoặc Trung Quốc, kiến trúc thuộc địa kiểu Pháp và phong cách nghệ thuật trang trí.
Ngày nay, khu Phố cổ đang tận dụng cơ hội phát triển kinh tế và đón nhận một lượng khách du lịch rất lớn : các quán cà-phê, nhà hàng, cửa hàng bán đồ lưu niệm thủ công và các khách sạn nhỏ đã lần lượt ra đời. Một số nghề như nghề thủ công lụa tơ tằm và buôn bán kim hoàn đã có những bước phát triển vượt bậc.
Để bảo tồn di sản của khu phố cổ, Bộ xây dựng Việt Nam ngay từ năm 1995 đã ra quyết định về nguyên tắc bảo tồn và trùng tu khu Phố cổ.
Bộ văn hoá và thông tin Việt Nam đã xếp hạng Khu phố cổ danh hiệu Di sản lịch sử của quốc gia ngày 5 tháng 4 năm 2004.
Rối Nước Thăng Long
Trong nhiều loại hình nghệ thuật cổ truyền ở nước ta, múa rối nước là một trong những môn nghệ thuật được mời biểu diễn ở nhiều nước trên thế giới, được khán giả các nước hoan nghênh nhiệt liệt. Báo chí nước ngoài đã có nhiều bài viết về môn nghệ thuật độc đáo này với nhận định “Múa rối nước đã trả cho nhân loại một di sản văn hoá vinh quang mà trước đây nó bị nằm trong quên lãng”. Hiện nay, múa rối nước Việt Nam đang được đề nghị công nhận là di sản văn hoá của nhân loại.
Theo sử liệu cũ, múa rối nước ở nước ta có từ lâu đời. Nghệ thuật múa rối nước là sản phẩm đặc sắc của vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam với nền văn minh lúa nước. Mỗi phường múa rối nước đều có những đặc điểm, thế mạnh riêng, nhưng nhìn chung, các tích trò đều gắn với truyền thuyết lâu đời từ thời dựng nước, phản ánh sinh hoạt và lao động của người nông dân trên đồng ruộng với bao lo toan vất vả trước thiên tai, địch hoạ nhưng vẫn lạc quan, yêu đời.
Múa rối nước cũng như các loại hình nghệ thuật dân gian khác không phải tất cả đều sinh ra từ Thăng Long – Hà Nội, nhưng khi được trình diến ở đất Kinh kỳ – nơi hội tụ, kết tinh, toả sáng và phát triển các giá trị văn hoá dân tộc – bộ môn nghệ thuật đó dần được nâng cao cả về nội dung và hình thức. Chất bác học hoà quyện với chất dân gian làm cho nghệ thuật Thăng Long – Hà Nội có nhựa sống dồi dào, khắc phục những thô sơ, thô thiển của buổi sơ khai để vươn tới hoàn thiện.
Hồ Gươm
Hồ Gươm với Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn… đi vào lòng người xa xứ, vào trái tim du khách, in đậm trong tim những người chưa một lần đến thủ đô như một biểu tượng đẹp nhất.
Hồ Hoàn Kiếm hay hồ Gươm là một hồ nước ngọt nằm giữa thủ đô Hà Nội. Tên hồ cũng được đặt cho một quận của Hà Nội, quận Hoàn Kiếm.
Tương truyền vào thế kỷ 15 hồ được đổi tên thành hồ Hoàn Kiếm, gắn liền với truyền thuyết trả gươm thần cho Rùa Vàng, ghi lại thắng lợi của cuộc chiến đấu 10 năm của nhân dân Việt Nam chống lại quân Minh (1417-1427) dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi.
Trên hồ có hai hòn đảo: Đảo Ngọc và Đảo Rùa
Hồ Hoàn Kiếm được du khách cho là một thắng cảnh của Hà Nội. Quanh hồ trồng nhiều loại hoa và cây cảnh. Giữa hồ có tháp Rùa, cạnh hồ có đền Ngọc Sơn. Xung quanh hồ còn có những di tích lịch sử khác như tượng vua Lê Thái Tổ, cầu Thê Húc, tháp Bút, đền Bà Kiệu,… bên cạnh những công trình kiến trúc hiện đại. Toà nhà Bưu điện với tháp đồng hồ cổ kính in bóng hồ Gươm đã đi vào lòng nhiều người dân Hà Nội.
Tuy không phải là hồ lớn nhất trong thủ đô, song hồ Hoàn Kiếm đã gắn liền với cuộc sống và tâm tư của nhiều người. Hồ nằm ở trung tâm một quận với những khu phố cổ chật hẹp, đã mở ra một khoảng không đủ rộng cho những sinh hoạt văn hóa bản địa. Hồ có nhiều cảnh đẹp.
Đền Ngọc Sơn
Trên đất kinh kỳ Thǎng Long – Đông Đô – Hà Nội, nghìn nǎm vǎn hiến thì sự dung hợp về tôn giáo được thể hiện khá rõ nét tại đền Ngọc Sơn. Cùng với Hồ Gươm và Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn đã tạo nên một quần thể hoàn chỉnh, đẹp đẽ. Quần thể này đã trở thành một trong những biểu tượng đặc trưng nhất cho Hà Nội ngày nay.
Sự hỗn dung của Đạo giáo, Đạo Phật, Đạo Nho (hay còn gọi: Tam giáo đồng nguyên), không chỉ ở hiện trạng bây giờ, mà nó còn được thể hiện trong lịch sử xây dựng đền Ngọc Sơn. Trước hết là sự thể hiện tinh thần Nho giáo một cách sâu sắc ở Tháp Bút và Đài Nghiên. Cạnh đó, Đài Nghiên được đặt trên cửa cuốn. Đài Nghiên được tạc bằng đá hình nửa quả đào có ba con ếch đội. Tháp Bút, Đài Nghiên biểu trưng cho quan điểm trọng vǎn chương, anh tài của Nho giáo. Qua cửa cuốn là cầu Thê Húc dẫn đến Đắc Nguyệt Lầu (lầu được trǎng). Cả cầu Thê Húc lẫn Đắc Nguyệt Lầu mang đậm mầu sắc Đạo giáo.
Khu vực chính của đền Ngọc Sơn có ba phần: phía trước là Trấn Ba Đình (đình chắn sóng); giữa là điện thờ chính, sau cùng là Hậu Cung. Điện thờ chính là nơi thờ Vǎn Xương Đế Quân cùng chư vị Thần Tiên, ở đây mầu sắc Đạo giáo rõ rệt. Phần Hậu Cung là nơi thờ trần Hưng Đạo. Tuy nhiên, tượng Đức Thánh Trần với bàn thờ ở giữa, còn một bên là bàn thờ Phật với tượng Quan Âm Bồ Tát và Thiện Tài Đồng Tử, bên kia là bàn thờ Thần linh, sơn Thần, Thổ địa. Bức tường trước Hậu Cung thì lại có sự dung hòa giữa Đạo giáo và Nho giáo, giữa hai chữ Trung – Nghĩa là hình Bát quái.
Đền Ngọc Sơn vẫn đứng đó, Tháp Bút vẫn đang viết lên trời xanh, tất cả không chỉ là một quần thể đẹp đẽ giữa lòng Hà Nội, đó còn là thế giới tâm linh, khẩu khí của con người Việt Nam xưa và nay.
Quảng Trường Ba Đình
Hà Nội là trái tim của nước Việt Nam, Quảng trường Ba Đình là trái tim của Hà Nội. Tại đây đã diễn ra những sự kiện trọng đại của thủ đô và cả nước. Ngày trước, đây vốn là khu vực cửa tây của thành Hà Nội cổ. Thực dân Pháp phá thành làm một vườn hoa nhỏ gọi là điểm tròn Puy-gi-ni-nơ. Năm 1945 mới có tên là vườn hoa Ba Đình. Chữ Ba Đình là để gợi nhớ dải đất Ba Đình ở tỉnh Thanh Hoá, nơi đã nổ ra cuộc khởi nghĩa chống Pháp kéo dài từ tháng 9 -1886 đến tháng 1-1887.
Quảng trường là nơi chứng kiến hàng trăm nghìn người về dự lễ Độc lập ngày 2-9-1945. Ngày 9-9-1969, sáu ngày sau khi Hồ Chủ tịch qua đời, tại Quảng trường này, đồng bào thủ đô và các địa phương cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế đã tới đây dự lễ truy điệu trọng thể vị Anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hoá kiệt xuất.
Ngày nay, mặt chính của quảng trường là Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trước lăng là khoảng không gian rộng lớn với 320m chiều dài và 100m chiều rộng, đủ chỗ cho 200 nghìn người dự mít tinh. Quảng trường có 168 ô cỏ bốn mùa xanh tươi. Chính giữa là cột cờ. Quảng trường Ba Đình đã trở thành không gian thiêng liêng của thủ đô Hà Nội.
Lăng Hồ Chí Minh
Lăng Hồ Chí Minh, hay Lăng Hồ Chủ tịch, Lăng Bác, là nơi đặt thi hài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Lăng Hồ Chí Minh được chính thức khởi công ngày 2 tháng 9 năm 1973, tại vị trí của lễ đài cũ giữa Quảng trường Ba Đình, nơi ông đã từng chủ trì các cuộc mít tinh lớn.
Lăng được khánh thành vào ngày 29 tháng 8 năm 1975. Lăng gồm 3 lớp với chiều cao 21,6 mét, lớp dưới tạo dáng bậc thềm tam cấp, lớp giữa là kết cấu trung tâm của lăng gồm phòng thi hài và những hành lang, những cầu thang lên xuống. Quanh bốn mặt là những hàng cột vuông bằng đá hoa cương, lớp trên cùng là mái lăng hình tam cấp. Ở mặt chính có dòng chữ: “Chủ tịch Hồ-Chí-Minh” bằng đá hồng màu mận chín. Lăng được xây theo kiểu kiến trúc hiện thực xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên bản của Lăng Lenin.
Lăng được xây dựng trên nền cũ của tòa lễ đài giữa quảng trường Ba Đình, nơi Hồ Chí Minh chủ trì các cuộc mít tinh lớn và đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Hồ Chí Minh qua đời. Nghĩ tới lúc thống nhất đồng bào còn được thấy ông, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chính thức khởi công xây lăng vào 2 tháng 9 năm 1973.
Bên phía tây của quảng trường là khu lưu niệm Hồ Chí Minh. Tại đây có Viện bảo tàng Hồ Chí Minh, ngôi nhà sàn Hồ Chí Minh. Lăng Hồ Chí Minh thường có nhiều đoàn khách ở các tỉnh thành phố và nước ngoài đến thăm viếng.
Lăng Hồ Chí Minh hoạt động 5 ngày một tuần (trừ thứ hai và thứ sáu), mỗi năm có hai lần đóng cửa vào tháng 11 hoặc tháng 12 để trùng tu và bảo quản thi hài.
Văn Miếu-Quốc Tử Giám
Văn Miếu – Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu của thành phố Hà Nội, nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long thời nhà Lý. Là tổ hợp gồm hai di tích chính: Văn Miếu thờ Khổng Tử, các bậc hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam; và Quốc Tử Giám trường Quốc học cao cấp đầu tiên của Việt Nam, với hơn 700 năm hoạt động đã đào tạo hàng nghìn nhân tài cho đất nước. Ngày nay, Văn Miếu-Quốc Tử Giám là nơi tham quan của du khách trong và ngoài nước đồng thời cũng nơi khen tặng cho học sinh xuất sắc và nơi tổ chức hội thơ hàng năm vào ngày rằm tháng giêng. Đặc biệt, đây còn là nơi các sĩ tử ngày nay đến “cầu may” trước mỗi kỳ thi.
Văn Miếu được xây dựng từ “tháng 8 năm Canh Tuất (1070) tức năm Thần Vũ thứ hai đời Lý Thánh Tông, đắp tượng Chu Công, Khổng Tử và Tứ phối vẽ tranh tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến đấy học.”.
Năm 1076, Lý Nhân Tông cho lập trường Quốc Tử giám, có thể coi đây là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam. Ban đầu, trường chỉ dành riêng cho con vua và con các bậc đại quyền quý (nên gọi tên là Quốc Tử).Năm 1156, Lý Anh Tông cho sửa lại Văn Miếu và chỉ thờ Khổng Tử.
Đời Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Quốc Tử giám Tư nghiệp (hiệu trưởng) và thầy dạy trực tiếp của các hoàng tử. Năm 1370 ông mất, được vua Trần Nghệ Tông cho thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử.
Quần thể kiến trúc Văn Miếu – Quốc Tử Giám được bố cục đăng đối từng khu, từng lớp theo trục Bắc Nam, mô phỏng tổng thể quy hoạch khu Văn Miếu thờ Khổng Tử ở quê hương ông tại Khúc Phụ, Sơn Đông, Trung Quốc. Tuy nhiên, quy mô ở đây đơn giản hơn, kiến trúc đơn giản hơn và theo phương thức truyền thống nghệ thuật dân tộc.
Trong Văn miếu chia làm 5 khu vực rõ rệt, mỗi khu vực đều có tường ngăn cách và cổng đi lại liên hệ với nhau.
Ngày nay, Khuê Văn Các ở Văn Miếu-Quốc Tử Giám đã được công nhận là biểu tượng của thành phố Hà Nội.
Chùa Một Cột
Tên thường gọi là chùa Một Cột, nằm trong quần thể chùa Diên Hựu (kéo dài tuổi thọ). Chùa nằm trên đất thôn Thanh Bảo, huyện Quảng Đức, phía Tây hoàng thành Thǎng Long thời Lý, nay thuộc phố chùa Một Cột, quận Ba Đình – Hà Nội, ở bên phải Lǎng Chủ Tịch Hồ Chí Minh.
Theo Đại Việt ký sự toàn thư, chùa được xây dựng vào nǎm Kỷ Sửu, niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo 1 (1409) đời Lý Thái Tông. Vua Lý Thái Tông (1028-1054) chiêm bao thấy Phật Quan Âm trên toà sen đưa tay dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, vua kể lại cho các quan nghe, có người cho là điềm không lành. Sư Thiên Tuế khuyên nhà vua làm chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, làm toà sen của Phật Quan Âm như đã thấy trong mộng. Chùa xây xong, đài sen nghìn cánh đỡ toà Phật sắc hồng, trong đặt tượng Phật vàng lấp lánh. Các nhà sư đến làm lễ, đi vòng quanh chùa niệm Phật cầu phúc cho vua sống lâu, vì thế đặt tên là chùa Diên Hựu.
Theo vǎn bia dựng nǎm Cảnh Trị 3 do hoà thượng Lê Tất Đạt ghi, chùa được dựng từ thời thuộc Đường: “Nǎm đầu niên hiệu Hàm Thông thời Đường…, dựng một cột đá ở giữa hồ, trên cột xây một toà lầu ngọc trong đó đặt tượng Phật Quan Âm để thờ cúng. Khí đất chung đúc anh linh, cầu gì được nấy. Đến khi triều Lý xây dựng kinh đô ở đây, cũng noi theo dấu cũ, nên càng linh thiêng. Khi Lý Thánh Tông chưa có Hoàng tử, thường đến đó cầu nguyện. Một đêm nằm mộng thấy Phật Quan Âm mời lên lầu ngồi, ôm một đứa bé đặt vào lòng vua. Tháng đó Hoàng hậu có mang hoàng tử. Vua bèn sửa thêm ngôi chùa Diên Hựu ở bên phải chùa Một Cột để mở rộng việc thờ cúng…”
Đời Lý Nhân Tông, nǎm Anh Vũ Chiêu Thánh 5 (1080) vua cho đúc chuông lớn để treo ở chùa gọi là “Giác Thế chung” (chuông thức tỉnh người đời) và một toà phương đình bằng đá xanh cao 8 trượng, nhưng vì chuông quá nặng không sao treo lên được, phải để dưới đất nên đánh không kêu. Chỗ ruộng để chuông thấp, có nhiều rùa đến ở, được gọi là ruộng Quy Điền và quả chuông cũng được gọi là chuông Quy Điền. Khi quân Minh bị bao vây ở Đông Quan, hết quân khí, Vương Thông đã cho phá quả chuông này để đúc súng đạn.
Quy mô chùa Một Cột vào thế kỷ 12 to lớn lộng lẫy hơn như hiện nay rất nhiều. Vǎn bia Tháp sùng Thiện Diên Linh chùa Long Đọi (Nam Hà) dựng nǎm 1121, mười sáu nǎm sau khi chùa mới hoàn thành, cung cấp cho ta hình ảnh chân thực nhất về một ngôi chùa Một Cột thời Lý
Toà đài sen (Liên Hoa Đài), ta quen gọi là chùa Một Cột có hình vuông mỗi chiều 3m, mái cong dựng trên cột đá hình trụ cao 4m (chưa kể phần chìm dưới đất) có đường kính là 1,2m. Trụ đá gồm 2 khối, gắn rất khéo, thoạt nhìn như một khối đá liền. Sự độc đáo của kiến trúc chùa Một Cột là toàn bộ ngôi chùa được đặt trên một cột đá.
Chùa Một cột đã được Bộ Vǎn hoá xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật ngày 28-4-1962.
Nhà Sàn Bác Hồ
Trong khu vườn rộng sau Phủ Chủ tịch, có một con đường hẹp trải sỏi, hai bên trồng xoài dẫn tới một ngôi nhà sàn nhỏ nhắn bình dị, nằm giữa những vòm cây. Hàng rào dâm bụt bao quanh nhà, cổng vào kết bằng cành cây đan xen nhau. Đó là ngôi nhà Bác Hồ ở và làm việc từ ngày 17-5-1958 cho tới khi Người qua đời.
Tầng dưới nhà sàn là nơi Bác thường họp với Bộ Chính trị. Tầng trên là hai phòng nhỏ, nơi Bác làm việc và phòng ngủ với những vật dụng đơn sơ giản dị. Trước nhà là ao cá Bác nuôi, bên bờ ao là các loài hoa phong lan nở quanh năm.
Nhân dân từ mọi miền đất nước cũng như du khách quốc tế đến thủ đô Hà Nội, ai cũng muốn đến viếng lăng, thăm nhà ở của Bác và đi dạo quanh Quảng trường Ba Đình lịch sử.
Sau nhà là vườn quả với hàng trăm loài cây quý do các địa phương đưa về trồng. Trong vườn còn có cả những loại cây từ nước ngoài như ngân hoa, cây bụt mọc quanh ao, cây cau vua gốc từ Caribê…
Khu Di Tích Phủ Chủ Tịch
Phủ Chủ tịch là toà nhà bốn tầng nhìn ra đường Hùng Vương, được xây dựng năm 1901. Thời Pháp thuộc, đây là nơi ở và làm việc của Toàn quyền Pháp ở Đông Dương (có tên là Phủ Toàn quyền). Hiện nay, địa điểm này là nơi các vị đứng đầu Nhà nước ta tiếp đón các đoàn khách quan trọng nước ngoài và là nơi để các đại sứ các nước đến trình quốc thư. Tại đây, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì nhiều cuộc họp Hội đồng Chính phủ…
Hà Đông
Hà Đông là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tây, nằm bên bờ sông Nhuệ, cửa ngõ phía Tây, cách trung tâm Hà Nội 11 km, là nơi tập trung các cơ quan hành chính và trung tâm kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, thể thao của tỉnh Hà Tây.
Hà Đông nằm dọc theo Quốc lộ 6 từ Hà Nội đi Hòa Bình và trên ngã ba sông Nhuệ, sông La Khê.
Phía bắc giáp huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội; phía đông giáp huyện Thanh Trì, Hà Nội; phía đông bắc giáp một chút quận Thanh Xuân, Hà Nội; phía tây giáp các huyện Quốc Oai, Hoài Đức; phía tây nam giáp huyện Chương Mỹ; phía nam giáp các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ, tỉnh Hà Tây.
Thị xã Hà Đông có diện tích tự nhiên 47,9 km² và 173.707 nhân khẩu.(2006)
Năm 1904, đổi tên là thị xã Hà Đông, tỉnh lỵ tỉnh Hà Đông. Từ năm 1965 là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tây. Từ năm 1975 đến năm 1991 là tỉnh lỵ tỉnh Hà Sơn Bình. Sau khi chia tách tỉnh Hà Sơn Bình, trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Hà Tây như cũ.

2. TUYẾN ĐIỂM HÀ NỘI- HẢI PHÒNG- HẠ LONG
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH HÀ NỘI- HẢI PHÒNG- HẠ LONG
Đi theo quốc lộ 5 chúng ta sẽ đến quận Gia Lâm.
Gia Lâm
Diện tích 172,9 km². Dân số 340.200 người (1999). Diện tích 108,4466 km². Dân số 190.194 người (2003), sau khi tách một phần đất lập quận Long Biên.
Có sông Hồng, sông Đuống và kênh Gia Thượng chảy qua.
Dưới thời phong kiến, huyện Gia Lâm có nhiều nhà khoa bảng lừng danh mà tên tuổi của họ được nhiều người trong cả nước biết tới. Chẳng hạn như: Hà Giáp Hải (làng Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện Gia Lâm), Cao Bá Quát (xã Phú Thị, huyện Gia Lâm)…
Huyện Gia Lâm cũng là quê hương của Chử Đồng Tử, Thánh Gióng – hai nhân vật trong Tứ bất tử của Phật giáo Việt Nam. Chử Đồng Tử là người xã Văn Đức, huyện Gia Lâm ngày nay, Thánh Gióng người xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm; Nguyên phi Ỷ Lan hay còn gọi là Bà Tấm (người xã Dương Xá, huyện Gia Lâm).
Nơi đây là phát hiện nhiều di tích khảo cổ quan trọng.
Một số làng nghề tại huyện Gia Lâm: Bát Tràng (sản xuất gốm sứ), Kiêu Kỵ (dát bạc, sơn son thếp vàng), Ninh Hiệp (trồng và kinh doanh thuốc Bắc)…
Tại quận Gia Lâm. Phía bên phải của quốc lộ là sân bay Gia Lâm.
Sân Bay Gia Lâm
Theo tin từ Bộ Giao Thông Vận Tải, dự án quy hoạch sân bay Gia Lâm vừa được phê duyệt đầu tư thành một cảng hàng không nội địa dành cho các chặng bay ngắn.
Theo đó, đến năm 2015, cảng hàng không Gia Lâm sẽ có nhà ga với công suất có thể tiếp nhận 162.000 khách/năm và sân đỗ của cảng hàng không Gia Lâm có thể đón 3 máy bay ATR72.
Đến năm 2015, sân đỗ của cảng hàng không Gia Lâm có thể đón 3 máy bay ATR72 hoặc Fokker. Và đến năm 2025, sẽ đón gần 300 nghìn khách/năm và diện tích sân đỗ đủ chỗ cho 5 chiếc ATR72 và Fokker.
Toàn bộ diện tích sân bay này hiện rộng khoảng 302,61 ha. Trong đó, diện tích đất dành cho quân sự là 144,44 ha, dân sự khoảng 80 ha; và diện tích dùng chung cả quân sự, dân sự là 66,4 ha.
Sân bay Gia Lâm là sân bay nhỏ, nằm cách trung tâm Hà Nội 8km, vốn là sân bay chính của Hà Nội trước năm 1970. Hiện nay, sân bay Gia Lâm dành cho hoạt động bay huấn luyện và bay taxi phục vụ các tour du lịch bằng máy bay trực thăng.
Tại các sân bay này, hành khách sẽ không được cung cấp các dịch vụ như đối với hàng không truyền thống, đặc biệt là không có xe ca đưa đón đến tận cầu thang máy bay…
Giáp với quận Gia Lâm là tỉnh Hưng Yên.
Hưng Yên
Hưng Yên là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thị xã Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà Nội 64 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía tây nam. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây giáp tỉnh Hà Tây, phía tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây nam giáp tỉnh Hà Nam.
Tuy là tỉnh “mới” chỉ non 200 năm, vùng đất Hưng Yên đã nổi danh từ thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh trước đó với Phố Hiến, vốn là thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài. Thuyền bè ngược sông Hồng lên Thăng Long “Kẻ Chợ” đều phải dừng ở Phố Hiến đợi giấy phép nên Phố Hiến trở thành tụ điểm sầm uất. Người Tàu, người Nhật và người Tây phương đều đến đấy buôn bán. Do vậy dân gian đã có câu: “Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”.
Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, là tỉnh đồng bằng không có rừng, núi và biển.
Diện tích: 923,09 km²
Dân số 1.116.000 người
Đường sắt: tuyến đường sắt Hà Nội-Hải Phòng chạy qua địa phận Hưng Yên 17 km, từ Như Quỳnh tới Lương Tài.
Đường thủy: Sông Hồng là ranh giới của Hưng Yên với các tỉnh, thành phía tây, dài 57 km. Sông Luộc là ranh giới với tỉnh Thái Bình dài 25 km. Sông Luộc và sông Hồng giao nhau tại địa phận thị xã Hưng Yên. Ngoài ra còn các sông nhỏ khác như: sông Sặt, sông Chanh, sông Cửu Yên, sông Tam Đô, sông Điện Biên v.v. Hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp tỉnh này.
Hưng Yên có các di tích lịch sử sau:
Quần thể di tích Phố Hiến: (đền Thiên Hậu, Đông Đô Quảng Hội, Võ Miếu, chùa Nễ Châu, đền Mây, Văn Miếu, Phố Hiến xưa, hội ả đào…)
Hồ bán nguyệt
Di tích Chử Đồng Tử – Tiên Dung: (đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch, các di tích liên quan đến Triệu Việt Vương)
Nhà tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông.
Cụm di tích Phù Ủng (Ân Thi) liên quan đến danh tướng Phạm Ngũ Lão, di tích Tống Trân – Cúc Hoa (Phù Cừ)
ở tỉnh Hưng Yên có một làng nghề làm tương rất nổi tiếng đó chính là làng nghề Tương Bần. làng nghề này nằm bên trái quốc lộ 5.
Làng Nghề Tương Bần
Đi từ Hà Nội theo quốc lộ 5 khoảng 25 km là đến thị trấn Bần Yên nhân (trước đây là một thôn của xã Văn Phú) huyện Mỹ Hào, ở đó có nghề làm tương Bần. Nước ta có nhiều địa phương làm tương ngon và nổi tiếng nhưng Tương Bần vẫn là thứ đặc sản mà người Hà Nội sành ăn xếp vào những món ăn đặc biệt của thủ đô xưa, đó là : Dưa La, húng Láng, nem Bảng, tương Bần, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét. Nguồn nguyên liệu để làm tương là gạo, ngô, đỗ tương,… rất dồi dào và có sẵn, công nghệ làm tương khá đơn giản song nhờ bí quyết độc đáo mà tương Bần có hương vị thơm ngon độc đáo hơn hẳn các nơi khác.
Nhãn lồng Hưng Yên là một đặc sản nổi tiếng trong và ngoài nước.
Đi hết tỉnh Hưng Yên, các bạn sẽ đến với tỉnh Hải Dương.
Hải Dương
Hải Dương là một tỉnh nằm ở vùng đồng bằng sông Hồng. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hải Dương nằm cách thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây. Phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía đông giáp thành phố Hải Phòng, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây giáp tỉnh Hưng Yên.
Diện tích: 1.662 km²
Năm 2003 Hải Dương có 1.689.200 người.
Hải Dương là một địa danh gắn liền với nhiều tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam như danh nhân quân sự thế giới Trần Hưng Đạo (Đức thánh Trần- Hưng Đạo Đại Vương), danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi, danh sư Chu Văn An, danh y Tuệ Tĩnh.
Hiện nay trong địa bàn tỉnh Hải Dương còn nhiều di tích lịch sử-văn hóa như: đền Kiếp Bạc thờ Đức thánh Trần, chùa Côn Sơn gắn liền với cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Trãi, đền Cao, văn miếu Mao Điền, di tích gốm sứ Chu Đậu-Mỹ Xá.
Mỹ Xá cũng là nơi mà Việt Nam Quốc dân đảng đã họp dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Thái Học để phát động phong trào khởi nghĩa Yên Bái chống lại thực dân Pháp tháng 2 năm 1930.
Hải Dương nổi tiếng với đặc sản bánh đậu xanh, bánh gai và vải thiều. Gần đầu tỉnh có cơ sở sản xuất bánh đậu xanh, cơ sở này nằm bên trái của quốc lộ.
Bánh Đậu Xanh Hải Dương
Trong số đặc sản của tỉnh Đông xưa phải kể đến bánh đậu xanh của thành phố Hải Dương. Nguyên liệu để chế biến nên loại bánh này không phải khai thác từ đâu xa mà lấy ngay từ hoa màu của đồng nội, hương vị của vườn quê. Thành phần của bánh cũng đơn giản : Đậu xanh, đường kết tinh, mỡ lợn, tinh dầu của hoa bưởi. Những nguyên liệu này đều phải chọn lọc chế biến tinh khiết. Bốn nguyên liệu trên pha trộn với nhau theo một tỉ lệ hợp lý, vượt tỉ lệ đó bánh sẽ kém chất lượng. Bánh đậu xanh Hải Dương ra đời tại thị xã Hải Dương vào đầu thế kỷ 20, nổi tiếng có hiệu Bảo Hiên, Cự Hương, Mai Phương. Mai Hoa…. Bánh đậu xanh Hải Dương nhãn hiệu rồng vàng đã có mặt ở hầu hết các tỉnh Bắc kỳ bốn lần tham gia hội chợ đều được giải.
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hải Dương có trên 50 nhà hàng bánh đậu xanh, trong đó có những nhà hàng nổi tiếng như : Bảo Hiên, Nguyên Hương, Bảo Long, Bá Tiến, Hoà An, Minh Ngọc, Quê Hương…
Tỉnh Hải Dương có thành phố cùng tên là thành phố Hải Dương. Đi qua cơ sở sản xuất bánh đậu xanh một đoạn, bên tay phải có 1 con đường đi vào thành phố Hải Dương.
Thành Phố Hải Dương
Phía bắc và phía đông giáp huyện Nam Sách – được chia tách bằng sông Thái Bình (“sông Cái” theo cách gọi của một số người dân địa phương), phía tây giáp huyện Cẩm Giàng, phía nam giáp huyện Gia Lộc, phía đông nam giáp hai huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ. Ở phía nam có sông Sặt, chi lưu sông Thái Bình, chảy qua.
Diện tích 36.253 ha, dân số 138.265 người.
Được thành lập năm 1804 dưới tên gọi Thành Đông. Thời thuộc Pháp là một thị xã. Trước năm 1968, là tỉnh lị tỉnh Hải Dương; từ 1968 tới năm 1996 là tỉnh lị tỉnh Hải Hưng. Từ ngày 6 tháng 11 năm 1996, trở lại tỉnh lị tỉnh Hải Dương. Ngày 6 tháng 8 năm 1997, thành lập thành phố Hải Dương.
Vẫn đi trên quốc lộ 5, đến ngã 3 Tiền Trung có quốc lộ 18 đi thị trấn Sao Đỏ.
Sao Đỏ
Sao Đỏ là tên một thị trấn thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Thị trấn Sao Đỏ được thành lập năm 1978.
Sao Đỏ cách thủ đô Hà Nội 66 km về phía Đông bắc, nằm ở ngã ba giữa đường 18 và đường 183, gần tả ngạn sông Thái Bình.
Sao Đỏ cách Đông Triều: 19 Km; Thành phố Hải Dương: 22 Km.
Sao Đỏ cách Côn Sơn (Di tích lịch sử cấp quốc gia): 5 Km; Đền Kiếp Bạc: 10 Km; Đền Cao: 5 Km.Đền Chu Văn An 4Km(Di tích quốc gia)
Thị trấn Sao Đỏ có địa hình bán sơn địa: Một bên giáp núi, một bên tiếp giáp với đồng bằng.
Nằm trong tam giác kinh tế lớn: Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh ,và là trung tâm tam giác Tp Hải Dương-Bắc Ninh-Bắc Giang nên Sao Đỏ có nhiều thuận lợi về mặt phát triển kinh tế. Sao Đỏ có tiềm năng phát triển về kinh tế thương mại, du lịch và dịch vụ,đặc biệt là công nghệ cao.
Một số địa điểm giải trí:
Du lịch: Đền Côn Sơn, Đền Kiếp Bạc,Đền Chu Văn AN, Đền Cao
Sân Gold Chí Linh (nằm nội bộ trong thị trấn)
Cách thị trấn Sao Đỏ 5 km là khu di tích đền Côn Sơn
Côn Sơn
Khu di tích danh thắng Côn Sơn thuộc xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, cách Hà Nội khoảng 70km.
Khu di tích này gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử; là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm vào thời Trần.
Khu di tích nằm giữa hai dãy núi Phượng Hoàng – Kỳ Lân. Khu di tích, danh thắng này gồm có núi non, chùa, tháp, rừng thông, khe suối và các di tích nổi tiếng gắn liền với cuộc đời của nhiều danh nhân trong lịch sử. Ngay từ thời Trần, chùa Côn Sơn là một trong ba trung tâm của thiền phái Trúc Lâm (Côn Sơn – Yên Tử – Quỳnh Lâm). Mảnh đất này đã gắn bó với tên tuổi và sự nghiệp của nhiều danh nhân đất Việt như Trần Nguyên Ðán, Huyền Quang và đặc biệt là anh hùng dân tộc – danh nhân văn hoá thế giới Nguyễn Trãi. Côn Sơn đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và đọc bia về Nguyễn Trãi.
Ngày nay, Côn Sơn còn lưu giữ được những dấu tích văn hoá thời Trần và các giai đoạn lịch sử kế tiếp. Tiêu biểu là: Chùa Côn Sơn, Giếng Ngọc, Bàn Cờ Tiên , Thạch Bàn.
Đi hết tỉnh Hải Dương chúng ta sẽ tới tỉnh Quảng Ninh.
Quảng Ninh
Quảng Ninh được thành lập năm 1963 với nền tảng là khu Hồng Quảng và tỉnh Hải Ninh. Tên tỉnh là ghép tên của hai tỉnh Quảng Yên và Hải Ninh cũ. Diện tích của toàn tỉnh Quảng Ninh là 8.239,243 km. Vùng biển của Quảng Ninh có hơn 2000 đảo lớn nhỏ, trong đó có 1.030 đảo có tên, còn lại hơn một nghìn hòn đảo chưa có tên, chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/2779). Tổng diện tích các đảo là 619,913 km².
Phía tây Quảng Ninh giáp tỉnh Lạng Sơn và tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và tỉnh Hải Phòng, phía bắc giáp Sùng Tả và Phòng Thành Cảng, Quảng Tây, Trung Quốc với cửa khẩu Móng Cái và Trinh Tường.
Về phía biển ngoài có các đảo như đảo Trần và quần đảo Cô Tô (thuộc huyện Cô Tô). Vùng nội thuỷ từ bắc xuống nam có những đảo chính như đảo Đầu Tán, đảo Vĩnh Thực, đảo Miễu, đảo Cái Chiên, đảo Thoi Xanh, đảo Vạn Vược, đảo Thoi Đây, đảo Sậu Nam, đảo Cái Bầu, đảo Trà Ngọ, đảo Cao Lô, đảo Trà Bàn, đảo Chén, đảo Thẻ Vàng, đảo Cảnh Cước, đảo Vạn Cảnh, đảo Cống Tây, đảo Phượng Hoàng, đảo Nấc Đất, đảo Thượng Mai và đảo Hạ Mai cùng vô số những đảo nhỏ trong vịnh Bái Tử Long và Hạ Long.
Cực đông của tỉnh, cũng là điểm đầu tiên của hình chữ S của nước Việt Nam, là mũi Sa Vĩ, thuộc phường Trà Cổ, thị xã Móng Cái.
Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về giá trị thẩm mỹ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có 3 Khu kinh tế Vân Đồn, hai Trung tâm thương mại Hạ Long, Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc và các nước trong khu vực.
Quảng Ninh là tỉnh nằm trọn vẹn trong chương trình “hai hành lang, một vành đai kinh tế” giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tỉnh có nhiều tuyến đường cao tốc trọng điểm đang được xây dựng bên cạnh những cảng biển lớn. Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.
Quảng Ninh là một địa danh giàu tiềm năng du lịch, là một đỉnh của tam giác tăng trưởng du lịch miền Bắc Việt Nam, Quảng Ninh có danh thắng nổi tiếng là vịnh Hạ Long đã được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới và di sản thế giới bởi giá trị địa chất địa mạo. Tiềm năng du lịch Quảng Ninh nổi bật nên với:
Các bãi tắm bãi tắm đẹp như Bãi Cháy, đảo Tuần Châu đã được cải tạo, nâng cấp với nhiều loại hình dịch vụ phục vụ đa dạng các nhu cầu của khách.
Cả tỉnh có gần 500 di tích lịch sử, văn hoá, nghệ thuật… gắn với nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng của Quốc gia như chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, di tích lịch sử Bạch Đằng, chùa Long Tiên, đình Quan Lạn. đây là những điểm thu hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội.
Quảng Ninh nổi bật với các món ăn được chế biến từ các loài hải sản của biển Quảng Ninh, trong đó có những đặc sản giá trị như hải sâm, bào ngư, tôm, cua, sò, ngán, hầu hà, sá sùng, rau câu
Đến với tỉnh Quảng Ninh chúng ta sẽ đến thị xã Uông Bí
Uông Bí
Uông Bí là một thị xã nằm ở miền tây của tỉnh Quảng Ninh, cách Hà Nội 120km. Nằm dưới chân dãy núi Yên Tử và giáp sông Đá Bạc. Ngày 28 tháng 10, 1961, Chính Phủ ra Nghị định 181/CP thành lập thị xã Uông Bí trực thuộc Khu Hồng Quảng.
Uông Bí nổi tiếng với nền công nghiệp khai thác than. Mỏ than Vành Danh, Bạch Thái Bưởi được khai thác từ thời thuộc địa.Những năm gần đây thêm nhiều mỏ và công ty than được thành lập tại khu vực Uông Bí và nằm trong công ty than Uông Bí như Công ty than Hồng Thái, Công ty than Nam Mẫu,Đồng Vông…
Quốc lộ 18A và đường sắt Yên Viên-Hạ Long chạy ngang qua Uông Bí. Quốc lộ 10 từ Hải Phòng sang Quảng Ninh gặp quốc lộ 18A tại ngã ba Cầu Sến. Giao thông thuỷ nối Hải Phòng với Hạ Long.
Uông Bí có hơn 10 vạn người, hơn 90% là người Kinh. Người Dao Tập trung ở xã Thượng Yên Công. Các dân tộc Tày, Sán Dìu, Hoa ở rải rác trong vùng núi phía bắc.
ở đây có các thắng cảnh như: Hang Son, Động Bảo Phúc, Núi Yên Tử, Khu di , tích Yên Tử, Hồ Yên Trung, Lựng Xanh.
Từ thị xã Uông Bí, có đường dẫn vào núi Yên Tử
Núi Yên Tử
Núi Yên Tử cao 1.068 m là ngọn núi cao trong dãy núi Đông Triều vùng đông bắc Việt Nam. Núi thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Vốn là là một thắng cảnh thiên nhiên, ngọn Yên Tử còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử với mệnh danh “đất tổ Phật Giáo Việt Nam”. Trên đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày trước có tên gọi là Bạch Vân sơn.Tổng chiều dài đường bộ để lên đỉnh Yên Tử (chùa Đồng) là khoảng 6000m với 6 giờ đi bộ liên tục qua hàng ngàn bậc đá, đường rừng núi… Hành trình lên Yên Tử hôm nay sẽ không vất vả như xưa nữa vì hệ thống cáp treo 1 lên gần Hoa Yên đã hoàn thành năm 2002 và hệ thống cáp treo 2 lên cổng trời (khu vực đỉnh Yên Tử) đã được đưa vào sử dụng từ mùa lễ hội 2008
Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308). Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách Thạch thất mị ngữ và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa nổi tiếng như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều… Tại trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo (1254-1334), vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm.
Từ Hà Nội có thể đi xe ô-tô vượt quãng đường 125 km, qua thị xã Uông Bí thì rẽ vào đường Vàng Danh, đi tiếp khoảng 9 km thì rẽ trái. Có thể lên núi Yên Tử bằng hai cách:
Theo đường đi bộ dài trên 6 km đã được gia cố bởi hàng nghìn bậc đá xếp, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông.
Đứng ở độ cao 1068 m trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát cả vùng Đông Bắc rộng lớn với những đảo nhỏ thấp thoáng trong Vịnh Hạ Long như một bức tranh, xa hơn là sông Bạch Đằng.
Dọc đường còn có một số điểm tham quan như Tháp Tổ, chùa Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh, am Ngọa Vân, bàn cờ tiên, các khu du lịch sinh thái Thác Vàng, Thác Bạc. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của chùa Lân mà đức Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông từng thuyết giảng chúng sinh. Đây là công trình thiền viện lớn nhất Việt Nam.
Lễ hội Yên Tử được tổ chức hàng năm bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch).
Nhắc đến Quảng Ninh thì mỗi chúng ta sẽ nhớ tới ngay một địa danh nổi tiếng khắp trên thế giới đó chính là di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long.
Vịnh Hạ Long
Nằm ở vùng Ðông Bắc, vịnh Hạ Long là một phần vịnh Bắc Bộ, bao gồm vùng biển của thành phố Hạ Long, thị xã Cẩm Phả và một phần của huyện đảo Vân Ðồn. Phía tây nam Vịnh giáp đảo Cát Bà, phía đông là biển, phần còn lại giáp đất liền với đường bờ biển dài 120 km, với tổng diện tích 1553 km2 gồm 1969 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 989 đảo có tên và 980 đảo chưa có tên. Ðảo của vịnh Hạ Long có hai dạng là đảo đá vôi và đảo phiến thạch, tập trung ở hai vùng chính là vùng phía đông nam (thuộc vịnh Bái Tử Long) và vùng phía tây nam (thuộc vùng vịnh Hạ Long) có tuổi kiến tạo địa chất từ 250 – 280 triệu năm. Vùng tập trung dày đặc các đảo đá có phong cảnh ngoạn mục và nhiều hang động đẹp nổi tiếng là vùng trung tâm Di sản thiên nhiên vịnh Hạ Long, bao gồm vịnh Hạ Long và một phần vịnh Bái Tử Long. Vùng Di sản thiên nhiên được thế giới công nhận có diện tích 434 km2 bao gồm 775 đảo, như một hình tam giác với 3 đỉnh là đảo Ðầu Gỗ (phía tây), hồ Ba Hầm (phía nam), đảo Cống Tây (phía đông) vùng kế bên là khu vực đệm và di tích danh thắng quốc gia được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng năm 1962.
Vịnh Hạ Long cũng là nơi gắn liền với sự phát triển của lịch sử dân tộc với những địa danh nổi tiếng như Vân Ðồn – nơi có thương cảng cổ nổi tiếng một thời (1149), có núi Bài Thơ ghi bút tích của nhiều bậc vua chúa, danh nhân, xa hơn chút nữa là dòng sông Bạch Ðằng – nơi đã từng chứng kiến hai trận thuỷ chiến lẫy lừng của cha ông ta chống giặc ngoại xâm.. Không chỉ có vậy, Hạ Long ngày nay được các nhà khoa học chứng minh là một trong những cái nôi của con người có nền văn hoá Hạ Long từ Hậu kỳ đồ đá mới với những địa danh khảo cổ học nổi tiếng như Ðồng Mang, Xích Thổ, Soi Nhụ, Thoi Giếng… Hạ Long cũng là nơi tập trung đa dạng sinh học cao với những hệ sinh thái điển hình như hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái rạn san hô, hệ sinh thái tùng áng, hệ sinh thái rừng cây nhiệt đới… Với hàng ngàn loài động, thực vật vô cùng phong phú trên rừng dưới biển, cá, mực… Có những loài đặc biệt quý hiếm chỉ có ở nơi đây.
Với những giá trị đặc biệt như vậy, ngày 17/12/1994, trong phiên họp lần thứ 18 của Hội đồng Di sản Thế giới thuộc UNESCO tổ chức tại Thái Lan, vịnh Hạ Long chính thức được công nhận là Di sản thiên nhiên, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long.
Quay lại với quốc lộ 5 chúng ta sẽ tới thành phố Hải Phòng.
Hải Phòng
Hải Phòng là thành phố cảng công nghiệp hiện đại; là đô thị trung tâm cấp quốc gia; đầu mối giao thông quan trọng và cửa chính ra biển của các tỉnh phía Bắc, có cảng nước sâu (nếu điều kiện kỹ thuật cho phép); một cực tăng trưởng quan trọng của vùng kinh tế động lực phía Bắc; một trọng điểm phát triển kinh tế biển; một trong những trung tâm công nghiệp, thương mại lớn của cả nước và trung tâm dịch vụ, du lịch, thuỷ sản, giáo dục và y tế của vùng duyên hải Bắc bộ; một pháo đài bất khả xâm phạm về quốc phòng an ninh; có tổ chức đảng và hệ thống chính trị không ngừng lớn mạnh, đời sống nhân dân ngày một cao. Phấn đấu Hải Phòng là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và cơ bản trở thành thành phố công nghiệp, văn minh, hiện đại trước năm 2020″
Hải Phòng là thành phố lớn thứ ba của Việt Nam, sau thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Hà Nội. Thành phố nằm ở phía đông bắc Việt Nam, trên bờ biển thuộc vịnh Bắc Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía nam giáp Thái Bình, phía Tây giáp Hải Dương và phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ.
Hải Phòng được nối với các tỉnh qua các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông và đường hàng không. Nhờ vậy, Hải Phòng là trung tâm giao thông vận tải của toàn bộ khu vực phía Bắc Việt Nam, nối các tỉnh phía bắc với thị trường thế giới qua hệ thống cảng biển.
Hải Phòng có hệ thống đường bộ rất thuận tiện cho việc vận tải hàng hoá và đi lại với Thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía bắc thông qua quốc lộ 5 và quốc lộ 10. Quốc lộ 5 dài 105 km gồm 4 làn xe cơ giới và 2 làn xe thô sơ, hiện là tuyến đường cấp 1 hiện đại nhất Việt Nam.Quốc lộ 10 nối Hải Phòng với Quảng Ninh nơi có khu công nghiệp than, khu du lịch nổi tiếng Vịnh Hạ Long và với vùng nông nghiệp trù phú của các tỉnh đồng bằng ven biển từ Thái Bình đến Thanh Hoá. Quốc lộ 10 cũng nối cảng Hải Phòng, các tỉnh duyên hải Bắc Bộ với đường quốc lộ 1 Bắc – Nam.
Với 5 con sông chảy qua, Hải Phòng là trung tâm đầu mối của mạng giao thông đường sông, nối liền các tỉnh và các cảng sông khu vực phía Bắc. Mạng lưới giao thông đường sông vận tải chuyển tới trên 40% lượng hàng hoá của các tỉnh phía Bắc Việt Nam.
Hải Phòng có 2 sân bay Cát Bi và Kiến An. Sân bay Cát Bi nằm cách trung tâm thành phố 5 km. Sân bay đã được nâng cấp, có thể tiếp nhận máy bay Airbus 320, là sân bay dự bị cho sân bay quốc tế Nội Bài.
Tại thành phố Hải Phòng có sân bay Cát Bi
Sân bay quốc tế Cát Bi
Sân bay Cát Bi là một sân bay cấp III, nằm cách trung tâm thành phố 5 km.
Chiều dài đường cất hạ cánh: chính 2.400 m; phụ: 1.500 m, có phục vụ bay đêm.
Chiều rộng đường cất hạ cánh: chính 50 m, phụ 15 m;
Kích thước đường lăn chính: 1.600×15 (m);
Kết cấu đường cất hạ cánh: bê tông xi măng – bê tông nhựa;
Sân đỗ máy bay: 3 chiếc;
Sân chứa máy bay: 80 chiếc;
Hướng phát triển: nâng cấp mở rộng, cải tạo thành sân bay cấp I, và là sân bay quốc tế trong khu vực
Có thể tiếp nhận các loại máy bay lớn như Boeing 767-300 ER, B777, B747-400, Airbus 320…
Các hãng hàng không và các điểm đi đến
Nội địa
Vietnam Airlines (Hà Nội , Đà Nẵng , Thành phố Hồ Chí Minh)
Pacific Airlines (Thành phố Hồ Chí Minh)
Từ quốc lộ 5, rẽ trái theo con đường vào thị xã Uông Bí, quý khách sẽ đi qua sông Bạch Đằng, một con sông đã đi vào lịch sử của nước ta.
Sông Bạch Đằng
Sông Bạch Đằng, còn gọi là Bạch Đằng Giang, hiệu là sông Vân Cừ, là một con sông chảy giữa hai huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) và Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km. Nó nằm trong hệ thống sông Thái Bình.
Điểm đầu là phà Rừng – Hải Phòng (danh giới Hải Phòng và Quảng Ninh).
Điểm cuối là cửa Nam Triệu – Hải Phòng. Sông có chiều dài 19 km.
Các loại tàu thuyền có tải trọng 300-400 tấn tham gia vận tải được cả 2 mùa.
Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền nam Trung Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy, sông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội
Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam:
Cuộc kháng chiến chống quân Nam Hán của Ngô Quyền,
Cuộc kháng chiến chống quân Tống của Lê Hoàn
Cuộc thủy chiến của Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba).
Đi qua khỏi con đường rẽ vào thị xã Uông Bí một đoạn không xa, nhìn phía bên phải có một con đường đi Đồ Sơn
Đồ Sơn
Đồ Sơn hấp dẫn du khách bốn phương còn bởi sự nổi tiếng với các di tích và danh thắng hòa quyện trong không gian đầy thơ mộng của núi – biển – trời – mây. Ở đó có cái đẹp của thiên nhiên, của con người hiện hữu trong từng ngọn núi, bãi biển và trong những huyền thoại lung linh.
Đi dọc khu nghỉ mát Đồ Sơn, xe bon bon qua khu I, khu II, khu III bạn sẽ được ngắm không chán mắt cảnh sắc phong phú của núi non và biển cả, của rừng cây và bãi cát, của sự sôi động và tĩnh lặng. Con đường uốn lượn dẫn bạn đi khi thì như lẫn vào rừng, xuyên qua núi, lúc thì bạn nhìn thây biển trước mặt, lúc lại thấy biển sau lưng… Điều huyền diệu chính là chỗ ấy.
Nằm giữa trung tâm khu du lịch nổi tiếng Đồ Sơn là Công ty Khách sạn Du lịch Đồ Sơn với:
Hệ thống khách sạn hiện đại 250 phòng nghỉ đạt tiêu chuẩn quốc tế.
Nhà hàng sang trọng sẵn sàng phục vụ quý khách các món ăn Âu – Á, món ăn dân tộc. Với các đầu bếp giỏi và đội ngũ nhân viên nhiệt tình, chu đáo và lịch sự, chắc chắn sẽ làm vừa lòng quý khách.
Hệ thống phòng họp, hội nghị, hội thảo từ 20 – 300 chỗ
Biệt thự Bảo Đại mang đậm nét cung đình Huế tại Đồ Sơn. Đến đây quý khách có thể tổ chức các bữa tiệc cung đình, thưởng thức những món ăn do các nghệ nhân tài hoa của Công ty chế biến và tạo hình cùng những giọng ca ngọt ngào qua các làn điệu dân ca của chính những nhân viên Biệt thự phục vụ mang nét cung đình xưa.
Khu vui chơi, giải trí, sân tennis, karaoke, bể bơi, vật lý trị liệu….và các địch vụ vui chơi giải trí khác đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của khách.
Trở lại với quốc lộ 5, cứ tiếp tục đi thẳng thì sẽ tới Cát Bà.
Cát Bà
Cát Bà là huyện cũ của thành phố Hải Phòng, nằm trên đảo Cát Bà.
Trước năm 1945, đây là tổng Hà Sen, thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên.
Khi đó, thị trấn Cát Bà từng là phố Cát Bà, rồi đại lý Cát Bà (thuộc tổng Hà Sen), sau là thị xã Cát Bà thuộc tỉnh Quảng Yên, sau nữa thuộc khu Hồng Quảng, đến ngày 5 tháng 6 năm 1956 sáp nhập vào thành phố Hải Phòng. Và sau đó thì thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn Cát Bà, đồng thời với việc thành lập huyện Cát Bà.
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Cát Bà nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới.
Đảo Cát Bà
Là một trong bốn khu sinh thái Việt Nam được Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới, ngày nay Cát Bà đã trở thành địa chỉ du lịch quen thuộc với nhiều người, nhất là với du khách thích du lịch sinh thái.
Quần đảo Cát Bà có trên 300 đảo lớn, nhỏ, trong đó lớn nhất là đảo chính Cát Bà rộng khoảng 100 km2. Quần đảo này tiếp nối với các đảo của vịnh Hạ Long tạo nên một quần thể đảo và hang động trên biển và là nơi hội tụ đầy đủ các hệ sinh thái tiêu biểu nhất Việt Nam: hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, thảm rong – cỏ biển, các rạng san hô và đặc biệt là hệ thống hang động, thung áng.
Ngoài biển, rừng trên núi đá vôi ở Cát Bà chiếm diện tích khá lớn, xen kẽ là những khu rừng mọc tự nhiên trên núi đất. Hệ thực vật ở đây có 620 loài, thuộc 123 họ có giá trị như Lát Hoa, Kim Giao… Tại động Trung Trang của Cát Bà còn có khu rừng Kim Giao mọc tự nhiên đẹp và có giá trị về kinh tế lẫn nghiên cứu khoa học.
Hệ động vật ở đây cũng rất phong phú với 20 loài thú, 69 loài chim, 20 loài bò sát và lưỡng cư, đặc biệt có loài voọc đầu trắng thường sống ở các vách đá cheo leo ven biển, loài thú quí hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới, nay chỉ còn thấy ở Cát Bà.
Khí hậu trên đảo Cát Bà mát mẻ, trong lành, thích hợp cho du lịch nghỉ dưỡng. Du khách có thể nghe tiếng sóng vỗ lên những bờ đá hằng đêm và tiếng gió với nhiều cung bậc ở nơi này: có tiếng gió thổi lồng lộng trên bờ đá ven biển, có tiếng gió vi vu trên đỉnh đèo, cũng lại có tiếng gió rít hoang dã, len lỏi qua những khe núi.
Đến Cát Bà, du khách có thể thuê một chiếc tàu du lịch đi khắp vịnh Lan Hạ, ghé vào những bãi tắm lớn nhỏ thật đẹp với những cái tên ngộ nghĩnh: bãi Cát Cò, bãi Bến Bèo, bãi Cô Tiên… hoặc những hang động Trung Trang, Hoa Cương, Thiên Long để khám phá thiên nhiên kỳ thú rồi sau đó dừng lại ở một vịnh nhỏ bất kỳ, hưởng cái thú câu cá và nhâm nhi thủy hải sản cùng chút rượu đế giữa non xanh nước biếc bên cạnh người thân hoặc bạn bè. Mọi phiền muộn sẽ được gột rửa.
Du khách có thể từ khu nhà nghỉ tại trung tâm thị trấn đảo qua những dốc núi để xuống bãi tắm Cát Bà. Hoặc không, quý khách có thể đặt phòng nghỉ ngay tại các khu nghỉ dưỡng sát bãi biển. Các bãi tắm được nối với nhau bằng một con đường nhỏ men theo triền núi, vì thế, du khách sẽ có thêm cảm giác thú vị khi di chuyển tìm một bãi tắm vừa ý.

3. TUYẾN ĐIỂM HÀ NỘI-PHÚ THỌ-LÀO CAI-SA PA
SƠ ĐỒ TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH HÀ NỘI-PHÚ THỌ-LÀO CAI-SA PA

Từ quốc lộ 5, rẽ theo quốc lộ 2 chúng ta sẽ đến với tỉnh Vĩnh Phúc.
Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc là một tỉnh miền núi trung du nằm ở vùng Đông Bắc. Phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, ranh giới tự nhiên là sông Lô, Phía nam giáp tỉnh Hà Tây – Hà Nội, ranh giới tự nhiên là sông Hồng. Phía đông giáp hai huyện Sóc Sơn, Đông Anh – Hà Nội, Phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên và tỉnh Tuyên Quang, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam giáp tỉnh Hà Tây và thủ đô Hà Nội.
Vĩnh Phúc là một tỉnh ở vùng đỉnh của châu thổ sông Hồng, khoảng giữa của miền Bắc nước Việt Nam, khu vực chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng vì vậy có ba vùng sinh thái: đồng bằng ở phía Nam tỉnh, trung du ở phía Bắc tỉnh, vùng núi ở huyện Tam Đảo.
Vĩnh Phúc tiếp giáp với sân bay quốc tế Nội Bài, là điểm đầu của quốc lộ 18 đi cảng Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh), đồng thời có đường sắt Hà Nội-Lào Cai, đường quốc lộ 2 chạy dọc tỉnh. Chảy qua Vĩnh Phúc có 4 dòng chính: sông Hồng, sông Lô, sông Phó Đáy và sông Cà Lồ. Hệ thống sông Hồng là tuyến đường thuỷ quan trọng, thuận lợi cho tàu bè.
Vĩnh Phúc vùng đất địa linh nhân kiệt, là cái nôi của người Việt cổ, với di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu nổi tiếng. Mê Linh, nơi Hai Bà Trưng đóng đô, nằm trong tỉnh này.
Tới Vĩnh Phúc, chúng ta sẽ đi qua huyện mê Linh
Mê Linh
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mê Linh là một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, nằm ở phía Bắc Hà Nội, giáp sân bay Nội Bài. Đây là địa danh gắn với tên tuổi của Hai Bà Trưng.
Diện tích 14.095,74 km²
Dân số 181.299 (2004)
Huyện Mê Linh được thành lập năm 1977 trên cơ sở hợp nhất 2 huyện Bình Xuyên và Yên Lãng, ngoài ra còn có 4 xã Văn Tiến, Nguyệt Đức, Minh Tân và Bình Định của huyện Yên Lạc, 2 xã Kim Hoa và Quang Minh của huyện Kim Anh.
Một năm sau, Mê Linh được sáp nhập vào Hà Nội. Đến 1979, sáp nhập thêm các xã Nam Viêm, Ngọc Thanh, Phúc Thắng, Cao Minh và thị trấn Xuân Hòa của huyện Sóc Sơn vào huyện Mê Linh, nâng tổng số đơn vị hành chính huyện Mê Linh lên thành 22 xã và 2 thị trấn.
1991, Mê Linh tách khỏi Hà Nội và trở về tỉnh Vĩnh Phú (nay là Vĩnh Phúc).
Sau khi thành lập thị xã Phúc Yên, tách khỏi huyện Mê Linh năm 2004, thị trấn Xuân Hòa trở thành một phường của thị xã Phúc Yên, thì huyện Mê Linh còn lại 17 xã.
2008, chủ trương sáp nhập Mê Linh vào Hà Nội.
Khi đi qua huyện Mê Linh, gần đầu huyện về phía bên phải quốc lộ có đền thờ Hai Bà Trưng.
Đền Thờ Hai Bà Trưng
Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 sau CN), thời đại Hai Bà Trưng (40 – 43 sau CN), được mọi người dân Việt Nam biết đến với niềm tự hào và kính trọng sâu sắc. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, trong cả lịch sử nhân loại, một cuộc khởi nghĩa do hai nữ Anh hùng lãnh đạo, đánh đuổi giặc ngoại xâm giành thắng lợi. Bà Trưng Trắc đã lên ngôi Vua, phong thưởng các tướng sĩ, cắt cử quan lại các cấp… Có thể nói,
Hai Bà Trưng là người đầu tiên có công giữ nước, xây dựng nền độc lập, người đặt nền móng cho truyền thống đánh giặc, ý thức tự lập, tự cường của dân tộc ta.
Sau khi hai bà mất, nhân dân trong nước thuộc nhiều triều đại kính trọng lập đền thờ hai bà và các tướng lĩnh giỏi (phần lớn là nữ tướng) ở nhiều nơi. Chỉ tính riêng trên đất Vĩnh Phúc đã có 65 đền thờ Hai Bà Trưng và 66 tướng lĩnh. Hàng năm, cứ đến ngày 6 tháng Giêng (ngày Hai Bà Trưng dựng cờ khởi nghĩa), tại đền thờ hai bà ở xã Mê Linh, huyện Mê Linh, lại mở hội lớn, nhân dân trong tỉnh và cả nước nô nức kéo về dự, thắp hương thành kính biết ơn “Nhị Vị Đại Vương” đã có công xây dựng nền độc lập ngay từ buổi bình minh của dân tộc và tiếp tục cầu mong Hai Bà phù hộ cho quốc thái, dân an…
Từ ngày có Đảng, đặc biệt là những năm 1940 – 1945, Đền thờ Hai Bà Trưng trở thành nơi chở che, đi về, hội họp của các nhà lãnh đạo tiền bối Đảng ta như các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Lê Quang Đạo
Trên đường tới thị xã Vĩnh Yên, bên tay phải có tuyến đường đi vào hồ Đại Lãi.
Hồ Đại Lãi
Đại Lải là một hồ nước nhân tạo lớn. Xưa kia, vùng hồ là một thung lũng cằn cỗi nằm giữa một bên là dải núi Thằn Lằn, một bên là các đồi trọc trải dần ra từ phía chân dãy Tam Đảo. Mùa mưa lũ, nước ở các con suối chảy dồn về như thác, đồng thời lại rút đi rất nhanh, cuốn trôi theo phù sa màu mỡ, làm cho đồng ruộng bị xói mòn, đất đai bạc màu vì khô cằn. Vì vậy, Bộ Thuỷ lợi đã cho khảo sát, thiết kế xây dựng hồ chứa nước Đại Lải với nhiệm vụ chủ yếu là phục vụ tưới tiêu cho đại bộ phận ruộng đồng của huyện Kim Anh, Sóc Sơn và một phần diện tích đất nông nghiệp huyện Bình Xuyên. Công trình được khởi công vào năm 1959, đến năm 1963 cơ bản hoàn thành bằng sức lao động chân tay của bộ đội, nhân dân, cán bộ công nhân viên chức, các cơ quan, đoàn thể trong và ngoài tỉnh, diện tích mặt nước 525ha, chứa 26,4 triệu m3 nước. Công trình hồ Đại Lải mang lại lợi ích phát triển kinh tế, xã hội, nông lâm nghiệp, phục vụ tưới tiêu cho khoảng 2.900ha – 3.500ha đất canh tác.
Với diện tích tự nhiên là 1.500ha, trung tâm là hồ Đại Lải, khu du lịch – thắng cảnh này đã, đang và ngày càng đẹp hơn, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch – dịch vụ, bước đầu thu hút được khách du lịch trong và ngoài nước tới thăm quan, nghỉ dưỡng.
Từ bãi tắm dưới hồ, du khách có thể đi bộ thể dục lên đỉnh núi Thằn Lằn phóng tầm mắt nhìn về Thủ đô Hà Nội và tham quan đồn Thằn Lằn, nơi ghi dấu một trong những trận đánh quyết liệt mà chiến thắng hào hùng của lực lượng vũ trang chiến khu Ngọc Thanh những năm chống Pháp. Những ai thích leo núi có thể ngược lên phía Bắc, luồn rừng qua đèo Nhe (một thời là con đường liên lạc trọng yếu giữa chiến khu Ngọc Thanh và căn cứ địa Việt Bắc) sang đất Thái Nguyên thăm hồ Suối Lạnh; tới đèo Khế thăm khe núi Đá Đen – địa điểm đặt kho bạc nhà nước thời kháng chiến; hay rẽ sang núi Mỏ Quạ mạo hiểm thử sức leo lên những vách đá dựng đứng… Từ trên cao nhìn xuống sẽ thấy thấp thoáng giữa bạt ngàn rừng xanh là các mặt nước hồ Xạ Hương, hồ Làng Hà, hồ Gia Khau thanh bình lặng sóng. Du khách cũng có thể tới thăm những dấu tích thành lũy của Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương hay những địa điểm ghi đầy dấu ấn lịch sử khác của chiến khu Ngọc Thanh như: cơ sở bào chế thuốc tân dược và nơi làm việc của trạm quân y chiến khu, thung lũng Đá Bia, Đồng Dè, đại bản doanh Móc Son…
Khu du lịch Đại Lải nằm trong địa phận xã Ngọc Thanh và xã Cao Minh, thuộc thị xã Phúc Yên, cách nội thành Hà Nội 40 km, cách sân bay Nội Bài 10 km với hệ thống đường giao thông thuận tiện cả đường bộ, đường sắt và đường hàng không. Với vị trí thuận lợi được thiên nhiên ưu đãi, được sự quan tâm của các cấp chính quyền trong tương lai không xa Đại Lải sẽ cùng với các khu du lịch Tam Đảo Tây Thiên và các khu du lịch sinh thái trong vùng tạo nên một quần thể du lịch bốn mùa và những ngày nghỉ cuối tuần của du khách thập phương trong và ngoài nước
Qua khỏi con đường vào hồ Đại Lãi là đến với thị xã Vĩnh Yên
Vĩnh Yên
Vĩnh Yên là thành phố của tỉnh Vĩnh Phúc
Thành phố Vĩnh Yên có 5.080,21 ha diện tích tự nhiên và 122.568 nhân khẩu (tháng 12 năm 2006)
Thành phố Vĩnh Yên phía đông giáp huyện Bình Xuyên; tây và bắc giáp huyện Tam Dương; nam giáp huyện Yên Lạc; đều thuộc tỉnh Vĩnh Phúc.
Hiện nay, thành phố có 1.159 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có trên 30 dự án vốn FDI tập trung chính ở hai khu công nghiệp là Khai Quang và Lai Sơn, giải quyết hàng vạn lao động trên địa bàn và các vùng lân cận với thu nhập bình quân 900.000 đồng/tháng. Ngoài ra, còn các cụm phát triển kinh tế nằm rải rác ở các xã, phường: Tích Sơn, Đồng Tâm, Hội Hợp phục vụ cho các dự án có quy mô vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, hoạt động thương mại đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh, đầu tư xây dựng cải tạo các chợ trung tâm thị xã, nâng cấp, hệ thống cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư vào các dự án lớn như: Khu dịch vụ Trại ổi, khu vui chơi giải trí Nam đầm Vạc, khu đô thị chùa Hà Tiên, khu du lịch Bắc đầm Vạc…
Tại thành phố Vĩnh Yên phía bên phải có con đường đi Tam Đảo. Chạy khoảng 24 km theo con đường này các bạn sẽ tới Tam Đảo
Dãy Núi Tam Đảo
Dãy núi Tam Đảo là một dãy núi đá ở vùng Đông Bắc nằm trên địa bàn ba tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Gọi là Tam Đảo, vì ở đây có ba ngọn núi cao nhô lên trên biển mây, đó là Thạch Bàn, Thiên Thị và Máng Chỉ. Ngọn cao nhất có độ cao tuyệt đối là 1590m. Dãy núi Tam Đảo hình thành cách đây 230 triệu năm vào giữa kỷ Trias do hoạt động của núi lửa phun trào dung nham làm nhiều đợt trồng lên nhau. Các loại đá chính ở Tam Đảo là Riolit pocfia, penzit và các tuf của chúng. Dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, dài chừng 80 km, rộng từ 10 đến 15 km. Do tương đối dốc đứng, nên trên Tam Đảo có nhiều suối và thác nước. Thác Bạc có độ cao 50m, nước sối xuống tung bọt trắng ngay cả vào mùa khô. Cũng vì dốc đứng, nên hệ thực vật ở đây khá đa dạng và thay đổi theo độ cao. Nhiều loại rau quả ôn đới được trồng ở Tam Đảo và cung cấp cho các vùng xung quanh, nhất là cho Hà Nội. Càng lên cao, các loài cây thuộc họ lá kim càng nhiều. Loài cá cóc, là động vật đặc hữu của Tam Đảo. Vườn quốc gia Tam Đảo rộng 36.883 ha nằm trọn trong dãy núi này.
Trên dãy Tam Đảo có những di tích văn hóa-lịch sử nổi tiếng như chùa Tây Thiên và đền Tây Thiên (còn gọi Đền Mẫu) thờ Quốc Mẫu Tây Thiên Năng Thị Tiêu. Theo thần thoại, Quốc Mẫu Tây Thiên là do linh khí của núi rừng Tam Đảo hun đúc mà nên. Đầu thế kỷ 20, người Pháp đã lên Tam Đảo và xây dựng một thị trấn ở đây làm nơi nghỉ mát cho các quan chức của chính quyền đô hộ. Tổng cộng có 163 ngôi biệt thự kiến trúc châu Âu đã được xây dựng. Ngày nay, một số đã đổ nát. Tam Đảo là một khu du lịch nổi tiếng ở miền Bắc.
Tiếp tục hành trình chúng ta sẽ tới tỉnh phú Thọ.
Phú Thọ
Phú Thọ là vùng đất tổ cội nguồn của dân tộc Việt Nam. Nơi đây các vua Hùng đã dựng nước Văn Lang – quốc gia đầu tiên của Việt Nam với thủ đô là Phong Châu.
Thời Hùng Vương, Phú Thọ thuộc bộ Văn Lang, trung tâm của nước Văn Lang.
Thời An Dương Vương với nhà nước Âu Lạc, Phú Thọ thuộc huyện Mê Linh.
Dưới thời Bắc thuộc (từ năm 111 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ 10), Phú Thọ thuộc quận Mê Linh, Tân Xương, Phong Châu.
Thời kỳ phong kiến độc lập, phân cấp hành chính của Việt Nam có sự thay đổi, chế độ quận, huyện thời Bắc thuộc được thay thế bằng các đạo (lộ, trấn, xứ, tỉnh), dưới đạo là các phủ, châu, huyện. Phú Thọ thuộc lộ Tam Giang.
Từ thời nhà Lê đến đầu triều nhà Nguyễn (1428 – 1891), phần lớn tỉnh Phú Thọ ngày nay thuộc tỉnh Sơn Tây trừ huyện Thanh Xuyên và huyện Yên Lập thuộc tỉnh Hưng Hoá (huyện Thanh Xuyên nay là 3 huyện Tân Sơn, Thanh Sơn và Thanh Thuỷ; huyện Yên Lập thuộc phủ Quy Hoá nay thuộc tỉnh Phú Thọ).
Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), nhà vua đã tiến hành cải cách hành chính, đổi tất cả các trấn trong nước là tỉnh, phân lại địa giới các tỉnh (điều chuyển một số huyện từ tỉnh nọ sang tỉnh kia), chia tách một số huyện lớn…
Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh 3.519 km²
Theo thống kê năm 2003, Phú Thọ có 1.302.700 người
Phú Thọ có 3 con sông lớn chảy qua: sông Hồng (sông Thao), sông Lô và sông Đà, chúng hợp lại với nhau ở Thành phố Việt Trì. Chính vì thế mà đây được gọi là “ngã ba sông”.
Phú Thọ có nền văn hoá rực rỡ từ lâu đời. Những di chỉ khảo cổ văn hoá Sơn Vi, Đồng Đậu, Làng Cả và nhiều đình, chùa, lăng, tẩm còn lại quanh vùng núi Nghĩa Lĩnh cho thấy đất Phong Châu là một trung tâm văn hoá của dân tộc Việt. Di tích lịch sử quan trọng là đền quốc mẫu Âu Cơ, khu di tích đền Hùng.
Ao Giời-Suối Tiên, một địa chỉ du lịch sinh thái và văn hóa gắn với truyền thuyết Lạc Long Quân-Âu Cơ
Đây là vùng đất có nhiều lễ hội, đáng kể nhất là lễ hội Giỗ tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng Ba âm lịch). Các dân tộc ít người cũng có những đặc trưng văn hoá riêng của mình: người Mường có nhiều truyện thơ, ca dao, tục ngữ, hát xéc bùa, hát ví, hát đúm. Người Việt có hát xoan, hát ghẹo… Các lễ hội chính trong tỉnh có thể kể đến:
Lễ hội đền Hùng tổ chức tại Đền Hùng ngày 10 tháng Ba âm lịch, hiện đã được nâng lên thành quốc giỗ.
Đặc sản có bưởi Đoan Hùng, quả hồng Hạc (hay còn gọi là hồng Hạc Trì), là loại hồng không hạt quả to, chè Phú Thọ, thịt chua làm từ thịt lợn, rêu đá tại huyện Thanh Sơn.
Các vùng núi phía Bắc tỉnh thịnh hành món cơm lam làm từ gạo nếp nương, đặc biệt là món xôi cọ là loại xôi được đồ từ gạo nếp trộn với thịt quả cọ đã được om chín.
Tỉnh Phú Thọ có thành phố Việt Trì – Thành phố Ngã ba sông
Việt Trì
Diện tích: thành phố Việt Trì rộng 10.636,94 ha.
Thành phố có dân số là 168.462 người.
Việt Trì là thành phố trực thuộc tỉnh Phú Thọ. Việt Trì được thành lập vào năm 1962 và là đô thị loại 2 của Việt Nam.
Việt Trì cách Hà Nội 75 cây số về hướng Tây Bắc Nằm ở “Ngã Ba Hạc” trên sông Hồng, nơi con sông Thao đỏ nước phù sa hợp lưu với dòng sông Lô xanh biếc. Vì thế Việt Trì còn được biết đến với cái tên Thành phố Ngã ba sông.
Thành phố Việt Trì về phía Đông giáp huyện Lập Thạch, huyện Vĩnh Tường (tỉnh Vĩnh Phúc); Tây giáp thị trấn Lâm Thao, thị trấn Hùng Sơn, xã Tiên Kiên, xã Thạch Sơn, huyện Lâm Thao; Nam giáp xã Cao Xá, xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao (cùng của Phú Thọ) và huyện Ba Vì (tỉnh Hà Tây); Bắc giáp xã Phù Ninh, xã An Đạo, xã Tử Đà, xã Vĩnh Phú, huyện Phù Ninh.
Khu vực nằm trong địa giới Việt Trì hiện nay được coi là kinh đô đầu tiên của quốc gia Văn Lang với các triều đại Vua Hùng cách đây trên 4000 năm, biểu hiện qua những di chỉ khảo cổ nổi tiếng tại Làng Cả và khu di tích lịch sử Đền Hùng. Hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 3 âm lịch nhiều người lại hành hương và hướng về đất Tổ với lòng tôn kính. Hiện nay khu di tích lịch sử Đền Hùng đang được đầu tư và tôn tạo, trở thành một vùng du lịch của thành phố Việt Trì.
Về ẩm thực, xưa Việt Trì nổi tiếng với cá Anh Vũ, một loại cá nước ngọt chỉ thấy xuất hiện tại ngã ba sông.
Đoạn thành Phố Việt Trì, phía bên trái quốc lộ có Đền Hùng.
Đền Hùng
Đền Hùng được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, giữa đất Phong Châu, ngày nay là xã Hy Cương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Phong Châu là đế đô của nước Văn Lang, từ 40.000 năm trước. Đấy là đất Tổ của dân tộc Việt Nam.
Tương truyền, xa xưa, các vua Hùng lựa chọn nhiều nơi, cuối cùng mới tìm được thánh địa này để đóng đô. Nơi này ở phía trước có sông tụ hội, hai bên có núi chầu hầu. Bãi sông tiện lợi cho sinh hoạt nhân dân. Đất đai màu mỡ thích hợp việc cày cấy, trồng trọt. Đất gò đồi cao thuận lợi việc lập ấp mở làng.
Ngày nay, những dấu tích phát hiện được trong các đợt khai quật khảo cổ ở Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, Làng Cả… cho thấy quanh vùng đất Phong Châu đều có tính chất tiêu biểu. Điều này chứng minh rằng đây là địa bàn sinh tụ của người Việt cổ thời Hùng Vương. Cuộc sống vật chất và tinh thần của con người ở đây đã đạt tới đỉnh cao văn minh lúc bấy giờ.
Theo sử cũ, sau khi định đô ở Phong Châu, các vua Hùng đã chọn núi Nghĩa Lĩnh làm nơi tế trời đất, chủ thần và tiên tổ. Với những cái tên được gọi qua nhiều thời điểm khác nhau như là: Hy Chương, Nghĩa Cương, Hùng Lĩnh, núi Hùng, núi Nghĩa Lĩnh cao 175m, nằm trên địa phận thôn Cổ Tích. Cây cối ở đây um tùm, xung quanh là gò đồi nhấp nhô trùng điệp.
Tương truyền có tất cả 99 ngọn đồi vốn là 99 con voi có nghĩa phủ phục chầu núi Tổ, riêng có 1 con bất nghĩa, quay ngược lại bị chém đầu. Vì vậy, vùng này có một quả đồi có vết xẻ thành khe.
Du khách đi đến đền Hùng, từ Hà Nội qua Cổ Loa, Đông Anh, khu công nghiệp Việt Trì, khu mộ cổ Làng Cả, cầu Bạch Hạc là nhìn thấy núi Hùng, núi Trọc, núi Văn in hình trên nền trời. Sau đó, tới Ngã Ba Đền Hùng, du khách rời đường lớn, rẽ vào con đường đất đỏ như xẻ qua đồi, dưới rừng cây tỏa rợp bóng mát. Cổng đền Hùng hiện ra ở chân núi phía Tây, bên những gốc thông đại thụ cao vút.
Khu vực Đền Hùng được bảo vệ, tôn tạo khá chu đáo. Đường đi được làm thêm vào thời gian gần đây; bậc đá lên đền được sửa lại; cây được trồng thêm. Ngoài ra, còn xây thêm khu công quán, đào hồ chứa nước Lạc Long Quân…
Đứng trên núi Nghĩa Lĩnh nhìn xuống, du khách thấy phía xa xa là Ngã ba Hạc, nơi sông Lô nhập dòng với sông Hồng. Xưa kia, mênh mông như biển cả. Phía bên trái là dãy Tam Đảo hùng vĩ. Phía bên phải là ngọn Ba Vì mờ mờ xanh ẩn hiện… Đồng ruộng, đồi cọ, vườn chè, làng xóm trù phú, cảnh đẹp như tranh, vùng trung du trải rộng ra trước mắt. Đây đó rải rác những đầm hồ lớn lấp loáng như gương dưới ánh xuân.
Tiếp theo chúng ta sẽ tới huyện Đoan Hùng.
Đoan Hùng
Diện tích Đoan Hùng là 302,4 km².
Dân số, theo thống kê năm 1999,là 101.500 người.
Đoan Hùng là huyện cực bắc của tỉnh Phú Thọ,Việt Nam.
Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang. Huyện Đoan Hùng có ranh giới phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh, phía Nam giáp huyện Thanh Ba, phía Tây Nam và phía Tây giáp huyện Hạ Hòa, đều là các huyện của tỉnh Phú Thọ. Phía Tây Bắc, Đoan Hùng giáp huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái. Phía Bắc và phía Đông, huyện Đoan Hùng giáp các huyện của tỉnh Tuyên Quang, kể từ Bắc sang Đông lần lượt là các huyện: Yên Sơn (phía Bắc) và Sơn Dương (phía Đông). Trên phần phía Đông Bắc huyện có đoạn cuối của sông Chảy (phần hạ du thủy điện Thác Bà), đổ nước vào sông Lô ngay tại đây. Men theo phần lớn ranh giới với huyện Sơn Dương – Tuyên Quang, là dòng sông Lô, một con sông lớn của hệ thống sông Hồng, nhưng ngã ba sông Chảy – sông Lô lại nằm sâu trong lòng huyện.
Trên đoạn sông Lô chảy qua huyện, ngày 24 tháng 10 năm 1947, đã diễn ra trận Đoan Hùng, một trong một chuỗi chiến thắng sông Lô của Quân đội Nhân dân Việt Nam trước quân đội Viễn Chinh Pháp, trong chiến tranh Đông Dương.
ở Đoan Hùng, tiếp tục đi theo quốc lộ 2 thì sẽ tới Tuyên Quang.
Tuyên Quang
Tuyên Quang là tỉnh miền núi nằm ở phía Bắc,
Diện tích: 5.868 Km 2
Dân số: 727.751 người (năm 2005) .
Trong cách mạng Tháng Tám , Tuyên Quang vinh dự là Thủ đô Khu giải phóng, được Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn làm trung tâm của cách mạng cả nước.
Trong những năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Tuyên Quang là Thủ đô Kháng chiến
Tại Tuyên Quang, nhiều hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng, Chính phủ được triệu tập.
Tại Đoan Hùng chúng ta sẽ đi theo quốc lộ 70 để đến với tỉnh Yên Bái
Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam.
Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc. Tỉnh có Phía đông bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp tỉnh Sơn La, phía tây bắc giáp hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai.
Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng.
Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ đông sang tây, từ nam lên bắc, độ cao trung bình 600 mét so với mực nước biển và có thể chia làm hai vùng: vùng thấp ở tả ngạn sông Hồng và lưu vực sông Chảy mang nhiều đặc điểm của vùng trung du; vùng cao thuộc hữu ngạn sông Hồng và cao nguyên nằm giữa sông Hồng và sông Đà có nhiều dãy núi.
Yên Bái có khí hậu đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng lắm mưa nhiều nên độ ẩm cao.
Khu vực một suối nước nóng tại huyện Văn Chấn, Yên Bái. Chiếc giếng xây gạch quây mạch nước nóng chảy ra suối. Dãy núi phía xa mờ là khu vực Suối Giàng với loại chè ngon có tiếng
Yên Bái có các loại rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới trên núi cao. Gỗ quý ở đây có pơ-mu, được nhiều người tin là có tác dụng diệt vi khuẩn độc hại, kéo dài tuổi thọ của những ai lấy gỗ này làm giường.
Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy, còn có khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ và hồ, đầm. Đầu thập niên 1960, Nga giúp thiết kế hồ Thác Bà – hồ nước nhân tạo có diện tích mặt nước trên 20.000 ha, với khoảng 1.300 đảo lớn nhỏ. Hồ có sức chứa 3–3,9 tỷ m³ nước với mục đích ban đầu là chạy Nhà máy thuỷ điện Thác Bà – Công trình thuỷ điện lớn đầu tiên ở Việt Nam. Hồ Thác Bà cùng với các lễ hội, di tích danh thắng của Yên Bái đang là điểm đến của du khách.
Hiện nay, toàn tỉnh có 731.810 người (2005) gồm 30 dân tộc chung sống. Các dân tộc ở Yên Bái sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh với những bản sắc văn hoá phong sắc.
Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện, như đền, tháp, khu di tích lịch sử.
Được thành lập năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 2 năm 1930. Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã bị thực dân Pháp bắt và đem hành quyết bằng máy chém ở Yên Bái cùng 12 đồng đội vào ngày 17 tháng 6 năm 1930.
Giao thông ở Yên Bái có hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thuỷ. Thông thương từ Yên Bái đến các tỉnh lân cận của miền Tây Bắc và Việt Bắc ngày càng phát triển nhất là khi hệ thống đường bộ đang tiếp tục được hoàn thiện, tuyến đường sắt Hà Nội – Yên Bái – Lào Cai nối liền tới Côn Minh, Trung Quốc được nâng cấp.
Sau khi tới Yên Bái chúng ta sẽ đi qua Thành Phố Yên Bái.
Thành Phố Yên Bái
Thành phố Yên Bái là một thành phố của tỉnh Yên Bái.
Thành phố cách Hà Nội khoảng 150 km theo sông Hồng. Trước đây thành phố này chỉ là một thị xã nhỏ nằm gần sông Hồng. Thị xã Yên Bái trở thành thành phố theo Nghị định số 05/2002/NĐ-CP ngày 11 tháng 1 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ. Thành phố Yên Bái là đô thị loại III.
Phía đông và đông bắc giáp huyện Yên Bình, phía tây và tây nam giáp huyện Trấn Yên. Diện tích 58 km². Dân số 76.474 người (2003), gồm 18 dân tộc anh em sinh sống, đa số là dân tộc Kinh.
Đi hết tỉnh Yên Bái là tới tỉnh Lào Cai.
Lào Cai
Diện tích tự nhiên 6357,08 km2.
Số dân trung bình năm 2005: trên 57,68 vạn người.
Lào Cai là tỉnh vùng cao biên giới nằm phía Tây Bắc Việt Nam cách Hà Nội 296 km theo đường sắt và 345 km theo đường bộ. Phía đông giáp tỉnh Hà Giang; phía tây giáp tỉnh Sơn La và Lai Châu; phía nam giáp tỉnh Yên Bái, phía bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) với 203 km đường biên giới.
Cách ngày nay hơn vạn năm, con người đã có mặt tại địa bàn Lào Cai. Thời Hùng Vương dựng nước, vùng đất Lào Cai thuộc bộ Tân Hưng, là một trong 15 bộ của Nhà nước Văn Lang – là một trung tâm kinh tế chính trị lớn ở thượng nguồn sông Hồng. Đến đời Đinh, Lý, Trần, Lê có biết bao biến động về địa danh… Đến đời nhà Nguyễn, vùng đất Lào Cai chủ yếu thuộc đất của châu Thuỷ Vỹ, châu Văn Bàn, một phần thuộc châu Chiêu Tấn và một phần nhỏ thuộc châu Lục Yên thuộc phủ Quy Hoá. Đến thời điểm này địa danh Lào Cai chưa được hình thành.
Dân tộc: Có 25 dân tộc và người có thành phần dân tộc cùng chung sống, chiếm gần 70% dân số toàn tỉnh, trong đó dân tộc Mông chiếm đa số, tiếp đến là dân tộc Tày, Dao, Thái, Nùng, Giao, Giáy, Phù Lá, Mường, Hà Nhì, La Chí,…
Chúng ta sẽ đi qua thành phố Lào Cai.
Thành Phố lào Cai
Diện tích: 221,5 km²
Thành phố Lào Cai là một đô thị loại 3, tỉnh lị của tỉnh Lào Cai. Thành phố được thành lập vào năm 2004 trên cơ sở sáp nhập hai thị xã Lào Cai và Cam Đường. Thành phố Lào Cai có Cửa khẩu Quốc tế Lào Cai là nơi giao thương quan trọng ở phía Bắc Việt Nam với phía Nam Trung Quốc.Nằm ở vị trí địa đầu của Tổ quốc, thành phố Lào Cai là cửa ngõ quan trọng mở cửa thị trường Việt Nam với các tỉnh phía Nam Trung Quốc và cả các tỉnh nằm sâu trong nội địa Trung Quốc.
Thành phố Lào Cai giáp các huyện Mường Khương, Bảo Thắng, Bát Xát, Sa Pa cùng của tỉnh Lào Cai. Phía Bắc, thành phố giáp thị trấn Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Thành phố Lào Cai có 2 con sông chảy qua, sông Nậm Thi chạy quanh phía Bắc tỉnh, đồng thời là ranh giới tự nhiên với nước bạn, nước sông quanh năm trong xanh, là nguồn cung cấp nước sinh hoặt cho nhà máy nước thành phố Lào Cai, sông Hồng chạy dọc qua thành phố, mang lại nguồn phù sa màu mỡ cho đồng bằng sông Hồng. Hiện nay thành phố Lào Cai đã tiến hành kè dọc theo 2 bên sông Hồng, tạo ra một cảnh quan đẹp, là điểm nhấn cho thành phố. Giờ đây con sông Hồng hung dữ ngày nào đã trở thành một nàng công chúa hiền lành trong một thành phố năng động và phát triển từng ngày. Thành phố Lào Cai cũng chính là ga cuối cùng của tuyến đường sắt phía Bắc, từ đây bạn có thể chuyển tiếp sang Trung Quốc bằng đường bộ hoặc thậm chí bằng đường sắt luôn với chuyến tàu Liên Vận quốc tế. Ở phía Bắc cỉ có 2 tỉnh duy nhất có được điều kiện thuận lợi này là Lạng Sơn và Lào Cai.
Thị xã Lào Cai có cửa khẩu quốc tế Lào Cai nối liền tuyến liên vận quốc tế Hà Nội – Hải Phòng với các tỉnh phía Nam Trung Quốc, còn thị xã Cam Đường có ngành công nghiệp khai thác quặng Apatit số 1 của Việt Nam. Hai thế mạnh này càng củng cố sự phát triển của Lào Cai và đảm bảo một sự phát triển bền vững cho một đô thị có đầy tiềm năng cất cánh trong một tương lai gần.
Từ thành phố Lào Cai, bên tay phải có tuyến đường đi Hà Khẩu (Trung Quốc)
Hà Khẩu
Cửa khẩu Hà Khẩu có một vị trí và vai trò quan trọng trong hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng
Cửa khẩu Hà Khẩu là một bộ phận của hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng, là một hệ thống kinh tế xã hội tương đối nhỏ, là một yếu tố trong hệ thống lớn tạo thành hành lang kinh tế Côn Minh – Hà Nội – Hải Phòng. Và hành lang kinh tế này lại là một yếu tố nối liền hai hệ thống lớn hơn là thị trường Trung Quốc và thị trường Việt Nam cùng các nước Đông Nam á.
Từ thành phố Lào Cai chúng ta không đi theo quốc lộ 70 mà đi theo quốc lộ 4D để đến Sa Pa. Tới đèo Sa Pa đi thêm khoảng 30 km nữa chúng ta sẽ tới thị trấn Sa Pa.
Sa Pa
Sa Pa là một thị trấn nghỉ mát đẹp và thơ mộng nằm ở độ cao 1.600 m (4,800 ft) so với mặt biển, cách Hà Nội 333 km (208 miles), cách thị xã Lào Cai 38 km (23.8 miles). Khí hậu Sa Pa mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình năm từ 15 đến 18° C, mùa hạ không nóng gay gắt như vùng đồng bằng ven biển. Mùa đông thường có mây mù bao phủ và rất lạnh, nhiệt độ có khi xuống dưới 0° C, có năm tuyết rơi. Thời tiết ở Sa Pa một ngày có tới bốn mùa: sáng, chiều là thời tiết của mùa xuân, mùa thu. Buổi trưa là thời tiết của mùa hạ, thường có nắng nhẹ, trời quang mây nhưng khí hậu vẫn dịu mát. Đêm đến trời lạnh là thời tiết của mùa đông. Từ tháng 5 đến tháng 8 ở Sa Pa có mưa nhiều.
Ở ngay trung tâm thị trấn, xen giữa rừng đ ào thơ mộng và những rặng Samu xanh ngát là những biệt thự cổ kính xen cùng biệt thự hiện đại kiến trúc theo kiểu phương tây khiến cho thị trấn mang nhiều dáng dấp của thành phố châu Âu. Dọc theo các sườn đồi là những ngôi nhà xinh xắn với tường vôi, ngói đỏ, hình khối đa dạng ẩn hiện khi lên cao, lúc xuống thấp dọc theo các trục lộ làm cho thị trấn càng trở nên thơ mộng. Từ thị trấn Sa Pa nhìn sang phía tây là dãy Hoàng Liên Sơn xanh thẳm, bốn mùa sương giăng buổi sớm. Nơi đây có ngọn đỉnh Phan-Xi-Păng cao 3.143 m (9,429 ft) rất hấp dẫn những ai mê leo núi. Sa Pa còn có nhiều cảnh đẹp tự nhiên như thác Bạc, cầu Mây, Cổng Trời, rừng Trúc, hang động Tả Phìn.
Khí hậu Sa Pa trong lành, nổi tiếng với những vườn cây ôn đới như bắp cải, su hào, su su…, cây dược liệu quý và nhiều loại cây ăn quả như đ ào, mận, lê… Những ngày phiên chợ ở Sa Pa thật nhộn nhịp. Vào tối thứ bảy hàng tuần, chợ Sa Pa có sức hấp dẫn đặc biệt đối với du khách từ phương xa tới.
Đến với Sa Pa có các diểm tham quan sau:
Cầu Mây: Cầu Mây là một cây cầu bắt treo qua dòng sông Mường Hoa
Hang động Tả Phìn: Cách thị trấn Sa Pa 12 km về hướng đông bắc có một dãy núi đá vôi, một nhánh của dãy Hoàng Liên Sơn, trên đó có hang động Tả Phìn.
Gần động Tả Phìn có bản Tả Phìn, nơi có dân tộc Dao và H’Mông cư trú. Sau khi thăm hang động Tả Phìn, du khách có thể ghé thăm bản để tìm hiểu thêm về phong tục tập quán của họ.
Chợ Sa Pa: Chợ của người H’Mông, người Dao
Nước khoáng Tắc Kô: Là một mạch nước ngầm trong vắt, nằm ở địa phận Mường Tiên. Nước ở đây rất ngọt và mát, có tác dụng giải khát và chữa bệnh. Mạch nước khoáng Tắc Kô là nguồn nguyên liệu sản xuất nước giải khát dồi dào, phục vụ khách du lịch nghỉ dưỡng ở Sa Pa.
Chợ phiên Bắc Hà (cách Sa Pa 80 km
Quần thể hang động Mường Vi: Mường Vi thuộc huyện Bát Xát có quần thể hang động đẹp, nổi bật là hang Mường Vi. Chiều sâu của hang khoảng hơn 1 km (0.6 miles), lòng hang rộng có nhiều cửa ra vào.
Suối, thác Cốc San: Về phía tây nam thị xã Lao Cai khoảng 5 km
Tại thị trấn Sa Pa, nhìn về bên trái xa a là núi Hàm Rồng.
Núi Hàm Rồng
Cách thị xã Lào Cao 33 km qua Mường Tiên, tới Sa Pa, ngước lên xa xa, mờ ảo giữa làn mây trắng du khách thấy mỏm đá vươn cao tựa đầu rồng. Đó là núi Hàm Rồng.
Truyền thuyết dân gian kể rằng thuở Sa Pa còn chìm trong đại dương, có hai anh em nhà rồng trốn đến đây chơi. Vua cha phát hiện gọi về, rồng anh nghe thấy đã bay về trời, rồng em mải chơi tuốt chốn thủy cung nên chẳng nghe thấy. Trời sập tối, rồng em mới sực tỉnh quẫy đuôi ngoi lên thì cổng trời đã đóng chặt lại. Rồng em đành phải mãi mãi ở lại hạ giới và hóa thành núi đá với tư thế đầu lúc nào cũng ngẩng lên, dõi mắt về trời. Từ đấy ngọn núi nằm trong dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ núi được mang tên Hàm Rồng với hàm của rồng ở độ cao 1.780m so với mặt nước biển.
Cũng tại thị trấn Sa Pa phía bên phải có con đường để đến với bản Cát Cát.
Bản Cát Cát
Từ trung tâm thị xã Sa Pa đến Cát Cát chỉ 2 km. Đó là bản lâu đời của người Mông còn lưu giữ nhiều nghề thủ công truyền thống như trồng bông, lanh và dệt vải chế tác đồ trang sức. Đặc biệt nơi đây còn giữ được khá nhiều phong tục độc đáo mà ở các vùng khác không có, hoặc không còn tồn tại nguyên gốc.
Qua những khung dệt, người Mông tạo nên những tấm thổ cẩm nhiều màu sắc và hoa văn mô phỏng cây, lá, hoa, muông thú… Gắn liền với công đoạn dệt vải bông, vải lanh là khâu nhuộm và in thêu hoa văn, phổ biến là kỹ thuật nhuộm chàm, nhuộm nước tro thảo mộc và cây lá rừng. Vải nhuộm xong được đánh bóng bằng cách lăn vải với khúc gỗ tròn trên phiến đá phẳng có bôi sáp ong.
Ở làng Cát Cát, nghề chế tác đồ trang sức bằng bạc, đồng đã có từ lâu đời và tạo ra những sản phẩm tinh xảo
Một điều hấp dẫn du khách khi đến Cát Cát là người Mông ở đây còn giữ được khá nhiều phong tục tập quán độc đáo, chẳng hạn như tục kéo vợ. Khi người con trai quen biết và đem lòng yêu một cô gái, anh ta sẽ tổ chức làm cỗ mời bạn bè và nhờ các bạn lập kế hoạch “kéo” cô gái về nhà một cách bất ngờ, giữ cô trong ba ngày. Sau đó, nếu cô gái đồng ý làm vợ chàng trai thì sẽ tiến hành lễ cưới chính thức. Nếu cô từ chối thì họ cùng nhau uống bát rượu kết bạn và mọi việc trở lại bình thường như chưa có điều gì xảy ra. Lễ cưới người Mông ở Cát Cát thường được tổ chức từ 2 đến 7 ngày.
Kiến trúc nhà cửa người Mông làng Cát Cát còn nhiêu nét cổ. Làng Cát Cát được hình thành từ giữa thế kỷ 19, các hộ gia đình cư trú theo phương thức mật tập: dựa vào sườn núi và quây quần bên nhau, các nóc nhà cách nhau chừng vài chục mét. Họ trồng lúa trên ruộng bậc thang, trồng ngô trên núi theo phương pháp canh tác thủ công, sản lượng thấp. Phần lớn nhà cửa đều đơn giản, chỉ có một cái bàn, cái giường và bếp lửa nấu nướng…
Đi qua khỏi con đường vào bản Cát Cát một đoạn cũng về bên phải là đường vào thác Bạc.
Thác Bạc
Thác Bạc cách thị trấn Sa Pa khoảng 12 km. Từ trên khe núi cao hàng trăm mét, dòng nước ầm ầm đổ xuống, bọt tung trắng xoá như những đóa hoa vì vậy gọi là thác Bạc. Từ xa đã nghe thấy tiếng thác đổ ào ào, tiếng vang được lập lại trong rừng thẳm càng tăng thêm cảm giác hoang dã và huyền bí. Thác ở ngay gần đường quốc lộ, rất thuận tiện cho khách du lịch.
Tại đoạn đi thác Bạc, nhìn xa về bên trái là dãy núi hùng vĩ Phan-Xi-Păng
Núi Phan-Xi-Păng
Tuy chỉ cách thị xã Lào Cai không xa, nhưng nếu đi bộ, leo núi bạn phải mất 6 đến 7 ngày mới tới đỉnh núi. Phan-Xi-Păng nằm ở phía tây nam Sa Pa, là một ngọn núi cao nhất của bán đảo Đông Dương (3.143 m). Phan-Xi-Păng nằm ở giữa các ngọn núi trong dãy Hoàng Liên Sơn có độ cao hơn 3.000 m so với mặt biển (Lang Cung, Pu Luang, Sapin).
Hệ thực vật ở Phan-Xi-Păng khá phong phú. Có tới 1680 loại cây chia làm 679 chi thuộc 7 nhóm. Có một số loại thuộc nhóm quí hiếm. Phan-Xi-Păng rất hấp dẫn với khách du lịch ưa mạo hiểm. Du khách đến đây để khám phá và chinh phục nó.
Và nếu tiếp tục đi theo quốc lộ 4D chúng ta sẽ tới Lai Châu.
Lai Châu
Lai Châu là một tỉnh biên giới thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam, phía Bắc giáp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, phía Tây và phía Tây Nam giáp tỉnh Điện Biên, phía Đông giáp tỉnh Lào Cai, phía Đông Nam giáp tỉnh Yên Bái, và phía nam giáp tỉnh Sơn La.
Xưa kia Lai Châu đặt dưới quyền điều hành của tù trưởng các dân tộc Thái, quy phục triều đình Việt Nam.
Đây vốn là một châu thuộc phủ Điện Biên, tỉnh Hưng Hóa xưa.
Tiểu quân khu phụ Lai Châu gồm châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ được thành lập theo Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1893 của Toàn quyền Đông Dương và trực thuộc tỉnh Vạn Bú từ ngày 10 tháng 10 năm 1895. Tỉnh Vạn Bú đổi tên thành tỉnh Sơn La năm 1904, do đó Lai Châu lại thuộc tỉnh Sơn La.
Trước khi tách tỉnh, tỉnh Lai Châu có diện tích lớn nhất miền Bắc Việt Nam, thứ hai Việt Nam (sau tỉnh Đắc Lắc): 16.919 km², dân số 715.300 người (1999), gồm thành phố Điện Biên Phủ (tỉnh lỵ), thị xã Lai Châu và 10 huyện (trước kia chỉ có 7 huyện).
Từ 1 tháng 1 năm 2004, tỉnh Lai Châu tách thành hai tỉnh là tỉnh Lai Châu (mới) và tỉnh Điện Biên. Tỉnh lỵ mới chuyển về thị xã Tam Đường (trước đó gọi là thị trấn Phong Thổ) và gọi là thị xã Lai Châu (mới). Thị xã Lai Châu cũ đổi tên là thị xã Mường Lay (thuộc tỉnh Điện Biên).
Phan Xi Păng – một phần ranh giới Lào Cai – Lai Châu
Lai Châu có 20 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong đời sống văn hoá truyền thống. Chợ phiên vùng cao là nơi biểu hiện rất rõ những nét văn hoá đặc trư¬ng đó.
Dinh thự Đèo Văn Long thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ, là khu dinh thự của ông vua Thái bù nhìn trong kháng chiến chống Pháp. Dinh thự trở thành di tích lịch sử, giáo dục lòng tự hào dân tộc, chứng tích cho việc hạ bệ kẻ cúi đầu làm nô lệ và là nơi thăm quan tìm hiểu những nét kiến trúc đặc trưng, mang bản sắc văn hoá Thái.
Bia Lê Lợi: được khắc trên vách đá bờ Bắc sông Đà, nay thuộc xã Lê Lợi – huyện Sìn Hồ.
Di chỉ khảo cổ học nền văn minh của người Việt cổ như di tích Nậm Phé, Nậm Tun ở Phong Thổ; đã tìm thấy công cụ của thời kỳ đồ đá; những công cụ bằng đồng của nền văn hoá Đông Sơn thời đại Hùng V¬ương, như¬ trống đồng
Lai Châu có nhiều đỉnh núi cao, sông suối nhiều thác ghềnh, như: đỉnh Phan Xi Păng (3.143m), dãy Pu Sam Cáp (cao trên 1.700 m), sông Đà, sông Nậm Na, sông Nậm Mu …
Suối nước nóng, nước khoáng là sản vật thiên nhiên tặng cho Lai Châu như núi đá Ô, động Tiên (Sìn Hồ); suối nước nóng Vàng Bó (Phong Thổ); suối nước nóng Nà Đông, Nà Đon (Tam Đường); suối nước khoáng (Than Uyên); … và các hồ thuỷ điện lớn khác.
Pú Đao: Một bản người Mông nhỏ với 887 người dân ở tỉnh Lai Châu được khách hàng của một hãng lữ hành nước Anh bầu là một trong năm điểm đến hấp dẫn nhất ở Đông Nam Á. Xã Pú Đao (tiếng Mông có nghĩa là “điểm cao nhất”) thuộc huyện Sìn Hồ, cách thị xã Mường Lay 13km.

(Nguồn: au group)

Gửi phản hồi

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 69 other followers

%d bloggers like this: